Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

Kiên quyết chống bệnh nói suông, phô trương hình thức

Trong việc đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, thì một công việc hệ trọng và thiết thực hiện nay là cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) phải thường xuyên học tập phong cách “Nói phải đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để từ đó luôn đề cao tinh thần tích cực hành động cách mạng vì nước, vì dân, vì lợi ích chung. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CB, ĐV hiện nay mắc phải căn bệnh “tự kiêu, tự đại” nên dẫn đến nói và làm không nhất quán, nói không đi đôi với làm, hứa nhiều làm ít, mà nguy hại hơn là nói một đằng, làm một nẻo. Đây là biểu hiện của sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải nhận diện, kiên quyết đấu tranh loại bỏ.

Nguy hại từ vỏ bọc trá hình

Bàn về vấn đề này, ông cha ta đã đúc kết “Nói chín thì nên làm mười/Nói mười làm chín kẻ cười người chê” nhằm để răn dạy thế hệ con cháu sau này biết được, tác hại của việc nói nhiều làm ít sẽ gây ra hệ lụy xấu. 

Thực tiễn cuộc sống hàng ngày cho thấy, những người giỏi giang sẽ không cần tự chứng minh vì mọi người đều hiểu, giống như “Cỏ dại ngẩng cao, lúa chín cúi đầu”, luôn thích hành động hơn là lời nói, âm thầm làm việc khi đại sự hoàn thành, người khác tự khắc công nhận. Đó chính là kiểu “Nói chín thì làm nên mười”. Tuy nhiên, nói đi đôi với làm không phải ai cũng có thể thực hiện trọn vẹn mọi nơi, mọi lúc cái điều mình đã nói. 

Bởi vì xuất phát từ đạo lý hảo tâm, thiện chí, có lúc chúng ta muốn làm hoặc hứa làm một điều tốt đẹp nào đó, nhưng rồi do điều kiện khách quan, chúng ta bỏ lỡ nên day dứt, ân hận vì không thực hiện được. Đây chính cũng chính là “Hành nan, ngôn dị” một tổng kết sâu sắc của ông cha ta nói về cái khó trong đạt tới sự nhất quán giữa nói và làm. Còn trong xã hội phong kiến xưa kia, các bậc quân tử luôn coi trọng ngũ thường là “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Trong đó, biểu hiện cốt lõi của chữ “tín” là “quân tử nhất ngôn; tứ mã nan truy”. Nghĩa là người quân tử chỉ nói một lời và khi đã nói, đã hứa thì không bao giờ thay đổi, đã nói là làm.

Nhắc lại điều đó để thấy rằng, thời nào cũng vậy, nói và làm đều là biểu tượng, hình ảnh, uy tín, danh dự tốt đẹp của mỗi chúng ta trong xã hội, do vậy phải đề cao, coi trọng và có trách nhiệm giữ gìn, bảo đảm thống nhất giữa lời nói và hành động. Nhất là trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, bất cứ lời nói, phát ngôn nào của CB, ĐV khi đã được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì những “lời hay ý đẹp” đều trở thành tiêu điểm của dư luận, đồng thời cũng là bằng chứng để người dân theo dõi, giám sát lời nói và việc làm xem có phù hợp, nhất quán với nhau hay không. 

Và ngược lại, nếu CB, ĐV chỉ nói suông và phô trương hình thức, thì sẽ để lại hậu quả, tác hại vô cùng nghiêm trọng, đó là làm phai nhạt niềm tin, bào mòn mối quan hệ máu thịt của quần chúng nhân dân với Đảng. Bài học đắt giá được dư luận nhắc tới nhiều như trường hợp ông Nguyễn Xuân Anh, cựu Bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Khi mới nhậm chức ông Nguyễn Xuân Anh đã có những phát ngôn làm nức lòng nhiều CB, ĐV, nhân dân địa phương và thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, như: “Không có quyền lực ngoài pháp luật”; “Tiết kiệm là vinh dự, lãng phí là xúc phạm đến lòng tin của dân, tham nhũng là có tội với nhân dân”… 

Thế nhưng ông Nguyễn Xuân Anh lại nói một đằng, làm một nẻo, để lại nhiều hệ lụy, tai tiếng cho cá nhân, gia đình ông và gây ra nhiều phiền toái cho cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và nhân dân địa phương. Trường hợp khác cũng được dư luận nhắc đến là ông Trương Minh Tuấn, cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Từng chủ biên cuốn sách “Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong CB, ĐV hiện nay”, nhưng chính ông lại có những hành vi vi phạm nghiêm trọng những điều đảng viên không được làm, vi phạm pháp luật Nhà nước.

Qua thực tiễn cho thấy, tổ chức, cá nhân nào mà mắc căn bệnh nói suông, phô trương hình thức sẽ gây ra hậu quả rất nguy hại. Cụ thể là thời gian qua báo chí đã phản ánh, nào là từ lễ hội, họp hành, đón tiếp khách, gặp mặt, liên hoan rầm rộ, tốn kém cả tiền bạc lẫn thời gian, ví như việc chia tay nguyên giám đốc CDC ở Quảng Ninh về nghỉ hưu gây xôn sao dư luận về sự xa hoa, tốn kém là một ví dụ điển hình; hay cho đến xây dựng trụ sở cơ quan hoành tráng, mua sắm xe công đắt tiền ở một huyện miền núi mà truyền thông đã đề cập. Ở phạm vi nhỏ hơn, trong một số gia đình CB, ĐV mắc căn bệnh phô trương, các công việc như ma chay, cưới hỏi, mừng thọ, mừng sinh nhật thường được tổ chức rình rang, linh đình gây bức xúc cho dư luận. Do đó, nói mà không đi đôi với làm, phô trương hình thức là nguyên nhân sinh ra bệnh tự kiêu, tự đại, dẫn đến suy thoái về phẩm chất đạo đức ở CB, ĐV.

Cách khắc phục thiết thực là tích cực học tập và làm theo Bác

Không phải sau này, mà ngay từ khi còn theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp ở thành phố Vinh, cậu bé Nguyễn Tất Thành đã thắc mắc tại sao thực dân Pháp rêu rao khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” mà lại đàn áp, bóc lột tàn nhẫn nhân dân Việt Nam? Người đã nung nấu ý tưởng được làm quen với nền văn minh Pháp để tìm hiểu xem đằng sau khẩu hiệu ấy ẩn giấu những gì? Vì thế, nước Pháp là điểm dừng chân đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước của Người.

