Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

HÌNH TƯỢNG HỒ CHÍ MINH TRONG THƠ XUÂN DIỆU

 

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới sớm giác ngộ cách mạng, nguyện dùng ngòi bút phục vụ cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc. Đến với cách mạng bằng sự hăm hở, nhiệt tình của một thi nhân rất mực yêu nước, tất yếu Xuân Diệu cũng đến với đề tài Hồ Chí Minh như một lẽ tự nhiên. Trong mấy chục năm cầm bút chuyên nghiệp, Xuân Diệu đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác.
Như bao nhà thơ khác viết về Bác, Xuân Diệu cũng ngợi ca Người bằng những mỹ từ đẹp nhất được cất lên từ niềm yêu kính vô vàn. Hình ảnh Bác hiện lên trong thơ ông giản dị, mang vẻ đẹp điển hình của nhà nho phương Đông:
Cụ Hồ, ấy là Việt Nam sinh đẻ
Nên nghìn xưa còn lại vẻ nhà nho
Trải thế gian qua biết mấy địa đồ
Môi bất hủ nụ cười nước Việt.
Vẫn cái trán non cao, vẫn mắt ngời nước biếc
Vẫn chòm râu hòa nhã của phương Đông.
Dân sinh ra, nên nói tựa dân đồng
Lời chuyện vãn lại nôm na tục ngữ
Áo màu xám vẫn giữ tro vạn thuở
Của nương dâu, bãi đậu hoặc vườn ngô
Sống rau dưa, giày mũ vải thô sơ
Đời giản dị cũng đượm màu hiền triết.
Nhà nho phương Đông ấy, theo Xuân Diệu, là một con người rất mực yêu lao động, yêu thiên nhiên. Đi đến đâu, ở đâu dù thời gian ngắn hay dài, Bác vẫn luôn trồng cây tạo bóng mát tươi xanh cho đời, cho thế hệ tương lai:
Bác Hồ, ông cụ trồng cây
Người ươm hạt chắc người gây giống lành
Muôn hoa vạn trái trĩu cành
Cũng từ nơi một tấc thành mà ra.
(Ông cụ trồng cây).
Nhà nho phương Đông ấy vô cùng yêu quý nhân dân và cũng được nhân dân yêu quý vô ngần. Tình cảm Bác dành cho nhân dân và nhân dân dành cho Bác trong một chuyến về thăm Hà Bắc đã toát lên điều giản dị mà thiêng liêng cao quý là Bác không thể thiếu nhân dân và nhân dân không thể thiếu Bác:
Bác đứng giữa sân trường
Quây quần các cháu nhỏ
Và các cháu thanh niên
Các dũng sĩ “năm tấn”.
Như lúa mở cờ lên
Và các lão du kích
Đã xông pha trận tiền
Các bác gái, bà cụ
Mặt tươi rói hồn nhiên.
Giữa sân trường Bác đứng
Tìm phụ lão trước tiên
Chúc các cụ sức khỏe
Hỏi cây trồng đã lên.
Thăm đại biểu dân tộc
Phụ nữ áo vui màu
Mán, Mường, Dao, Sán Chỉ
Đứng nhìn sững Bác lâu.
Ấy mẩu chuyện Bác Hồ
Ngày xuân thăm Hà Bắc
Yêu ở mãi lòng người
Nhớ nhung còn ở đất.
(Bác Hồ về thăm một làng Hà Bắc).
Từ chân lý giản dị nhưng vô cùng thiêng liêng, cao đẹp ấy, Xuân Diệu nhận ra trong mình và trong mỗi người dân Việt Nam đều tạc một hình ảnh Bác:
Chúng ta mang Hồ Chủ tịch trong mình
Bác đã cho ta khuôn mẫu bóng hình
Để tạc mãi suốt đời theo ảnh Bác
Đó là gương sáng trong vằng vặc
Đó là hình đẹp nhất của ta
Nguyện hy sinh phấn đấu xông pha
Tạc theo Hồ Chí Minh vĩ đại.
(Tạc theo hình ảnh Cụ Hồ).
Đối với nhà thơ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung, Bác là kết tinh những gì tốt đẹp nhất của giang sơn cẩm tú nước nhà:
Những chữ lớn như biển, trời
Như biển trời cũng hẹp
Cũng thua một con người
Khi tuyệt vời cao đẹp
Con của nước ta sinh
Tên người Hồ Chí Minh.
(Một con người).
Từ niềm yêu mến ấy, nhà thơ nguyện một lòng trọn đời đi theo Bác. Xuân Diệu cất lời kêu gọi, thúc giục nhân dân mau chóng đi theo Bác đấu tranh giành lấy độc lập, tự do, hạnh phúc:
Đi theo Bác Hồ, có cả Biển Đông
Nhả lụa có tằm, gây mật có ong
Có chúng ta muôn triệu ngực anh hùng.
Đi theo Bác Hồ từ Nam chí Bắc
Kháng chiến thiêng liêng ầm ầm chuyển đất
Gian lao đầu đã hẹn lúc thành công.
Đi theo Bác là đi cùng lịch sử
Bác Hồ ơi! Bác là dòng máu đỏ
Mãi trẻ trung trong ngực chúng con đây
Là gia tài muôn thuở để sau này
Mỗi mảnh đất cũng đòi trông thấy Bác.
Anh chị em ơi! Tất cả dưới cờ! Xông lướt tới! Có Bác Hồ phía trước
Hồ Chủ tịch đóa sao vàng dân tộc
Soi rọi ngàn phương
Cho vật mến, người thương.
(Đi theo Bác Hồ).
Khi nghe tiếng gọi Bác Hồ toàn dân đánh thắng giặc Mĩ, ngay lập tức Xuân Diệu viết những lời “gan ruột”, bày tỏ niềm tin sâu sắc rằng dưới sự lãnh đạo của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết trên dưới một lòng chắc chắn sẽ chiến thắng quân xâm lược dù cho chúng có mạnh mẽ, hung bạo đến đâu:
Dù Hà Nội thủ đô, cho tới Hải Phòng cửa biển
Có vỡ nát tan tành vôi gạch biến
Cũng không lay ý chí quyết chiến toàn dân
Những cánh tay hoan hô xây dựng lại đẹp vô ngần.
Thưa Bác, nước nhà kêu gọi chiến công
Đánh Mĩ, nhân dân theo Bác một lòng.
