Thứ Năm, 5 tháng 10, 2023

 

PHÁT HUY PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" - YÊU CẦU QUAN TRỌNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ

Từ lâu trong lịch sử, dân tộc ta luôn duy trì một truyền thống đẹp - đặt tên để ghi nhớ, tôn vinh những người có công với dân, với nước. “Bộ đội Cụ Hồ” cũng là một cái tên như thế và còn hơn thế nữa, bởi cái tên đó đã vượt qua ý nghĩa của một danh xưng thông thường để trở thành một kiểu mẫu nhân cách người lính của nhân dân (Bộ đội), nhưng được điển hình hóa theo nhân cách của một lãnh tụ vĩ đại, luôn gần gũi với nhân dân (Cụ Hồ).

1. Nguồn gốc, vinh dự và trách nhiệm khi được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ”

Câu hỏi đặt ra là “Bộ đội Cụ Hồ” - cái tên rất thân thương và trìu mến dành cho Quân đội ta được xuất hiện đầu tiên ở đâu và vì sao Nhân dân lại gọi Quân đội ta là “Bộ đội Cụ Hồ”? Theo những sử liệu có được, tên gọi ấy xuất hiện và truyền tụng trong nhân dân được khởi nguồn ở Chiến khu Việt Bắc.

Để bảo toàn lực lượng chiến đấu cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, ngay sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều đơn vị bộ đội được lệnh cơ động lên Việt Bắc. Những ngày đầu trở lại Chiến khu, bộ đội tổ chức trú quân phân tán trong các bản, làng, thôn xóm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân. Chính từ những năm tháng này, đã nảy nở và phát triển mối quan hệ quân dân “cá - nước” giữa nhân dân với những người lính do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Bằng những việc làm cụ thể thông qua thực hiện nghiêm kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, như: không lấy cái kim, sợi chỉ của dân, không gây phiền hà cho nhân dân, kính trọng dân, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân; vừa bảo vệ dân, vừa hết lòng giúp đỡ nhân dân,... cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã nhanh chóng chiếm trọn tình cảm mến mộ của nhân dân, giúp nhân dân nhận thức được sự khác biệt căn bản giữa những chiến sĩ cách mạng với binh sĩ của các đội quân mà trước đó họ đã từng tiếp xúc. Tình cảm và niềm tin của nhân dân được củng cố và nhân lên khi biết những chiến sĩ cách mạng ấy do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện - Người mà từ lâu đã được nhân dân ta hết lòng tôn kính, tin tưởng tuyệt đối vì lòng yêu nước, thương dân. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ở khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ”, khi biết “Ông Ké”, “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Bác Hồ, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Và tên gọi yêu quý ấy từ Chiến khu Việt Bắc đã lan truyền đi khắp nơi và trở thành quen thuộc đến ngày nay.

Thật vinh dự, tự hào khi được nhân dân ta gọi quân đội của mình là “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là tình cảm kính yêu lãnh tụ và lòng tin yêu đối với Quân đội, tình cảm gắn bó thiêng liêng, ruột thịt giữa người lính với lãnh tụ của mình. Nhân dân ta gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Cha già dân tộc” - Người tượng trưng cho những giá trị văn hóa cao đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Kính yêu lãnh tụ của mình, gửi gắm niềm tin vào Quân đội do chính Người giáo dục và rèn luyện, nhân dân đã lấy tên của lãnh tụ đặt tên cho Quân đội. Điều này có lẽ duy nhất chỉ diễn ra ở Việt Nam, bởi nó chính là cốt cách và nét đặc sắc của văn hoá quân sự Việt Nam. Tận trong sâu thẳm tấm lòng và tình cảm của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta chính là con em của họ, những người dân mặc áo lính dám chấp nhận hy sinh vì dân, vì nước.

Nhân dân gọi Quân đội là “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện mối quan hệ máu thịt giữa Nhân dân với Quân đội. Xét trong mối quan hệ giữa Quân đội và Nhân dân, đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta có một đội quân cách mạng của chính mình. Còn với Quân đội, đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự Việt Nam, một đội quân mà từ bản chất đến thực tiễn hành động đều chứng tỏ rằng đó là Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là lý do giải thích vì sao hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam - những người “lính Cụ Hồ”, luôn luôn được khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân.

Được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ” là một vinh dự lớn của Quân đội ta trước bè bạn quốc tế. Nhân dân thế giới không chỉ biết đến Việt Nam, khâm phục và kính trọng dân tộc Việt Nam bởi uy tín và đức độ của lãnh tụ Hồ Chí Minh - Người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cách mạng giải phóng các dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới kiệt xuất của Việt Nam; mà còn bởi một lý do, vì đất nước Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam đã sinh ra một Quân đội anh hùng, biểu trưng của lòng dũng cảm, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần quốc tế trong sáng; với chiến công vang dội “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, những chiến thắng có ý nghĩa quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Thật hiếm có một quân đội nào trên thế giới lại chiếm trọn tình cảm của bạn bè, nhân dân tiến bộ trên thế giới như Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngay cả những người lính, những chính khách bên kia chiến tuyến, sau cuộc chiến nhìn lại cũng phải thốt lời khâm phục về ý chí, bản lĩnh của một đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ” là một vinh dự lớn đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề của Quân đội và mỗi quân nhân. Trao tặng cho Quân đội danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân dân luôn mong mỏi, kỳ vọng danh hiệu đó sẽ luôn tỏa sáng, là niềm tin, là sức mạnh, chỗ dựa của nhân dân. Với trách nhiệm đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội phải ra sức tu dưỡng và rèn luyện, không ngừng phấn đấu để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là giá trị tinh thần vô giá mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã dày công vun đắp, nhân dân gửi trọn niềm tin đối với “Bộ đội Cụ Hồ”.

2. Giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”- yêu cầu quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn hiện nay.