Khi trực tiếp chứng kiến cuộc sống ở nước Pháp, Bác đã vô cùng thất vọng với một nền văn minh mà ở đó “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” chỉ dành cho giai cấp tư sản, còn các tầng lớp nhân dân lao động Pháp cũng bị bóc lột nặng nề, nghĩa là giữa khẩu hiệu và thực tế không thống nhất với nhau. Qua đó, Người đã lấy hình ảnh “con đỉa hai vòi” để gán cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Trong “Thư gửi các đồng chí Bắc bộ”, ngày 1/3/1947, Bác nêu rõ những khuyết điểm mà mỗi CB, ĐV phải kiên quyết tẩy sạch, đó là bệnh nói suông, “ham chuộng hình thức”. 

Bác thường xuyên phê phán nghiêm khắc căn bệnh tai hại này: “Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được; nghĩa là chỉ quen chỉ thị, quen đề xuất, nói rồi quên, nói cao giọng mà không tính đến các điều kiện thực tế, đến khả năng hành động, thực thi của chính mình. Hình như họ nói cốt để cho người khác làm, còn chính mình lại không quyết tâm theo đuổi, chỉ đạo thực hiện đến cùng một công việc nào đó. 

Thành ra, có nhiều chủ trương không đi vào cuộc sống, không đem lại chuyển biến đáng kể trong thực tế...”, đồng thời Bác nhắc nhở CB, ĐV phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và giữ vững “tính Đảng”. Muốn làm được điều đó, Bác cho rằng: “Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt: 1. Mình đối với mình. 2. Mình đối với người. 3. Mình đối với công việc”. Vì thế, thực hành “nói đi đôi với làm” cần phải được tiến hành nghiêm túc trong tất cả các quan hệ đó. Trong cuốn sách “Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ”, xuất bản năm 1973 cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bình sinh, Hồ Chủ tịch không thích hình thức, chống nói suông, và rất coi trọng việc làm thiết thực”.

Thế nên, để khắc phục tình trạng này, cần đẩy mạnh phong trào tự giác học tập và làm theo Bác về “nói đi đôi với làm” trong mỗi tổ chức Đảng và CB, ĐV là hết sức cần thiết, mà trước hết phải thực hiện từ tổ chức Đảng, từ người lãnh đạo đến CB, ĐV, phải đề cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình, xây dựng cho mình tác phong công tác sâu sát, gần gũi với nhân dân. Khi phát ngôn, nói năng phải cụ thể, dễ hiểu, thiết thực, bắt đầu từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. 

Chúng ta đều hiểu rằng, mỗi người, mỗi ngành, nghề, mỗi giới, các tầng lớp nhân dân đều có những công việc, nhiệm vụ cụ thể, nên CB, ĐV muốn lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền được, thì không thể đại khái, dẫn đến nói chung chung, ai cũng nói được, nghe thì hay, nhưng không biết thực hiện thế nào. Do đó, người đứng đầu tổ chức đảng, CB, ĐV phải sâu sát, nói đi đôi với làm, nói đúng và làm trước để nhân dân lấy đó làm gương noi theo. 

Để khắc phục tình trạng “nói suông và phô trương hình thức”, đối với mỗi CB, ĐV phải tích cực nghiên cứu, học tập lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng để có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm và chống chủ nghĩa cá nhân, tránh nói suông, đánh trống bỏ dùi. Đây là điều kiện tiên quyết làm cơ sở cho mỗi CB, ĐV nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để nói và thực hiện cho đúng, đồng thời tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân làm theo mới có hiệu quả.

Cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm

Tinh thần trách nhiệm là phẩm chất cao đẹp, CB, ĐV có tinh thần trách nhiệm là người luôn nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình, sẵn sàng phấn đấu, hy sinh cho lý tưởng cách mạng, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân mà trước hết là thực hiện tốt nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức phân công, thể hiện tốt chức trách của mình với đồng chí, đồng nghiệp, cơ quan, đoàn thể. Tuy nhiên, do thiếu tinh thần trách nhiệm nên dẫn đến một số CB, ĐV sợ sai, né tránh trách nhiệm, không có bản lĩnh, sáng tạo, làm việc cầm chừng, dễ làm khó bỏ, thành tích thì vơ cho mình, khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi cho người khác, nhiều quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước vì thế không đi vào cuộc sống. Đây chính là “U nhọt” trong cơ thể Đảng cần phải loại bỏ.

Không có trách nhiệm sẽ nảy sinh nhiều hệ lụy xấu

Trong cuộc sống cũng như trong công việc hằng ngày, không khó để nhận biết những CB, ĐV thiếu tinh thần trách nhiệm, nhất là những CB, ĐV là cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ trì cơ quan, đơn vị, tổ chức. Bởi vì, người cán bộ lãnh đạo, quản lý có trách nhiệm thường tích cực đi sâu, đi sát, lắng nghe ý kiến, tâm tư,nguyện vọng của quần chúng để tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nảy sinh, giải quyết triệt để những hạn chế, tồn tại của cơ quan, đơn vị mình. 

Đồng thời, luôn tích cực kiểm tra, đôn đốc cán bộ cấp dưới thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Ngược lại, nếu thiếu tinh thần trách nhiệm, những CB, ĐV này thường làm việc cầm chừng, không phân công, phân cấp rõ ràng, không tạo không gian, môi trường, điều kiện, cơ chế dân chủ để cho đồng chí, đồng nghiệp, cấp dưới đề xuất kiến nghị đưa ra những sáng kiến hoặc phát biểu trao đổi thảo luận đi đến tận cùng của vấn đề trước khi quyết định, rồi cấp dưới chưa phát biểu thì đã phủ đầu. Họ không tích cực chủ động, sáng tạo, dám thay đổi những điều chưa hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ dần dần dẫn tới bảo thủ, trì trệ. Nguy hiểm hơn khi thấy đơn vị mình có biểu hiện mất đoàn kết cũng không nhắc nhở xử lý từ sớm từ xa, mà thậm chí còn kích động dùng người này để kiểm soát người kia, “Tọa sơn quan hổ đấu”, các chú cứ mất đoàn kết với nhau đi rồi lúc đấy anh xử lý kỷ luật.