Khi Bác mất, trong khung cảnh “đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”, Xuân Diệu đau đớn viết nên những câu thơ khóc Bác đầy ngậm ngùi, xót xa:
Bây giờ mới khóc Bác ơi
Giật mình hăm bốn hôm rồi đó sao
Nhớ thương nào có nguôi nào
Tháng ngày càng khắc Bác vào tim con
Vẳng nghe giọng nói Bác luôn
Bác đang cười chuyện, Bác còn vẫy tay
Bác ơi cháu một đời người
Nhớ yêu Bác mãi đất trời ngàn năm.
(Bác ơi).
Trong nỗi đau thương vô bờ ấy, Xuân Diệu đinh ninh một lòng sẽ cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước thực hiện bằng được ước vọng lớn nhất đời Bác - thống nhất đất nước, non sông thu về một mối:
Tiến cả miền Nam! Cửu Long cuộn sóng
Tiến về đồng bằng! Nước non giải phóng
Tiến về Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh.
(Muôn thuở Bác Hồ).
Bên cạnh những bài thơ viết về tình cảm của nhân dân cả nước đối với Bác, Xuân Diệu còn có một số bài thơ viết về tình cảm của nhân dân thế giới đối với Bác và hoạt động cách mạng của Bác trong những năm bôn ba ở nước ngoài. Trong bài “Mạc Tư Khoa tháng giêng 1924”, nhà thơ viết về tấm lòng kính mến vô hạn của Bác đối với Lênin. Người không thể chờ có áo ấm để đi viếng vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản:
Tôi đi viếng Lênin vừa mới về
Đồng chí cho xin một chén nước chè
Ái Quốc nói vừa rét run cầm cập
Để viếng Người lớn lao thân mến nhất
Bạn của nhân dân thuộc địa chúng tôi
Tôi không thể nào đợi đến ngày mai.
Bài Xem triển lãm “Nhân dân thế giới thương tiếc Bác Hồ” ghi lại giây phút xúc động của nhà thơ trước tình cảm của người dân thế giới đối với Bác. Trong bài thơ này, Xuân Diệu đã nêu lên một chân lý: Ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, những người công nhân, những em nhỏ, cụ già, những người yêu hòa bình, tự do và công lý đều yêu mến Bác Hồ vì Bác là một đại diện tiêu biểu cho những lý tưởng tốt đẹp mà nhân loại luôn hướng đến:
Đất nước nào người ở đâu nơi đâu
Bác cũng mến yêu lo toan một lòng chứa chở
Nắm tay bà, một cháu thốt lên hớn hở
Ô kìa! Bác Hồ quàng khăn đỏ
Mặc dầu trong ảnh chỉ có trắng đen
Các cháu Bungari nắm tay Bác dung dăng
Điệu ca múa là nhịp đời bất tuyệt
Tôi tưởng nghe những tiếng cười người Việt
Chen thế gian vào cửa sổ triệu nhà
Đẹp lành sao tôi tưởng thấy bao la
Trên những cánh đồng, trên những ruộng vườn, những núi rừng thế giới.
Xuân Diệu là một trong những nhà thơ sớm nhất nhắc đến mối quan hệ máu thịt, khăng khít giữa văn học và cách mạng thông qua đề tài Bác Hồ. Đây có thể xem là một điểm nhấn đặc biệt trong mảng thơ về đề tài này của ông. Trong bài “Thơ dâng Bác Hồ”, nhà thơ đã bày tỏ sự xấu hổ, thẹn thùng, hối hận của mình với Bác khi có những lúc, những chỗ hiểu chưa đúng về vai trò, vị trí của văn học nghệ thuật đối với sự nghiệp cách mạng nên đã có những phút giây “yếu đuối”, “lung lạc” khiến Bác phải muộn phiền. Và bằng tình yêu quý vô vàn với Bác cùng khát khao chuộc lỗi với Bác, làm Bác vui lòng, nhà thơ đã quyết tâm thực hiện việc tự đấu tranh với bản thân, làm cuộc “cách mạng tinh thần”, lột bỏ hoàn toàn những “lầm lạc tâm hồn” để trở thành người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn học nghệ thuật:
Con ngồi trước Bác mênh mông
Tội nhiều chưa dám thẳng trông Cha già.
Riêng con lầm lạc tâm hồn
Người tuy trong Đảng hồn còn ở xa.
Mỗi người, một lỗi xót xa
Bốn trăm người, lỗi bao la nặng nề.
Trên đầu tóc Bác sương ghi
Chắc đôi sợi đã bạc vì chúng con.
Nghĩ thêm hối hận bồn chồn
Những lời Bác dạy sắt son vững bền
Thoát bùn nở đóa hoa sen
Bùn tanh mà vẫn lọc nên hương trời.
Mắt Cha nghìn thuở sáng tươi
Dìu cho con vượt qua đời tối tăm.
Xuân Diệu và các nhà thơ đã cùng nhau ra một tập thơ viết về Bác. Tập thơ là lời khẳng định của các nhà thơ Việt Nam nguyện hết lòng đi theo đường lối văn nghệ mà Bác và Đảng đã vạch ra:
Chúng con dâng tặng tấm lòng chung
Nhớ Bác hôm xưa dạy sáng lòng:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong” .
(Dâng Bác Hồ tập thơ “Sáng tháng năm”).
Có thể nói, những sáng tác về Bác đã giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn, khái quát hơn về đời thơ Xuân Diệu. Không chỉ là nhà thơ “mới nhất trong các nhà Thơ mới” nổi tiếng với những bài thơ tình dạt dào, Xuân Diệu còn là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của văn học cách mạng - một nhà thơ hài hòa được cái “riêng chung” giữa cá nhân và dân tộc, giữa nghệ thuật và thời đại./.
St