Thấu triệt lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” và thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã khẳng định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là nguyên tắc, đồng thời là giải pháp cốt lõi, cơ sở nền tảng tạo sức mạnh tổng hợp, yếu tố quyết định bản chất cách mạng của Quân đội. Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thì xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nhằm bảo đảm Quân đội bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân càng trở nên đặc biệt quan trọng, đòi hỏi phải tiến hành quyết liệt bằng nhiều giải pháp đồng bộ; trong đó, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giải pháp căn cốt với các nội dung cơ bản sau.

Một là, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải đảm bảo giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu trong giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, phải đảm bảo mọi cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần, nắm vững những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân cũng như thường xuyên thấu suốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp là đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó để mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ và sâu sắc về sự thống nhất giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” với nâng cao giác ngộ bản chất giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội; phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới thống nhất với nội dung xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, trong đó phải lấy xây dựng về chính trị làm nền tảng. Từ đó luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng; luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ, Nhân dân ta đã lựa chọn; nêu cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là những vấn đề cốt yếu, nhằm đảm bảo cho Quân đội luôn giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Hai là, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải bảo đảm để Quân đội hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ cách mạng, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Chuẩn bị tốt về mọi mặt, tích cực huấn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, năng lực công tác, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, không để bị động, bất ngờ, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, kể cả với cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao. Trong mọi lúc, mọi nơi, nhất là những thời điểm cam go, thử thách, cán bộ, chiến sĩ phải đặt lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết; sẵn sàng xả thân hy sinh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân”. Thấm nhuần tư tưởng đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội không chỉ huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, chiến đấu thắng lợi,... mà còn làm tròn chức năng của “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất”. Phải tích cực học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, tri thức, có kiến thức về kinh tế, chính trị; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng, chống và giải quyết hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn kết hợp với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cùng với đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải là người tiên phong, lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, chống quan điểm sai trái, phản động, luận điệu đòi “phi chính trị hoá” Quân đội của các thế lực thù địch. Phải thực sự nhạy bén về chính trị, có ý chí, năng lực và phương pháp đấu tranh với kẻ thù; có khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, sự tấn công của các thế lực thù địch để tham gia tích cực, hiệu quả vào mặt trận đấu tranh phi vũ trang, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng.

Ba là, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, kỷ luật nghiêm. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là tổng hòa các yếu tố hợp thành; trong đó và trước hết phải thể hiện ở đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, lành mạnh; luôn kiên định, vững vàng, không bị sa ngã, tha hóa trước mọi tác động tiêu cực của đời sống xã hội, mặt trái của kinh tế thị trường, sự cám dỗ của lối sống thực dụng, ích kỷ, hẹp hòi, những thị hiếu, dục vọng thấp hèn, không bị gục ngã trước sự tấn công của kẻ thù bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”. “Bộ đội Cụ Hồ” phải là lực lượng tiên phong trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải luôn gương mẫu trong nhận thức, tư tưởng và hành động; nói, viết và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, Điều lệnh, Điều lệ của Quân đội, các chế độ quy định của đơn vị và địa phương nơi đóng quân. Chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết, trước hết, không đắn đo, suy tính thiệt hơn, sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ.

Bốn là, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải luôn giữ vững và tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh được thể hiện ở việc giúp nhau khắc phục khó khăn, cùng hoàn thành nhiệm vụ; nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng chí, đồng đội; giúp nhau trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất và trong cuộc sống. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; quan liêu, xa rời quần chúng, bởi đó là những tác nhân làm rạn nứt đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh, làm giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong đoàn kết (quan hệ) với nhân dân cần khắc ghi lời Bác dạy “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội, chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Muốn như thế thì phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hăng đánh giặc”, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy và chính quyền địa phương nơi đóng quân, gần gũi, gắn bó với nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn của nhân dân để có biện pháp giúp đỡ; không xâm phạm lợi ích của nhân dân, tích cực giúp đỡ dân phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, biên giới, hải đảo. Tích cực tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh, thảm họa,... sẵn sàng hy sinh bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chia sẻ những khó khăn, mất mát của dân khi gặp hoạn nạn. Cùng với đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải tăng cường củng cố tình đoàn kết với quân đội các quốc gia, không ngừng mở rộng quan hệ, hợp tác với quân đội, nhân dân và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay phải phân biệt rõ đối tác, đối tượng; chủ động phối hợp đấu tranh giữ vững môi trường hòa bình ổn định, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hợp tác trong giải quyết các vấn đề toàn cầu; phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn,... như lời dạy của Bác: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”.

Hiện nay, “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng..., làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, mà trước hết là trách nhiệm của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy trong Quân đội và mọi quân nhân, làm cho những phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng, nâng lên một tầm cao mới, xây dựng Quân đội vững mạnh, xứng đáng là “Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng” và lòng tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân.

 

 

THỔI HỒN NHÂN CÁCH, ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH QUA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

 Môn Giáo dục công dân hướng tới một mục tiêu chung là rèn luyện nhân cách đạo đức cho học sinh song song với việc bồi dưỡng kỹ năng sống cho các em.

Là giáo viên đảm nhận dạy bộ môn Giáo dục công dân nhiều năm, tôi đã dành rất nhiều tâm huyết cho bộ môn của mình, bởi tôi hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của nó trong việc hình thành nhân cách đạo đức cho học sinh.

Tôi muốn thông qua bộ môn này để bồi dưỡng cho các em những tư tưởng lành mạnh, cảm hứng sống tích cực với phương châm: Suy nghĩ tích cực; lời nói tích cực và hành vi tích cực.

Bộ môn Giáo dục công dân hướng tới một mục tiêu chung là rèn luyện nhân cách đạo đức cho học sinh song song với việc bồi dưỡng kỹ năng sống cho các em. Giáo dục công dân (môn Đạo đức ở cấp tiểu học, môn Giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp trung học phổ thông) giữ vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh hình thành, phát triển ý thức và hành vi của người công dân.

Thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, môn Giáo dục công dân góp phần bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của người công dân, đặc biệt là tình cảm, niềm tin, nhận thức, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Những bài học giáo dục từ trang sách công dân sẽ thấm dần vào tâm hồn, chuyển hóa các em tự rèn luyện cho mình những phẩm chất tốt đẹp. Tôi thường nói với học sinh lời của cố Giáo sư Văn Như Cương: “Cho dù sau này các em có là bất cứ ai thì trước hết, các em phải là những người tử tế!”. Và tôi đã lấy đó làm mục tiêu giáo dục học sinh của mình qua từng tiết học.

Có “yêu” thì mới “thích”

Kiến thức của bộ môn Giáo dục công dân không khó như một số môn học khác. Với bộ môn Giáo dục công dân thì không khó để dạy cho học sinh hiểu, nhưng phải dạy làm sao cho học sinh “thấm”. Các em phải thấm được vào mình những câu chuyện đạo đức, những câu chuyện pháp luật thì các em mới lấy đó làm bài học cho mình.

Phải dạy cho học sinh biết rung động trước những hành vi tốt, biết căm phẫn cái xấu, cái ác, biết sống bao dung, biết quan tâm, cảm thông và chia sẻ. Sống với lòng hiếu thảo, biết ơn… Dạy cho học sinh biết vui với cái vui của người khác. Đau với nỗi đau của người khác, không dửng dưng vô cảm với mọi người.

Muốn đạt được mục đích đó thì chúng ta cần phải thực sự đầu tư tâm huyết cho từng giờ học công dân để làm sao cho giờ học sinh động, không nhàm chán thì mới thu hút được sự tập trung chú ý học tập của các em.

Bởi dĩ, môn Giáo dục công dân vốn được nhiều thầy cô và các bậc phụ huynh xem là môn phụ, thậm chí một số người còn nói là: Nó là môn học phụ nhất trong những môn phụ. Với cách nghĩ đó đã phần nào ảnh hưởng đến thái độ học của học sinh với bộ môn này. Với các em, đây là một môn học khô khan, thiếu hấp dẫn, kiến thức thì lại dễ… nên đa phần các em thường có thái độ hời hợt khi học.

Nắm bắt được tâm lý đó của học sinh, nên tôi đã quyết tâm phải biến những giờ học công dân của mình thành những giờ học được các em yêu thích nhất. Có “yêu” thì các em mới “thích” được; mới cảm thụ và tiếp nhận được một cách có hiệu quả những bài học làm người được đúc kết trong từng trang sách. Phải để các em chuyển hóa được từng đơn vị bài học vào ngay trong cuộc sống thực tiễn của mình bằng hành động thiết thực hàng ngày.

Để dạy bộ môn Giáo dục công dân hiệu quả nhất, tôi luôn cập nhật những thông tin mang tính thực tế trong đời sống. Liên hệ thực tế là phương pháp tạo ra những điều kiện thuận tiện cho học sinh suy nghĩ đến những vấn đề đang diễn ra trong thực tế có liên quan đến nội dung bài học, thông qua các thông tin, hình ảnh, sự kiện, câu chuyện pháp luật có thật trong cuộc sống, mang tính thời sự, thực tiễn, các vấn đề bức xúc trong xã hội để phân tích, đối chiếu, minh họa cho bài giảng.

Trên cơ sở đó, học sinh được bộc lộ thái độ, ý kiến, cách làm riêng của mình, hoặc so sánh, đối chiếu với nội dung bài học để hiểu sâu sắc hơn điều cần học. Học sinh cũng có thể so sánh, đối chiếu thái độ, hành vi của mình với nội dung bài học để củng cố những mặt tốt, kịp thời sửa chữa sai lầm, điều chỉnh hành vi. Cứ như vậy, các em đã rèn được kỹ năng sống cho mình qua những trải nghiệm từ những câu chuyện.

Để giờ học sinh động, thì ngoài những dữ liệu trong sách giáo khoa đã được các nhà biên soạn chọn lọc rất kỹ càng và hiệu quả, tôi còn vận dụng thêm các tranh ảnh, video có nội dung liên quan đến bài học để minh họa cho học sinh dễ tiếp thu bài học.

Và đặc biệt hiệu quả hơn là tôi đã vận dụng những phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực vào giờ học để học sinh không bị nhàm chán khi cho rằng những bài học công dân chỉ mang tính giáo điều, khô khan. Tôi thường cho các em tổ chức các trò chơi đóng vai để giải quyết những tình huống thực tế trong cuộc sống, rồi từ đó rút ra bài học.

Hay cho các em thảo luận nhóm, đúc kết những bài học bằng cách cho các em liên hệ với thực tế để tự nói lên những suy nghĩ, những phản biện của mình trước một vấn đề xảy ra xung quanh các em, ngay trong cuộc sống thường ngày.

Hãy trở thành những công dân tốt

Với học sinh THPT, tôi còn có thêm những hoạt động trải nghiệm như tổ chức những “Phiên tòa giả định” do các em viết kịch bản, đóng vai theo những tình huống giả định giống thực tế, liên quan đến phòng chống m.a t.úy, hay bạo lực học đường để tuyên truyền pháp luật cho các em một cách thấm nhuần và sâu sắc nhất.

Lần lượt từ những bài học công dân trong chương trình các khối lớp, tôi đều lồng ghép vào cho các em những bài học làm người, định hướng cho các em sự hình thành nhân cách theo con đường hướng thiện.

Ví dụ như khi dạy bài: “Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân” (GDCD 9), tôi đã cho các em đúc kết bài học sau 2 tiết dạy bằng cách các em vẽ sơ đồ minh họa nói lên ước mơ về một nghề nghiệp của mình trong tương lai.