Chúng ta đều biết, một trong những phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng, là muốn lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả thì đương nhiên đi cùng với đó là phải kiểm tra, kiểm soát. Người chủ trì, đứng đầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng vậy, muốn công việc, nhiệm vụ của đơn vị mình hoàn thành tốt, thì trong bất kỳ công việc gì dù lớn hay nhỏ, dễ hay khó, khi giao việc cho cấp dưới đều phải định hướng, hướng dẫn, chỉ ra phương pháp tiếp cận như thế nào và tạo điều kiện để cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ. 

Cùng với đó, là tăng cường kiểm tra, giám sát, khi thấy cấp dưới gặp khó khăn, vướng mắc cần một niềm tin, cần một sự động viên, cần một chỗ dựa tin cậy về mặt chính trị thì người chủ trì phải tỏ rõ tinh thần trách nhiệm, cảm thông, đồng cảm, sẻ chia, cùng chung tay gánh vác, tháo gỡ khó khăn cho cấp dưới, đó chính là phong cách lãnh đạo, là đạo đức, văn hóa công vụ như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở CB, ĐV: “Phải thương yêu đồng chí, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Tuy nhiên, đối với những CB, ĐV thiếu tinh thần trách nhiệm, họ không quan tâm chia sẻ, luôn mang tư tưởng giao việc cho cấp dưới là “xong nhiệm vụ”, né tránh trách nhiệm, tội vạ do cấp dưới chịu, chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân; không chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu khi giải quyết công việc liên quan đến tổ chức và nhân dân, gây ra nhiều hệ lụy xấu, làm tổn hại nghiêm trọng cho nền đạo đức công vụ là văn hóa phục vụ nhân dân của Đảng. 

Và thực tế những năm qua, đã có hàng trăm CB, ĐV thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống đã bị kỷ luật, trong đó, có cả những đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo thiếu gương mẫu, đạo đức, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cá nhân chủ nghĩa, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao và phải chịu các hình thức kỷ luật đảng như cảnh cáo, cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng; bị pháp luật trừng trị, khởi tố, bắt giam. 

Cụ thể từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật hơn 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của người CB, ĐV đối với công việc để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm của CB, ĐV ngay từ khi mới phát sinh.

Khắc phục theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đối với CB, ĐV, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm”. Người giải thích: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm”.

Do đó, mỗi CB, ĐV khi thực thi nhiệm vụ cần phải gương mẫu về đạo đức, tự giác tuân thủ kỷ luật, giữ vững nền nếp công tác, tránh được những cám dỗ tầm thường. Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ phụ trách phải theo đường lối chung nhưng cũng phải suy nghĩ tìm tòi, có những sáng kiến riêng của mình, theo tinh thần “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, như thế công việc mới “chạy” được. Mọi người cần đoàn kết thân mật, hợp tác chặt chẽ như tay với chân thì công việc mới hoàn thành được. 

Bác chỉ rõ: “Đối với đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị”. Nếu trong một tập thể mà các thành viên có thành kiến với nhau, dè dặt, đối phó với nhau, kèn cựa lẫn nhau thì “nó làm cho trống đánh xuôi kèn thổi ngược, nó làm cho công tác bị tê liệt, hư hỏng”. 

Tuy nhiên, thân ái, hợp tác ở đây không phải là bao che khuyết điểm cho đồng nghiệp mà để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm kỷ luật trong thi hành công vụ và trong cuộc sống. Đồng thời, Bác cũng nhắc nhở chúng ta: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. 

Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”. Vậy nên trước khi đi xa, trong Di chúc Bác vẫn đau đáu căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, nhắc nhở mỗi CB, ĐV phải “Trung với nước, hiếu với dân”, “luôn yêu thương con người”. Đó chính là phẩm chất đạo đức cộng sản của người cán bộ chân chính.

Hiện nay, trong quá trình thực thi nhiệm vụ, một số nhân tố khách quan và chủ quan đã tác động gây ra tình trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận CB, ĐV làm giảm lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực thi công vụ. Do đó, mỗi CB, ĐV, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp phải quán triệt sâu sắc, nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của CB, ĐV là “công bộc của nhân dân”, kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, cửa quyền, mệnh lệnh hành chính, xa rời quần chúng và thực tế công việc; nâng cao tinh thần trách nhiệm, chống biểu hiện thờ ơ, vô cảm khi tiếp xúc, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công cho tổ chức, cá nhân và trước khó khăn của nhân dân.

 Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thường xuyên kiểm tra, giám sát, tạo chuyển biến rõ nét về tác phong, thái độ của đội ngũ CB, ĐV trong thực thi công vụ, nhất là trên các lĩnh vực thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Đối với CB, ĐV phải là người tiên phong, gương mẫu, đi đầu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực, luôn bám sát thực tiễn, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đồng thời tích lũy kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng công tác, rèn luyện bản lĩnh và năng lực lãnh đạo, quản lý, khả năng hợp tác, tổ chức thực hiện và sự chịu trách nhiệm; kiên quyết và kiên trì trong cuộc đấu tranh chống lại những biểu hiện sai trái, tiêu cực.

Nhận diện căn bệnh tham lam, kiêu ngạo, hiếu danh

Người được cất nhắc, bầu vào vị trí lãnh đạo sẽ có cơ hội lớn tiến bộ, trưởng thành, mang tài trí của mình để phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân. Nhưng trước những cám dỗ của đồng tiền, quyền uy, một số cán bộ, đảng viên đã  suy thoái, biến chất, đi vào con đường ăn chơi sa đọa. Đó là mầm mống của bệnh tham lam, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra. Hiện nay, nhận diện, phòng và chống các bệnh trên cũng chính là xây dựng và bảo vệ Đảng.

Biểu hiện của tham lam, kiêu ngạo, hiếu danh

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những căn bệnh của đảng viên “có chức, có quyền” như: Bệnh tham lam, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc lãnh tụ... Trong đó, về bệnh kiêu ngạo, hiếu danh, Người phân tích: "Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ "tự tư tự lợi". Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình... Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình".