“Bất tuân dân sự” - một phong trào không mới


“Bất tuân dân sự” (thực chất là chống đối chính phủ dân sự) được nêu ra lần đầu tiên trong tập tiểu luận nhan đề “Dân sự bất hợp tác” của Henry David Thoreau - một phạm nhân phải ngồi tù ở bang Massachusetts (Mỹ) vì tội không đóng thuế. Thế nên, nội dung chủ đạo trong tập tiểu luận là quan điểm cực đoan, vô chính phủ và được khoác ngôn từ hoa mỹ là “bất tuân dân sự”. Mặc dù ở thời điểm mới xuất hiện, tiểu luận “Dân sự bất hợp tác” không gây được sự ảnh hưởng nào, song sang thế kỷ XX, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Henry David Thoreau được một số kẻ lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh. Theo thời gian, “bất tuân dân sự” đã bị các thế lực biến tướng, lợi dụng vào các mục đích khác nhau, đặc biệt là để chống phá các nước XHCN, các quốc gia, vùng lãnh thổ không phù hợp với lợi ích của họ. Theo giải thích của từ điển mở Wikipedia thì: “Bất tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”.

Cũng theo từ điển này, những vụ bất tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai Cập chống lại sự chiếm đóng của Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã được sử dụng trong nhiều phong trào phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia, như chiến dịch của Gandhi để giành độc lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc của Mandela ở Nam Phi. Phương thức hoạt động này được áp dụng trong cuộc "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ XX, làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, phong trào biểu tình nhằm lật đổ chính phủ ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2019...

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “bất tuân dân sự” nhưng thực chất đó là các hoạt động vi phạm cố ý đối với một số đạo luật nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền. Vì thế, bản chất đây là hành vi vi phạm pháp luật nếu chiểu theo pháp luật của bất kỳ quốc gia nào.

Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là thiểu số phục tùng đa số, lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung, lợi ích cá nhân, nhóm người phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, “bất tuân dân sự” về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, vô chính phủ, hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).