Tôi nói với các em rằng, lớn lên, các con làm nghề gì cũng được nhưng nhất thiết các con phải gắn vào đó chữ “Tốt”. Là bác sĩ thì phải là bác sĩ tốt. Là giáo viên phải là giáo viên tốt; là người chủ nhà hàng thì phải là chủ nhà hàng tốt; là nông dân thì phải là nông dân tốt… Với từ khóa “Tốt” đó, học sinh phải suy nghĩ vẽ các nhánh ý tiếp theo của sơ đồ: Bác sĩ tốt là người bác sĩ như thế nào; Là giáo viên tốt thì phải có những phẩm chất gì?...

Nhưng vui và ý nghĩa nhất là những bài học từ trang sách, tôi đã chuyển hóa được tâm hồn các em. Bài tập về nhà môn Giáo dục công dân của tôi không chỉ là những bài tập trong sách giáo khoa, tôi còn ra rất nhiều bài tập ứng dụng thực hành trong đời sống hàng ngày.

Tôi khuyến khích các em có cuốn sổ mang tên: “Sổ tay rèn luyện” để ghi lại những việc tốt mình đã làm được, từ những việc nhỏ hàng ngày trong gia đình cho đến những việc nơi lớp học hay cộng đồng. Mục đích là để rèn luyện cho các em những thói quen tốt hàng ngày.

Nhiều em ở nhà làm được việc tốt nào đều đến kể với cô, nào là biết giúp đỡ người khác, biết chăm sóc ông bà khi về quê. Có em kể là hôm qua có bà ăn xin đi vào xóm em. Em đang chơi ngoài đường, em đoán thế nào bà cũng vào nhà em, thế là em chạy về nhà mở cửa lấy 1 bơ gạo và 10 nghìn đồng, ngồi đợi bà vào rồi đưa cho bà bằng cả 2 tay như lời cô dặn.

Có em kể: Hôm qua sinh nhật em, em nói với mẹ em rằng: Hôm nay, sinh nhật con, người đầu tiên con cảm ơn là mẹ. Con cảm ơn mẹ vì ngày này cách đây 12 năm, mẹ đã chịu bao đau đớn để sinh ra con, rồi chăm sóc con được như ngày hôm nay. Con biết ơn mẹ rất nhiều. Con yêu Mẹ! Em kể là em nói xong mẹ ôm chầm lấy em, rồi thơm vào má em rất nhiều. Và mẹ em đã khóc cô ạ.

Hay có học sinh đi học về trên đường đi thấy rác tắc cống nước chảy đã dừng lại để bới rác lên vứt đi cho thông cống nước, sau khi nghe, tôi cho các em đọc những câu chuyện kể về những thói quen tốt của con người, những hành động nhỏ nhưng thể hiện nhân cách tốt.

Những chuyển biến của các em như vậy làm tôi rất vui. Và vui hơn nữa khi thấy các em hào hứng, yêu thích những giờ học Giáo dục công dân hơn. Điều đó đã tiếp thêm động lực cho tôi miệt mài đầu tư hơn cho từng bài giảng. Tôi thấy vui và hạnh phúc vì đã làm được những điều ý nghĩa cho cuộc đời. Làm tròn sứ mệnh của nghề Thầy cao cả.

Tôi thực sự hạnh phúc khi được giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân. Như tên gọi của nó, tôi đã ý thức được sứ mệnh thiêng liêng cao cả của môn học này với trách nhiệm thổi hồn nhân cách, đạo đức cho học sinh qua bộ môn Giáo dục công dân.

 

KIỆN TOÀN LỰC LƯỢNG KIỂM NGƯ TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG

 Thời gian qua, lực lượng chức năng của 28 tỉnh, thành phố ven biển đã có nhiều cố gắng song tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) vẫn diễn ra. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do chưa có lực lượng kiểm ngư - đơn vị chuyên môn thực thi pháp luật về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên biển ở các địa phương.

Trước tháng 7/2023, ở các địa phương ven biển, hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm soát công tác bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản trên các vùng biển đều do lực lượng thanh tra chuyên ngành của Chi cục Thủy sản các tỉnh, thành phố thực hiện. Sau khi Luật Thanh tra năm 2022 có hiệu lực từ ngày 1/7/2023, lực lượng thanh tra chuyên ngành tại các chi cục thủy sản không còn nữa. Điều này dẫn đến thực tế là năng lực thực thi pháp luật trong khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên vùng biển được phân cấp, công tác tuần tra, kiểm soát chống IUU tại các địa phương chưa bảo đảm và thiếu tính răn đe. Báo cáo về kết quả chống IUU, gỡ cảnh báo "Thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cuối tháng 8 vừa qua cũng đã ghi nhận điều này.

Để nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, Luật Thủy sản năm 2017 quy định, thành lập lực lượng kiểm ngư địa phương là lực lượng có chuyên môn cao thực hiện nhiệm vụ thực thi pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến cuối tháng 9 vừa qua có 15/28 tỉnh, thành phố ven biển trong cả nước thành lập tổ chức kiểm ngư. Trong đó, 14 tỉnh thành lập kiểm ngư cấp phòng, trạm thuộc Chi cục Thủy sản, riêng tỉnh Kiên Giang thành lập Chi cục Kiểm ngư thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Bên cạnh đó, 13 tỉnh ven biển chưa thành lập lực lượng kiểm ngư do còn băn khoăn về mô hình tổ chức, nhân lực và cách thức hoạt động, thậm chí còn chần chừ khi xem xét thành lập đơn vị chuyên ngành này.

Đơn cử tại tỉnh Quảng Bình, ngay từ quý I/2023, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình đã xây dựng dự thảo đề án thành lập Phòng Kiểm ngư trên cơ sở tách chức năng, nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về khai thác và bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi thủy sản từ các phòng chuyên môn thuộc Chi cục Thủy sản; đồng thời bổ sung nhiệm vụ kiểm ngư theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017. Cơ quan xây dựng dự thảo đề án đã tổ chức lấy ý kiến của các sở, ngành và địa phương liên quan để điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện đề án trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, song đến nay, công việc này chưa thông qua.