Không chỉ mắc vào thói ăn chơi, đua đòi, một số cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vun vén lợi ích cho gia đình, người thân. Dùng quyền lực để chèn ép dân lành, làm những điều sai trái. Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ rõ một số cán bộ “vì tư thù tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm cho dân oán thán”, họ coi mình là quan cách mạng, ỷ thế, cậy quyền: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân”. Vì đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể nên ở nhiều cơ quan, đơn vị xảy ra tình trạng mất đoàn kết, phe cánh, đấu đá lẫn nhau, và hậu quả lại là người dân hứng chịu. 

Trong giai đoạn hiện nay, biểu hiện rõ nhất của bệnh tham lam, kiêu ngạo, hiếu danh là tham vọng quyền lực. Trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng gần đây đã đề cập nhiều kiểu “chạy” thể hiện rất rõ căn bệnh này như: Chạy tuổi, chạy chức, chạy quyền, chạy luân chuyển, chạy quy hoạch, chạy việc, chạy vào chỗ có liên quan đến vật chất để hòng lợi dụng thu vén cá nhân... Người tham vọng quyền lực thì họ cũng dễ mắc vào các kiểu “chạy” để được đề bạt, bổ nhiệm vào những chức vụ trong hệ thống chính trị, đặc biệt là những chức vụ liên quan nhiều đến lợi ích vật chất. Người kiêu ngạo, hiếu danh còn khuếch đại, phô trương công trạng của mình để tìm mọi cách để đưa những người trong gia đình, những bè bạn, những người cùng cánh hẩu, nghĩa là những người thân tín, vào nắm giữ các chức vụ ở các cấp. Do đó, hình thành các nhóm lợi ích, mà thực chất là cũng chỉ mưu cho lợi ích cá nhân. 

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã chỉ ra rất nhiều biểu hiện về tham vọng quyền lực. Cụ thể là: “Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh”; “tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích”; “kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng”, “háo danh”; “thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”.

Chặn đứng tham vọng quyền lực

Để chữa bệnh tham lam, kiêu ngạo, hiếu danh, trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”. 

Vận dụng trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, để ngăn chặn tham vọng quyền lực một cách hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, trước hết là sự tự giác, tự tu dưỡng, rèn luyện của từng cá nhân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng; khiêm tốn, thật thà, không được đố kỵ, luôn luôn tự răn mình, tự hạ mình xuống thấp hơn tổ chức Đảng và nhân dân.

Cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII cũng chỉ rõ: Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức, cách chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu.

Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, lựa chọn người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng, vừa chuyên, có tâm, có tầm, chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng. Cùng với đó, công tác cán bộ phải được công khai để dân biết, dân bàn, dân kiểm tra và giám sát. Khi quy hoạch và lựa chọn cán bộ, lựa chọn nhân sự cần các kênh giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội… Đồng thời, thông qua các cơ quan kiểm tra, cơ quan thanh tra, ủy ban kiểm tra các cấp rà soát, phát hiện xem cán bộ có đủ các tiêu chuẩn không, kiên quyết không để những người có tham vọng quyền lực vào các cơ quan của Đảng và Nhà nước.

Đề phòng sang chấn tâm lý trong quản lý tư tưởng bộ đội

Theo y học thì sang chấn tâm lý (hay còn gọi là tổn thương tâm lý) là dạng tổn thương về mặt tâm trí, khi con người trải qua tình huống căng thẳng, quá tải về trí tuệ và tinh thần, rối loạn, stress. Biểu hiện cụ thể, luôn cảm thấy lo lắng, bất an trước mọi sự việc, hay giận dữ với mọi người xung quanh, không quan tâm và mất lòng tin vào người khác. Dưới ảnh hưởng của trạng thái này, các hành vi xã hội của con người thường lệch chuẩn, năng lượng và khả năng linh hoạt cá nhân giảm đến mức tối đa và cuối cùng có thể đẩy con người tới các hành vi dại dột, liều lĩnh. Vì vậy, đề phòng “sang chấn tâm lý” cho bộ đội là một yêu cầu khách quan, góp phần cho đơn vị ổn định tư tưởng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. 

Nguyên nhân và những biểu hiện

Hoàn cảnh sống phức tạp đã và đang hiện hữu, tác động đối với một bộ phận giới trẻ hiện nay là lối sống “ảo”, sống thực dụng, luôn đặt cao vấn đề vật chất lên trên, sống không có tình cảm và quan tâm đến người khác, luôn giành những gì có lợi cho mình, bất chấp đó là hành động đúng hay sai. Trong suy nghĩ thường mơ mộng hão huyền muốn có gia tài, sự nghiệp lớn nhưng bản thân thì sợ cực khổ, sợ khó khăn, tiếp cận công việc gì mới thấy khó là bỏ cuộc, thụ động ngồi chờ giao việc gì thì làm việc ấy, không chủ động tiếp cận công việc, học hỏi người đi trước để trau rồi kiến thức, kinh nghiệm. Có nhiều nguyên dân dẫn đến lối sống nêu trên, như: Môi trường giáo dục còn chưa chú trọng đến đạo đức, nhân cách, kĩ năng sống; gia đình thiếu sát sao, hoặc bao bọc, quan tâm thái quá; ảnh hưởng từ mặt trái của cơ chế thị trường…Và trong số đó, có một phận giới trẻ hằng năm sẽ được tuyển vào quân đội, để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Đây là thách thức đặt ra trong công tác quản lý, huấn luyện, rèn luyện, giáo dục bộ đội.