Do chưa thành lập được Phòng Kiểm ngư, hiện Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Bình phải huy động cán bộ, nhân viên từ các phòng chuyên môn khác để làm nhiệm vụ thanh tra hoạt động khai thác hải sản trên biển với phương châm, tuyên truyền, vận động ngư dân là chính, bởi họ không có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với các trường hợp tàu cá vi phạm.

Thực hiện quyết tâm gỡ cảnh báo "thẻ vàng" tại đợt thanh tra lần thứ 4 dự kiến vào tháng 10 này, tại cuộc họp cuối tháng 8 vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đã chỉ đạo thực hiện các biện pháp mạnh không để xảy ra tình trạng tàu cá vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài, trong đó có nội dung, bố trí đủ nguồn lực (nhân lực, kinh phí, trang thiết bị) cho các lực lượng chức năng có liên quan tại địa phương thực hiện nhiệm vụ chống IUU. Nhiệm vụ cụ thể là khẩn trương thành lập kiểm ngư địa phương theo quy định tại Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Có thể nói, thành lập lực lượng kiểm ngư thuộc Chi cục Thủy sản các tỉnh, thành phố ven biển là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách nhằm khắc phục các khó khăn, bất cập của lực lượng thanh tra chuyên ngành thủy sản tại địa phương./.

Theo Báo Nhân dân

 

HỘI NGHỊ TW 8 KHÓA XIII: XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH NHIỀU VẤN ĐỀ TRỌNG ĐẠI

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh Hội nghị TW lần này xem xét, quyết định nhiều vấn đề trọng đại, phức tạp, nhạy cảm, có ý nghĩa rất quan trọng.

Sáng 2/10, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng điều hành Phiên khai mạc.

Mở đầu Hội nghị, Trung ương dành một phút tưởng niệm Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành; các nạn nhân đã bị thiệt mạng trong các đợt thiên tai, hỏa hoạn.

Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Trung ương sẽ bàn và cho ý kiến kết luận về tình hình kinh tế-xã hội, Ngân sách Nhà nước năm 2023, kế hoạch năm 2024; kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm 2024-2026 và lộ trình thực hiện chế độ tiền lương mới.

Hội nghị cũng tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020; tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và một số vấn đề quan trọng khác.

Xác định rõ ràng, đúng đắn những quan điểm phát triển

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh Hội nghị Trung ương lần này xem xét, quyết định nhiều vấn đề trọng đại, phức tạp, nhạy cảm, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII từ nay đến hết nhiệm kỳ.

Việc Trung ương xem xét, cho ý kiến về các vấn đề kinh tế-xã hội, Ngân sách Nhà nước năm 2023-2024 được đặt trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ, khó khăn, thách thức nhiều hơn, lớn hơn so với thời cơ, thuận lợi và so với dự báo, đã ảnh hưởng tiêu cực, rất nặng nề đối với việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương nghiên cứu thật kỹ Tờ trình và các Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ, tập trung thảo luận, phân tích sâu những đặc điểm nổi bật của năm 2023, làm rõ những kết quả đã đạt được, hạn chế, yếu kém còn tồn tại, khó khăn, vướng mắc phải giải quyết, thách thức phải tiếp tục vượt qua. Đồng thời, chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm; dự báo những khả năng, tình huống sắp tới, trước hết là từ nay đến cuối năm 2023 và năm 2024 với tinh thần thật sự khách quan, toàn diện.

Tổng Bí thư lưu ý những khó khăn, hạn chế đã và sẽ phải đối mặt như kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc do phải chịu nhiều áp lực từ thị trường nước ngoài. Thị trường tài chính-tiền tệ, bất động sản, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp còn khó khăn, tiềm ẩn rủi ro. Hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người lao động trong nhiều lĩnh vực gặp khó khăn. Sức chống chịu của doanh nghiệp bị bào mòn sau đại dịch COVID-19.

Một số cơ chế, chính sách, quy định của pháp luật chậm được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hoặc chưa được thực hiện nghiêm minh. Một bộ phận cán bộ sợ trách nhiệm, sợ sai, đùn đẩy, né tránh giải quyết công việc thuộc thẩm quyền. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp...; xác định rõ ràng, đúng đắn những quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu cơ bản, quan trọng và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của những tháng còn lại của năm 2023 và cho năm 2024; trong đó có sự cần thiết, đúng đắn của việc thực hiện chế độ tiền lương mới từ ngày 1/7/2024.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách xã hội

Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội, Tổng Bí thư nêu rõ, trong 10 năm qua, đất nước đã phát triển, đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, thể hiện ngày càng rõ tính ưu việt của Chế độ ta. Kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển ổn định và hài hòa hơn. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trên mọi miền đất nước được nâng lên.

Việt Nam là một quốc gia đi đầu trong việc giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Các chính sách xã hội không ngừng được hoàn thiện, từng bước nâng cao chất lượng, mức hỗ trợ, mở rộng diện bao phủ theo hướng công bằng, tiến bộ, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, cơ bản bảo đảm an sinh của người dân theo quy định của Hiến pháp; thực hiện tốt chính sách ưu đãi và tôn vinh đối với người có công. Thể chế thị trường lao động từng bước được hoàn thiện. Việc làm cho người lao động cơ bản được bảo đảm.

Hệ thống y tế, giáo dục, an sinh, trợ giúp xã hội tiếp tục được kiện toàn và mở rộng. Quy mô, năng lực, chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu được nâng lên. Công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện. Nguồn lực thực hiện chính sách xã hội được Nhà nước ưu tiên đầu tư, gắn với đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút sự tham gia của toàn xã hội...

Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội XIII của Đảng đề ra, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Trung ương cần tập trung thảo luận làm rõ, tạo sự thống nhất cao về nhận định, đánh giá tình hình, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; sự cần thiết, đúng đắn việc ban hành Nghị quyết mới của Trung ương về vấn đề đặc biệt quan trọng này. Từ đó, phân tích, dự báo một cách có cơ sở khoa học về bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới; xác định rõ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách xã hội đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong thời kỳ mới.

Về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị nghiên cứu thật kỹ, đóng góp nhiều ý kiến cụ thể, sát hợp với tình hình và cho ý kiến về sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Nghị quyết mới và những nội dung chủ yếu của dự thảo Nghị quyết về "Tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc."

Về xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong mọi thời đại và ở bất cứ quốc gia nào, đội ngũ trí thức luôn là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc.

Tổng Bí thư đề nghị Trung ương tập trung thảo luận, cho ý kiến đánh giá khách quan, toàn diện tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức, từ đó đề ra quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đội ngũ trí thức; chú ý kế thừa những nội dung còn nguyên giá trị của Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, bổ sung, phát triển những nội dung mới, phù hợp với thời kỳ mới.

Giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước

Về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Tổng Bí thư nêu rõ tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết quan trọng này là việc làm cần thiết để Trung ương phân tích, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống tình hình, đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực đã và đang có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường.

Tổng Bí thư đề nghị cần phân tích thấu đáo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, thấy rõ những biến đổi sâu sắc, diễn biến phức tạp, khó lường và dự báo xu hướng phát triển trong thời gian tới để kịp thời bổ sung, phát triển một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, điều chỉnh một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cho phù hợp với tình hình mới. Trung ương cần tập trung làm rõ những thuận lợi, cơ hội cần nắm bắt, khó khăn, thách thức phải vượt qua để chủ động từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống đều bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và Chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, cho ý kiến góp ý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết mới của Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quy hoạch cán bộ là cơ sở để làm tốt công tác đào tạo

Về quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc." Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng ta lâu nay luôn xác định cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ. Công tác cán bộ được coi là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Trong công tác cán bộ, việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ. Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt đó của công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, ngày 7/7/2023, căn cứ vào quy chế làm việc và Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27/12/2021 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ, Bộ Chính trị đã ban hành Kế hoạch số 17-KH/TW về xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031; trong đó xác định rõ các quan điểm, nguyên tắc, mục đích, yêu cầu, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu, đối tượng và độ tuổi, quy trình giới thiệu, phê duyệt quy hoạch và hồ sơ nhân sự, số lượng phát hiện và giới thiệu đưa vào quy hoạch...

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, thật sự khách quan, công tâm, thể hiện chính kiến đối với Tờ trình và dự kiến Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Theo chương trình, Hội nghị làm việc đến ngày 8/10./.

TTXVT/Vietnam+

 

“Hòa bình và tự vệ”: Tầm nhìn chiến lược và đúng đắn trong đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam

 Đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong các thời kỳ cách mạng. Đường lối đó đã được khẳng định và thực hiện nhất quán, phù hợp với thực tiễn nước ta cũng như thế giới. Mọi âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch, phản động hòng bóp méo, xuyên tạc đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam đều thể hiện sự sai lầm, phiến diện, thiếu căn cứ.

Các chiến sĩ tuần tra bảo vệ vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. 
NHỮNG LUẬN ĐIỆU LẠC LÕNG, XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG - AN NINH CỦA VIỆT NAM

Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Chúng ta đã khẳng định rất rõ và thể hiện mong muốn, quyết tâm trong việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; đồng thời, tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn tính chất cơ bản của nền quốc phòng - an ninh Việt Nam là “hòa bình và tự vệ”.

Hồ Chí Minh với việc lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam qua tác phẩm “Thường thức chính trị”

        Chủ tịch Hồ Chí Minh -  anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn. Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, trí tuệ và tầm nhìn thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cách mạng vô sản, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là lý tưởng, lẽ sống được Người khẳng định trong các cương lĩnh, đường lối của Đảng và nhiều bài nói, bài viết, trong đó có tác phẩm “Thường thức chính trị”. Đó cũng là con đường phát triển, là mục tiêu, là bước đi của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Thường thức chính trị” gồm 50 bài viết, ký bút danh Đ.X đǎng trên nhiều số báo Cứu quốc. 

1. QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM QUA TÁC PHẨM “THƯỜNG THỨC CHÍNH TRỊ” LÀ: GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, GIẢI PHÓNG GIAI CẤP VÀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ NHÂN DÂN

Với hành trang là lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm “làm bất cứ việc gì đề sống và để đi” nhằm thực hiện hoài bão tìm ra con đường cứu nước, cứu dân; đồng thời, mang trong mình khát vọng giải phóng dân tộc, qua nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường cách mạng đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”Việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản, thể hiện tầm nhìn chiến lược và phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân lao động.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 10 NĂM 1945!

        “Muốn cho danh chính, lợi chính, thì Danh, làm sao cho dân tộc mình có danh với thế giới, và Lợi, làm thế nào cho tranh được lợi với thế giới”!