Chúng ta đều biết, môi trường quân đội là môi trường lao động đặc thù, với các hoạt động huấn luyện, SSCĐ, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng chống dịch bệnh, thường diễn ra trong điều kiện khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thậm chí phải hy sinh cả tính mạng khi thực hiện nhiệm vụ. Nên đòi hỏi mỗi người chiến sĩ phải hội đủ các yếu tố như bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống tốt, có năng lực, trình độ, phương pháp, tác phong công tác khoa học, tích cực, tự giác phấn đấu rèn luyện mới hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thực tiễn trong môi trường quân đội hiện nay cho thấy, đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ luôn được đảm bảo và ngày càng nâng cao chất lượng. Tuy nhiên, để hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải tiêu tốn rất nhiều thể lực và trí lực, mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cùng với đó, nếu so sánh với các ngành nghề bên ngoài, thì thời gian nghỉ ngơi, thư giãn của bộ đội vẫn eo hẹp hơn. Đó là còn chưa kể đến thường xuyên phải thay đổi về cường độ và nhịp độ lao động, khi đơn vị tiến hành hội thao, diễn tập, hành quân dã ngoại. Cùng với đó, là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm “phi chính trị hóa quân đội”, bằng cách cổ vũ lối sống buông thả, tự do, vô kỷ luật. Trong trạng thái ấy, nếu bộ đội lại bị tác động quá mạnh, đột ngột, bởi tình cảm tiêu cực, biến cố từ phía gia đình, bạn bè, người yêu; đặc biệt là cán bộ trực tiếp quản lý, huấn luyện, thiếu gần gũi, bám nắm, kịp thời động viên bộ đội, mà lại thích mệnh lệnh, gia trưởng, quân phiệt, thì bộ đội rất dễ sang chấn, tổn thương tâm lý, nảy sinh trạng thái stress, dẫn đến “chán nản”, “hẫng hụt”. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến vi phạm kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ trong thời gian qua, như: Vi phạm nền nếp, chế độ, đào bỏ ngũ, cắm ký vay quá khả năng trả nợ, tự sát…, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác huấn luyện, quản lý giáo dục bộ đội và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Có nhiều cách xem xét, đánh giá về mức độ, hành vi vi phạm kỷ luật ở từng cấp độ khác nhau, cách giải quyết cũng khác nhau. Nhưng xét về mặt tổng thể, thì tựu chung lại, lí do chủ yếu, vẫn là phần đông thanh niên nhập ngũ vào quân đội, tuổi còn trẻ chưa có nhiều trải nghiệm, nên khi gặp khó khăn, thất bại thường dễ bị rối loạn về tinh thần, khủng hoảng tâm lý, làm “lệch chuẩn về nhận thức, nhận thức giản đơn”, dẫn đến hành động sai trái. 
Và thực tiễn cho thấy, hậu quả của sang chấn tâm lý là một hiện tượng khá phức tạp, có khi “bột phát”, có khi tiềm ẩn kéo dài. Một số tổn thương tâm lý bộc lộ rõ ra ngoài, số khác chỉ là chịu đựng âm thầm bên trong cảm xúc thua thiệt, “thất bại”. Biểu hiện phổ biến nhất của chiến sĩ bị sang chấn tâm lý thường lo âu và chán nản kéo dài, ngại tiếp xúc với chỉ huy và với bạn bè, tỏ ra không vừa lòng với mọi thứ, ăn không ngon, ngủ thiếu yên giấc, rất nhạy cảm với thông tin xung quanh, hay vơ những câu nói của người khác về mình, cáu gắt thất thường. Do đó, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ trực tiếp quản lý cấp phân đội cần nắm chắc diễn biến tâm lý của bộ đội, để kịp thời phát hiện chiến sĩ có biểu hiện bị tổn thương tâm lý và tìm các biện pháp giải tỏa hiệu quả.

Tăng giáo dục, khắc phục gia trưởng, quân phiệt

Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ trung, cao cấp quân đội, tháng 11 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ và chiến sĩ đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định vượt được khó khăn, sửa được sai lầm, giành được thắng lợi”. Do đó, đòi hỏi cán bộ cấp phân đội là người trực tiếp huấn luyện, rèn luyện và quản lý bộ đội, không chỉ gương mẫu thực hiện tốt việc “4 cùng”, là cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng với bộ đội, mà còn phải đề cao giáo dục, lấy giáo dục thuyết phục nêu gương là phương thức cơ bản để cảm hóa bộ đội. Đồng thời, tích cực chống các biểu hiện quân phiệt, gia trưởng gây ra nhiều hệ lụy, như mất dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, tạo tâm lý hoang mang “lệch chuẩn”, dẫn đến các hành vi cực đoan như tự sát, tự thương, ảnh hưởng đến chất lượng công tác và chấp hành kỷ luật của bộ đội.
Để thực hiện tốt yêu cầu này, đội ngũ cán bộ quản lý cấp phân đội cần chủ động, sâu sát, bám nắm bộ đội, tạo môi trường văn hóa lành mạnh phong phú, trong đó chú trọng các hình thức giáo dục cảm hóa, thuyết phục, nhất là xây dựng cho bộ đội động cơ phấn đấu rõ ràng. Bởi vì, tuổi trẻ là tuổi của ước mơ và hy vọng, tuổi của rất nhiều các dự định về cuộc sống hiện tại và tương lai. Cho nên, rất cần sự nâng đỡ về mặt tinh thần và sự gia tăng thời lượng giáo dục về mục tiêu lý tưởng sống nhằm xây dựng cho bộ đội cách sống và sinh hoạt phù hợp. Như thông qua công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, giáo dục truyền thống, sinh hoạt học tập của tổ chức Đoàn, hội đồng quân nhân, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục-thể thao, giao lưu kết nghĩa, để làm cho mỗi quân nhân nhận thức được rằng, những ngày sống và phục vụ trong quân đội có liên quan đến toàn bộ bề rộng và chiều sâu của hiện thực đời người. Khêu gợi cho chiến sĩ biết tự đánh giá lại những gì không đạt được của bản thân, tránh sự ân hận hoặc nuối tiếc kéo dài để làm giảm ý nghĩa của những gì đã hướng tới mà không thành công. Cũng như cho bộ đội thấy được rèn luyện trong môi trường quân đội là quãng thời gian quý giá để tuổi trẻ tôi luyện về nhân cách, là thời cơ tốt để chuẩn bị cho việc thực hiện những ước mơ và dự định của tương lai. 