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Nói chuyện với đại biểu các báo chí về nội trị, ngoại giao nước nhà trong những ngày vừa qua”, Người nói ngày 06/10/1945; đăng trên Báo Cứu quốc, số 61, ngày 08/10/1945.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời – một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên, những năm tháng đầu sau ngày độc lập, chúng ta gặp phải muôn vàn khó khăn, thách thức, cùng lúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; chính quyền mới được thành lập chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu và những tàn dư của xã hội cũ còn sót lại trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; trong đó, có hiện tượng một số ít cán bộ ham muốn danh, lợi nên chưa thật sự tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài nói giải thích về Danh và Lợi cho cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành để họ nắm rõ, hiểu đúng và hành động đúng. Theo Bác, Danh – nghĩa là phải làm tròn bất kỳ nhiệm vụ nào nhân dân giao phó thì đều là danh dự, là vẻ vang, là anh hùng, nếu phải hy sinh tính mạng thì tiếng thơm lưu truyền mãi mãi. Về Lợi, Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên đối với công việc hằng ngày “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” và việc gì dù lợi cho mình, phải xem xét có lợi cho nước hay không? Nếu không có lợi mà có hại cho nước thì quyết không làm. Khi phải cân nhắc, chọn lấy một, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, thì phải chọn lợi ích chung, phải hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung, vì lợi ích cho nước tức là lợi ích cho mình, lợi ích chung của đất nước của dân tộc có thắng lợi thì lợi ích riêng của gia đình thắng lợi. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân – căn bệnh luôn đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc, chính là cha đẻ của tư tưởng danh lợi chỉ muốn làm ông này, ông khác, bà này, bà khác. Tư tưởng danh lợi lại đẻ ra trăm thứ bệnh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và nhân dân lên trên, lên trước, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, luôn đồng cam, cộng khổ với quần chúng nhân dân, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết đã cùng với toàn dân, toàn quân làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa đà vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi…. làm giảm sút lòng tin đối của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, cần phải kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết ở đơn vị, say mê, gắn bó hết mình với công việc, chức trách, nhiệm vụ được giao; có ý thức tiết kiệm của công, không tham nhũng, lãng phí; công minh, chính trực, thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực; không quản hy sinh, gian khổ; luôn chấp hành và gương mẫu đi đầu trong mọi công việc; sẵn sàng đến những nơi khó khăn vất vả, từ biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; có lối sống trung thực, giản dị, gần gũi, thương yêu đồng chí, đồng đội; có tinh thần đoàn kết, bao dung, độ lượng, vị tha. Gương mẫu trong mọi lúc, mọi nơi, luôn đi đầu gương mẫu trong thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, là chỗ dựa tin cậy của bộ đội./.
Môi trường ST.

KHÔNG NGỪNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỂ ĐẢNG NGÀY CÀNG VỮNG MẠNH!

     Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn cách mạng mới, dân tộc đang đứng trước những thời cơ, vận hội to lớn để phát triển. Để hiện thực hóa được “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên, liên tục rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. 

Không thể có một hình thức, phương thức tối ưu, duy nhất để giáo dục đạo đức, cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đó phải là một quá trình, là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn hết là sự “tự nhận thức”, “thẩm thấu chủ động”, thường xuyên “tự răn, tự rèn” để đạo đức cách mạng trở thành “cốt cách”, là “lẽ sống” của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ nhất, luôn xác định rõ công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, quan trọng hàng đầu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là trọng yếu.

Các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng mạnh trên tất cả các mặt: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, sát thực tiễn; chủ động đi sâu, đi sát cơ sở để nắm bắt tình hình địa phương, đơn vị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc từ cơ sở; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. 

Nhiệm vụ hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng là việc tổ chức nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Nội dung này phải được tiến hành nghiêm túc, gắn với xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện; chú trọng sơ kết, tổng kết thực tiễn, phải gắn việc học tập với hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.

Chú trọng việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Triển khai các giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chú trọng xây dựng, giữ gìn mối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong toàn xã hội; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình... Coi trọng công tác bồi dưỡng, kết nạp đảng viên cả về số lượng và chất lượng.

Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để bố trí phù hợp. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; không quan liêu, tham nhũng; có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân; có tư duy sáng tạo, kiến thức vững vàng; phong cách làm việc khoa học, nói đi đôi với làm. 

Trong công tác bố trí, sử dụng cán bộ, phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn, sắp xếp bố trí; căn cứ vào năng lực, sở trường công tác của cán bộ để giao việc phù hợp; giao việc, bổ nhiệm những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực công tác, khả năng phát triển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý; đảm bảo tính liên tục, kế thừa, dân chủ, khách quan trong công tác cán bộ. 

Công tâm, khách quan trong đánh giá cán bộ. Coi trọng đánh giá về đức và tài, trong đó đạo đức là nền tảng, là “cái gốc”; đánh giá đúng trình độ, năng lực, sở trường; lấy tiêu chuẩn hiệu quả, chất lượng công việc làm thước đo quan trọng để đánh giá cán bộ.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên “sửa đổi lối làm việc”, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định muốn sửa đổi lối làm việc thì phải thực hiện tốt nhất việc “phê bình và sửa chữa”. “Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đứng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”; “Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng” để mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm “đúng”, làm “khéo”, có như vậy “thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa”. Người lưu ý: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu.

Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”; “...các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý “...trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư” cho nên mới mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”.

Theo Người, những căn bệnh nguy hại sinh ra từ “chủ nghĩa cá nhân” là: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, kéo bè kéo cánh, hẹp hòi... Để chữa trị những căn bệnh này cần phải: “Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”. 

Thứ ba, cán bộ, đảng viên phải luôn tự ý thức về vai trò tiên phong, gương mẫu.

Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người đảng viên - dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp - ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng... Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo”. Để làm tốt điều đó, Người yêu cầu, cán bộ, đảng viên “phải làm gương mẫu trong lao động sản xuất và trong học tập”; “phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”.

Cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu bởi đây là những người nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì thế “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, dẫn dắt quần chúng trong mọi phong trào cách mạng. 

Không chỉ trong công việc, mà trong cuộc sống hằng ngày, cán bộ, đảng viên không những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng, mà cũng phải là tấm gương để gia đình, người thân và quần chúng noi theo./.
Yêu nước ST.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng của lòng dân

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị tướng huyền thoại, người anh hùng dân tộc. Với người dân Việt Nam và cả thế giới, Đại tướng trở thành hình mẫu đẹp, vị tướng huyền thoại, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho thanh bần tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, Võ Nguyên Giáp nổi tiếng thông minh, hiếu học ngay từ lúc còn nhỏ. Từ năm 1925 đến năm 1927, ông theo học ở Trường Quốc Học Huế, rồi tham gia hoạt động cách mạng. Từ đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp không ngừng theo đuổi con đường học vấn; hoạt động say sưa, tích cực trên mặt trận văn hóa, song song với việc tham gia vào các phong trào, hoạt động cách mạng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng tài ba, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại là một Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân từng cầm quân chinh chiến đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ, cùng dân tộc giành lại độc lập, thống nhất Tổ quốc. Sống giản dị, gần gũi; tài đức vẹn toàn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành tấm gương sáng, là niềm tự hào, kính mến trong trái tim của người dân Việt Nam. Sống giữa cuộc đời và sống trong lòng dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được người Việt Nam gọi bằng những cái tên trìu mến: Anh Cả, Anh Văn, bác Giáp, tướng Giáp...