Khi đơn vị xảy ra sự việc, phải hết sức bình tĩnh, thận trọng để xử lý các tình huống phức tạp trong quan hệ nội bộ; tối kỵ trong tập thể sự khích bác, đàm tiếu và xa lánh những chiến sĩ mắc phải sai lầm, khuyết điểm, những chiến sĩ cá biệt chậm tiến. Khi phát hiện chiến sĩ có dấu hiệu bị tổn thương tâm lý, phải thường xuyên gần gũ,i quan tâm, theo dõi, giúp đỡ, động viên khích lệ, đưa họ vào các hoạt động, sinh hoạt bình thường, giúp đỡ họ giải quyết các khúc mắc, khó khăn. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý con người, vũ khí, cơ sở vật chất, các giấy tờ tùy thân của quân nhân theo đúng quy định. Duy trì thực hiện nghiêm các quy định về đảm bảo an toàn, hạn chế thấp nhất các vụ tai nạn trong huấn luyện, học tập, công tác, lao động và tai nạn rủi ro gây hậu quả nghiêm trọng. Khi thực hiện nhiệm vụ ngoài doanh trại, cần quản lý chặt chẽ vũ khí, trang bị, phương tiện, nhất là trong giờ nghỉ, ngày nghỉ, tránh để xảy ra các vụ việc chiếm đoạt vũ khí, vật liệu nổ và các vi phạm khác.

Chủ nghĩa cá nhân: “Kẻ thù” của quân đội

Những tác động và sự nguy hại 

Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, một số ít quân nhân không giữ được mình, đã sa vào chủ nghĩa cá nhân, biểu hiện rõ nhất là phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, kỷ luật của Quân đội; sa sút ý chí phấn đấu, không phục tùng mệnh lệnh, không gương mẫu trong công tác, thiếu tính kỷ luật và chấp hành kỷ luật không nghiêm. Điều này không chỉ làm phai nhạt hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ngay từ cơ sở.

Đặc điểm chung của những quân nhân khi sa vào chủ nghĩa cá nhân, là thường không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; cụ thể là thích phán xét, soi mói đến hoạt động của cá nhân và tập thể đơn vị, đặc biệt là so sánh sự quan tâm đến chế độ chính sách, duy trì nền nếp chế độ của người chỉ huy, ví như “Anh A trước đây làm chỉ huy đơn vị rất quan tâm đến đời sống cán bộ, chiến sĩ, ngày lễ, ngày tết đều có quà cáp, rồi tạo điều kiện cho các gia đình đi tham quan, nghỉ mát. Còn anh B bây giờ làm chỉ huy đơn vị thì không làm được như thế, chỉ có công việc đặt lên hàng đầu”; hay ngại khó, ngại khổ khi phân công công tác xa nhà...

Vậy đấy, khi những nhu cầu mong muốn theo lối suy nghĩ chủ quan của cá nhân không đạt được, là nảy sinh ra sự ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, lâu dần hình thành nên tư duy thực dụng, lối sống theo chủ nghĩa cá nhân. Vậy nên mới có những biểu hiện tham ô, ăn chặn tiêu chuẩn của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều. Bớt xén kinh phí huấn luyện, xây dựng đơn vị làm quỹ riêng, lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý xâm phạm tiêu chuẩn của bộ đội bất chấp tất cả, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ, thiếu tác phong sâu sát, cụ thể, chỉ đạo công tác chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính, tự do tùy tiện trong công tác, bê tha trong sinh hoạt, lười biếng, thiếu trách nhiệm. 

Điển hình như một số tướng lĩnh thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam... sa vào chủ nghĩa cá nhân, chỉ lo cho bản thân “vinh thân, phì gia”, dẫn đến vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước, gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sự tin yêu của nhân dân với Quân đội. Bên cạnh đó, những vụ vi phạm kỷ luật trong quan hệ quân-dân, quan hệ của cán bộ với chiến sĩ, giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, rồi mất an toàn giao thông, vay nợ không có khả năng chi trả... ở một số cơ quan, đơn vị cũng là mảnh đất màu mỡ dung dưỡng cho chủ nghĩa cá nhân phát triển, làm cho Quân đội mất dần tính cách mạng, tính Đảng, tính nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Quân đội, lực lượng chính trị trung thành chiến đấu bảo vệ Đảng và chế độ. 

Những biểu hiện trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nó không chỉ đối lập với phẩm chất tốt đẹp của những người quân nhân cách mạng đầy nhiệt huyết, dũng cảm trong chiến đấu, công tác, mà còn làm tổn hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân, gây chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, làm mất dân chủ trong cơ quan, đơn vị.

Xác định rõ tiêu chí để thực hiện

“Bộ đội Cụ Hồ”, danh hiệu cao quý được nhân dân suy tôn và trao tặng cho cán bộ, chiến sĩ của Quân đội ta, gắn với hình ảnh mẫu mực, trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện bản chất cách mạng của quân đội kiểu mới, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự yêu thương, đùm bọc của nhân dân, trở thành biểu tượng của niềm tin đối với các thế hệ con người Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của đất nước. Do đó, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân cũng là “cụm từ” nổi bật trong Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương và điều này có liên hệ mật thiết rất gần gũi với tư tưởng đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đúng với tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Quân đội phải thật sự trong sạch trong nội bộ, đi đầu trong đấu tranh chống tiêu cực, chống chủ nghĩa cá nhân”.

Vì vậy, trên cơ sở các giá trị, chuẩn mực nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” đã định hình trong những năm qua, trước yêu cầu của thời kỳ mới, “chìa khóa” để giúp cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân hiện nay, đó là 6 nhiệm vụ, giải pháp được nêu trong Nghị quyết 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương. Xét về bản chất, nguyên nhân sâu xa của chủ nghĩa cá nhân nảy sinh, xuất phát từ những nhận thức sai trái, lệch lạc của mỗi quân nhân. Vì vậy, giải pháp nền tảng, xuyên suốt là thường xuyên giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thực sự giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cách mạng; luôn thấm sâu trong nhận thức rằng: Giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân vừa là trách nhiệm của thế hệ hôm nay với những cống hiến, hy sinh to lớn của thế hệ cha anh đi trước, vừa là nhu cầu khẳng định bản thân cũng như giá trị của “Bộ đội Cụ Hồ” trong xã hội hiện nay. 

Để đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp cần nhận thức đúng và coi trọng lãnh đạo thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với tinh thần đổi mới, sáng tạo, thực chất. Nội dung giáo dục phải toàn diện, song cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi là: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng cách mạng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người quân nhân cách mạng. Trong tiến hành giáo dục phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, sinh động, phù hợp với từng đối tượng. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với nắm bắt tư tưởng, kịp thời phát hiện, giải quyết từ gốc những vấn đề nảy sinh, đặc biệt là tư tưởng bất mãn, dao động.