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng bốn lần viết thư cho bộ đội trước khi bắt tay vào nhiệm vụ mới. Nhà văn Nguyễn Đình Thi nhận xét: “Một vị Tổng Tư lệnh viết thư tâm tình với cán bộ và chiến sĩ như vậy là nét đẹp nói lên bản chất cách mạng của Bộ đội Cụ Hồ và cũng là điều hiếm thấy trong chiến tranh các nước”.

Cuộc đời của Đại tướng luôn song hành với những chặng đường lịch sử của dân tộc trong thế kỷ XX. Nhưng với tinh thần khiêm tốn, trong cuốn hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, Đại tướng không nhằm tự thuật về cuộc đời của mình mà chủ yếu tái hiện lại những sự kiện quan trọng, những biến cố có tính bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam hiện đại, từ những ngày khẩn trương chuẩn bị cho khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, đến những ngày gay go ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trên cơ sở những sự kiện lịch sử, Đại tướng đã có những bình luận đánh giá khái quát, sâu sắc, làm rõ những nỗ lực, to lớn của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta trong những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám để giữ vững nền độc lập, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, khẳng định vị thế của nước Việt Nam mới. Đọc những trang hồi ký của Đại tướng cảm nhận sâu sắc hơn tấm lòng, tình cảm và trách nhiệm của một vị tướng tài ba, lỗi lạc một đời gắn bó với đất nước, con người Việt Nam.

Là một trong 10 nhân vật quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn nhận được sự ngưỡng mộ, kính trọng của bạn bè khắp năm châu. Nhiều nguyên thủ quốc gia, chính khách, học giả, nhà báo, nhà văn, nhân dân thế giới viết về Đại tướng bằng tình cảm ấm áp, niềm xúc động, khâm phục tài năng và đức độ.

Nhân dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Algeria, xã luận của tờ El moudjahd năm 1976 có viết: “Một người dáng vẻ rất giản dị. Một bộ mặt cởi mở. Còn hơn một anh hùng. Tướng Giáp. Ông thuộc dòng những chiến sĩ mà người ta sẽ kể những chiến công từ thế hệ này qua thế hệ khác. Có lẽ ngay cả những nhà sử học cũng cần rất nhiều luận chứng để tránh miêu tả ông như một nhân vật truyền thuyết, để kể lại trung thành những giá trị của ông…”.

“Chiến thắng bằng mọi giá” là một trong những cuốn sách đầy đủ, chi tiết nhất của người nước ngoài viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cecil B. Currey - một sử gia quân sự - đã giúp người Việt Nam chúng ta làm một công việc cần thiết và vô cùng đáng trân trọng: Đó là khiến thế giới hiểu về lịch sử - truyền thống Việt Nam, hiểu về đất nước - con người Việt Nam, hiểu về vị tướng lĩnh tài ba của Việt Nam - Đại tướng Võ Nguyên Giáp - mà theo đánh giá của ông là “Thiên tài quân sự vĩ đại nhất thế kỷ XX và là một trong những vĩ nhân của mọi thời đại”.

Đại tướng Peter Macdonald, đồng thời là nhà phân tích về chiến lược của nước Anh khẳng định: "Từ năm 1944 đến năm 1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại”.

Trong một lần về quê, Đại tướng tâm sự: “Quê hương, gia đình đã hun đúc nên nhân cách của tôi, quyết định con đường đi của tôi”. Trở về dòng sông Kiến Giang của Lệ Thủy, bằng giọng nói hiền từ, đậm chất Quảng Bình, giản dị ân cần, bác Giáp hỏi thăm mọi người… Nhớ lần về thăm quê ở làng An Xá vào tháng 4 năm 2002 đã làm Đại tướng xúc động khi được trở về ngôi nhà gắn với tuổi thơ của mình. Tháng 11 năm 2004, lúc này đã 93 tuổi, đại tướng dành thời gian để dặn dò,  lãnh đạo huyện nhà phát huy truyền thống quê hương, chăm lo và yêu thương nhân dân, xây dựng quê hương giàu mạnh.

 

Quân đội góp phần tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

 

Thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa IX về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, hơn 20 năm qua, các cơ quan, đơn vị trong Quân đội; nhất là các đơn vị đóng quân trên địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, biên giới, hải đảo đã phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, toàn quân đã làm tốt công tác dân vận; tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trên từng địa bàn; phát huy dân chủ ở cơ sở, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân. Toàn quân tích cực, chủ động tham gia các phong trào, cuộc vận động, chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí; thực hiện chính sách an sinh xã hội, hoạt động đền ơn đáp nghĩa bằng nhiều mô hình, cách làm phù hợp, hiệu quả.

Trong giai đoạn 2003-2022, các cơ quan, đơn vị phối hợp làm mới, sửa chữa, nâng cấp 145.636km đường nông thôn; 202.305km kênh mương nội đồng; cải tạo 3.879km lưới điện; xây dựng 5.855 nhà văn hóa, 17.926 nhà ở chính sách cho người có công, hộ nghèo; làm 1.072 cầu các loại; 934 công trình nước sạch; xóa gần 3.000 nhà tạm, nhà dột nát. Cùng với đó, các đơn vị Quân đội đã hỗ trợ hơn 4.200 tỷ đồng cho địa phương phát triển kinh tế; đảm nhận trên 100 dự án phát triển kinh tế với số vốn 2.038 tỷ đồng; xung kích, đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn...

Những kết quả nêu trên góp phần củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.