Cùng với đó, trên cơ sở 10 biểu hiện về chủ nghĩa cá nhân được Quân ủy Trung ương chỉ ra, các cấp ủy, tổ chức Đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải xây dựng, đề ra các tiêu chí cụ thể hóa tiêu chuẩn “Bộ đội Cụ Hồ” sát hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, như chỉ huy phải có kế hoạch thực hiện, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải có bản cam kết phấn đấu và được đánh giá hàng tuần, từ đó làm cơ sở cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị chủ động đấu tranh, khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Đồng thời lấy đó là một trong những tiêu chí để đánh giá, phân loại, bình xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ đơn vị. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài; “chống”, đấu tranh, phòng, chống, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, là công việc thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày”.

Do đó, Ủy ban kiểm tra các cấp chủ động đưa nội dung phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân thành một nội dung trong kế hoạch kiểm tra, giám sát đảng viên hàng năm, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhất là giám sát thường xuyên và tiến hành sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình tiên tiến trong quá trình thực hiện. Có như vậy, chủ nghĩa cá nhân mới không có cơ hội nảy sinh trong môi trường quân đội.

Kiên quyết chống bệnh nói suông, phô trương hình thức

Trong việc đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, thì một công việc hệ trọng và thiết thực hiện nay là cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) phải thường xuyên học tập phong cách “Nói phải đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để từ đó luôn đề cao tinh thần tích cực hành động cách mạng vì nước, vì dân, vì lợi ích chung. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CB, ĐV hiện nay mắc phải căn bệnh “tự kiêu, tự đại” nên dẫn đến nói và làm không nhất quán, nói không đi đôi với làm, hứa nhiều làm ít, mà nguy hại hơn là nói một đằng, làm một nẻo. Đây là biểu hiện của sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải nhận diện, kiên quyết đấu tranh loại bỏ.

Nguy hại từ vỏ bọc trá hình

Bàn về vấn đề này, ông cha ta đã đúc kết “Nói chín thì nên làm mười/Nói mười làm chín kẻ cười người chê” nhằm để răn dạy thế hệ con cháu sau này biết được, tác hại của việc nói nhiều làm ít sẽ gây ra hệ lụy xấu. 

Thực tiễn cuộc sống hàng ngày cho thấy, những người giỏi giang sẽ không cần tự chứng minh vì mọi người đều hiểu, giống như “Cỏ dại ngẩng cao, lúa chín cúi đầu”, luôn thích hành động hơn là lời nói, âm thầm làm việc khi đại sự hoàn thành, người khác tự khắc công nhận. Đó chính là kiểu “Nói chín thì làm nên mười”. Tuy nhiên, nói đi đôi với làm không phải ai cũng có thể thực hiện trọn vẹn mọi nơi, mọi lúc cái điều mình đã nói. 

Bởi vì xuất phát từ đạo lý hảo tâm, thiện chí, có lúc chúng ta muốn làm hoặc hứa làm một điều tốt đẹp nào đó, nhưng rồi do điều kiện khách quan, chúng ta bỏ lỡ nên day dứt, ân hận vì không thực hiện được. Đây chính cũng chính là “Hành nan, ngôn dị” một tổng kết sâu sắc của ông cha ta nói về cái khó trong đạt tới sự nhất quán giữa nói và làm. Còn trong xã hội phong kiến xưa kia, các bậc quân tử luôn coi trọng ngũ thường là “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Trong đó, biểu hiện cốt lõi của chữ “tín” là “quân tử nhất ngôn; tứ mã nan truy”. Nghĩa là người quân tử chỉ nói một lời và khi đã nói, đã hứa thì không bao giờ thay đổi, đã nói là làm.

Nhắc lại điều đó để thấy rằng, thời nào cũng vậy, nói và làm đều là biểu tượng, hình ảnh, uy tín, danh dự tốt đẹp của mỗi chúng ta trong xã hội, do vậy phải đề cao, coi trọng và có trách nhiệm giữ gìn, bảo đảm thống nhất giữa lời nói và hành động. Nhất là trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, bất cứ lời nói, phát ngôn nào của CB, ĐV khi đã được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì những “lời hay ý đẹp” đều trở thành tiêu điểm của dư luận, đồng thời cũng là bằng chứng để người dân theo dõi, giám sát lời nói và việc làm xem có phù hợp, nhất quán với nhau hay không. 

Và ngược lại, nếu CB, ĐV chỉ nói suông và phô trương hình thức, thì sẽ để lại hậu quả, tác hại vô cùng nghiêm trọng, đó là làm phai nhạt niềm tin, bào mòn mối quan hệ máu thịt của quần chúng nhân dân với Đảng. Bài học đắt giá được dư luận nhắc tới nhiều như trường hợp ông Nguyễn Xuân Anh, cựu Bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Khi mới nhậm chức ông Nguyễn Xuân Anh đã có những phát ngôn làm nức lòng nhiều CB, ĐV, nhân dân địa phương và thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, như: “Không có quyền lực ngoài pháp luật”; “Tiết kiệm là vinh dự, lãng phí là xúc phạm đến lòng tin của dân, tham nhũng là có tội với nhân dân”… 

Thế nhưng ông Nguyễn Xuân Anh lại nói một đằng, làm một nẻo, để lại nhiều hệ lụy, tai tiếng cho cá nhân, gia đình ông và gây ra nhiều phiền toái cho cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và nhân dân địa phương. Trường hợp khác cũng được dư luận nhắc đến là ông Trương Minh Tuấn, cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Từng chủ biên cuốn sách “Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong CB, ĐV hiện nay”, nhưng chính ông lại có những hành vi vi phạm nghiêm trọng những điều đảng viên không được làm, vi phạm pháp luật Nhà nước.

Qua thực tiễn cho thấy, tổ chức, cá nhân nào mà mắc căn bệnh nói suông, phô trương hình thức sẽ gây ra hậu quả rất nguy hại. Cụ thể là thời gian qua báo chí đã phản ánh, nào là từ lễ hội, họp hành, đón tiếp khách, gặp mặt, liên hoan rầm rộ, tốn kém cả tiền bạc lẫn thời gian, ví như việc chia tay nguyên giám đốc CDC ở Quảng Ninh về nghỉ hưu gây xôn sao dư luận về sự xa hoa, tốn kém là một ví dụ điển hình; hay cho đến xây dựng trụ sở cơ quan hoành tráng, mua sắm xe công đắt tiền ở một huyện miền núi mà truyền thông đã đề cập. Ở phạm vi nhỏ hơn, trong một số gia đình CB, ĐV mắc căn bệnh phô trương, các công việc như ma chay, cưới hỏi, mừng thọ, mừng sinh nhật thường được tổ chức rình rang, linh đình gây bức xúc cho dư luận. Do đó, nói mà không đi đôi với làm, phô trương hình thức là nguyên nhân sinh ra bệnh tự kiêu, tự đại, dẫn đến suy thoái về phẩm chất đạo đức ở CB, ĐV.

Cách khắc phục thiết thực là tích cực học tập và làm theo Bác

Không phải sau này, mà ngay từ khi còn theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp ở thành phố Vinh, cậu bé Nguyễn Tất Thành đã thắc mắc tại sao thực dân Pháp rêu rao khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” mà lại đàn áp, bóc lột tàn nhẫn nhân dân Việt Nam? Người đã nung nấu ý tưởng được làm quen với nền văn minh Pháp để tìm hiểu xem đằng sau khẩu hiệu ấy ẩn giấu những gì? Vì thế, nước Pháp là điểm dừng chân đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước của Người.

Khi trực tiếp chứng kiến cuộc sống ở nước Pháp, Bác đã vô cùng thất vọng với một nền văn minh mà ở đó “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” chỉ dành cho giai cấp tư sản, còn các tầng lớp nhân dân lao động Pháp cũng bị bóc lột nặng nề, nghĩa là giữa khẩu hiệu và thực tế không thống nhất với nhau. Qua đó, Người đã lấy hình ảnh “con đỉa hai vòi” để gán cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Trong “Thư gửi các đồng chí Bắc bộ”, ngày 1/3/1947, Bác nêu rõ những khuyết điểm mà mỗi CB, ĐV phải kiên quyết tẩy sạch, đó là bệnh nói suông, “ham chuộng hình thức”. 

Bác thường xuyên phê phán nghiêm khắc căn bệnh tai hại này: “Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được; nghĩa là chỉ quen chỉ thị, quen đề xuất, nói rồi quên, nói cao giọng mà không tính đến các điều kiện thực tế, đến khả năng hành động, thực thi của chính mình. Hình như họ nói cốt để cho người khác làm, còn chính mình lại không quyết tâm theo đuổi, chỉ đạo thực hiện đến cùng một công việc nào đó. 

Thành ra, có nhiều chủ trương không đi vào cuộc sống, không đem lại chuyển biến đáng kể trong thực tế...”, đồng thời Bác nhắc nhở CB, ĐV phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và giữ vững “tính Đảng”. Muốn làm được điều đó, Bác cho rằng: “Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt: 1. Mình đối với mình. 2. Mình đối với người. 3. Mình đối với công việc”. Vì thế, thực hành “nói đi đôi với làm” cần phải được tiến hành nghiêm túc trong tất cả các quan hệ đó. Trong cuốn sách “Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ”, xuất bản năm 1973 cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bình sinh, Hồ Chủ tịch không thích hình thức, chống nói suông, và rất coi trọng việc làm thiết thực”.

Thế nên, để khắc phục tình trạng này, cần đẩy mạnh phong trào tự giác học tập và làm theo Bác về “nói đi đôi với làm” trong mỗi tổ chức Đảng và CB, ĐV là hết sức cần thiết, mà trước hết phải thực hiện từ tổ chức Đảng, từ người lãnh đạo đến CB, ĐV, phải đề cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình, xây dựng cho mình tác phong công tác sâu sát, gần gũi với nhân dân. Khi phát ngôn, nói năng phải cụ thể, dễ hiểu, thiết thực, bắt đầu từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. 

Chúng ta đều hiểu rằng, mỗi người, mỗi ngành, nghề, mỗi giới, các tầng lớp nhân dân đều có những công việc, nhiệm vụ cụ thể, nên CB, ĐV muốn lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền được, thì không thể đại khái, dẫn đến nói chung chung, ai cũng nói được, nghe thì hay, nhưng không biết thực hiện thế nào. Do đó, người đứng đầu tổ chức đảng, CB, ĐV phải sâu sát, nói đi đôi với làm, nói đúng và làm trước để nhân dân lấy đó làm gương noi theo. 

Để khắc phục tình trạng “nói suông và phô trương hình thức”, đối với mỗi CB, ĐV phải tích cực nghiên cứu, học tập lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng để có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm và chống chủ nghĩa cá nhân, tránh nói suông, đánh trống bỏ dùi. Đây là điều kiện tiên quyết làm cơ sở cho mỗi CB, ĐV nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để nói và thực hiện cho đúng, đồng thời tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân làm theo mới có hiệu quả.

Hoàn thành nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ

- Dân quân tự vệ đã phục vụ đủ thời hạn theo quy định được công nhận hoàn thành nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ (Thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ tại chỗ, Dân quân tự vệ cơ động, Dân quân tự vệ biển, Dân quân tự vệ phòng không, pháo binh, trinh sát, thông tin, công binh, phòng hóa, y tế là 04 năm; dân quân thường trực là 02 năm. Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, quân sự của địa phương, cơ quan, tổ chức, thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ được kéo dài nhưng không quá 02 năm; đối với dân quân biển, tự vệ và chỉ huy đơn vị Dân quân tự vệ được kéo dài hơn nhưng không quá độ tuổi nêu trên).

- Công dân đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ nhưng còn trong độ tuổi tham gia DQTV trong thời bình (Công dân nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, công dân nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40 tuổi có nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ; nếu tình nguyện tham gia Dân quân tự vệ thì có thể kéo dài đến hết 50 tuổi đối với nam, đến hết 45 tuổi đối với nữ) thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức đăng ký, quản lý để sẵn sàng mở rộng lực lượng Dân quân tự vệ./.