Phong trào này không có gì mới mẻ bởi nó đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia phương Tây ráo riết thực thi chiến lược "diễn biến hòa bình" với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, “bất tuân dân sự” dần trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Hiện nay thủ đoạn nói trên đã được đẩy lên cấp độ mới trắng trợn, ráo riết hơn rất nhiều để chống phá những quốc gia vẫn lựa chọn đi theo con đường XHCN hoặc các quốc gia có chế độ “nghịch mắt” với phương Tây. Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại luôn rất nặng nề, kéo dài, gây bất ổn, chia rẽ sâu sắc trong lòng xã hội, giữa người dân trong một quốc gia, vùng lãnh thổ. Thực tế, các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, kéo dài tại một số quốc gia đã minh chứng rõ điều này.

                                                                                        Đa23

Phòng chống "DBHB" trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng - văn hóa

Để phòng chống “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, cần tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ Đảng cả về chính trị - tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh và nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tăng cường củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ Đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng.

Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền vững chắc, làm cho nó thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quần chúng và các thành tố trong hệ thống chính trị.

Xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng XHCN trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sức đề kháng chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch, đẩy lùi, khắc phục tư tưởng lệch lạc, chủ nghĩa giáo điều, cơ hội dưới mọi hình thức. Giáo dục lòng tự hào dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, ý trí tự lực, tự cường của Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

LÃO NÓI THẬT

 Lão nói thật, cứ trông thấy cảnh người người tụ tập say sưa với ly rượu lon bia, sau đó ra về với dáng đi xiêu vẹo thì lão nghĩ, đến ngay gia đình của người ấy có khi cũng chẳng nhờ cậy được gì, chứ đừng nói đến đất nước. Ăn và uống đều cần có một trình văn hóa nhất định. Lão nói thế thôi, nếu đụng chạm vào người tử tế thì cho lão xin lỗi.

Nhưng cái tai nạn do rượu gây nên cứ xảy ra hàng ngày, kẻ thì chết ngay trên đường về nhà; kẻ thì gây án mạng cho người khác; kẻ thì làm tan cửa nát nhà, anh em giết nhau, cha con đoạt mạng nhau; có kẻ được rượu bia dẫn lối vào tới tận trại giam, nhẹ nhất thì cũng vào nơi có các bác sĩ đang phải thực hiện một ca cấp cứu. Lão nói thật, những người nát rượu là những người không có bản lĩnh, chẳng làm nên cơm cháo gì. Có khi xã hội và gia đình phải nuôi báo cô.
Lão nói thật, cứ trông thấy mấy anh choai choai đi xe gắn máy buông hai tay, rồi đi bằng một bánh, rồi lạng lách đánh võng, thì có khi gia đình cũng mất nhờ, chứ đừng nói gì đến đất nước, chẳng những thế, có khi người đầu bạc lại phải khóc kẻ đầu xanh. Mày chết thì yên cái thân mày, nhưng tội người già lắm!
Lão nói thật, lão rất không ưa những người lấn chiếm lòng lề đường để kinh doanh. Ở ngay con đường trước chung cư lão đang ở, chả thiếu gì nam thanh nữ tú, họ đẩy một cái xe trên bày trái cây, người thì bán trà sữa, kẻ lại bán “chạo thịt bò”, nhất là trúng vào ngày lễ ngày tết thì còn thêm hàng hoa tươi, hoa khô đủ cả, thôi thì hầm bà làng. Mỗi lần lão muốn qua là phải vòng xuống lòng đường, tội cái thân già lắm, hai tay lão cứ phải huơ lên để cho những xe máy, xe hơi từ xa nhìn thấy mà tránh cho lão được an toàn. Nếu có ai nói động đến thì luôn sẵn có một câu, rằng thì là “người ta nghèo nên mới phải làm thế!”. À thì ra nghèo là có quyền bất chấp luật pháp nhỉ? Mà đâu phải cứ ai nghèo cũng thế. Có biết bao nhiêu người luôn thực hành câu “đói cho sạch, rách cho thơm” đó thôi! Thế cái câu “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” chỉ dành cho những người tôn trọng luật pháp hay sao?
Lão nói thật, những kẻ lừa đảo không nên sống trong xã hội này. Bởi chúng ác lắm! Chúng lừa được ai là chúng lừa, bất chấp người bị lừa thuộc tầng lớp giàu hay nghèo, trẻ hay già. Già đầu như lão cũng vừa bị lừa đó. Hắn đưa lên tấm hình nói rằng đây là “Lan Nam Phi” và trồng bằng củ. Thế là lão mua mấy chục củ, khi thành cây thì đó là cây “tóc tiên” mà ở quê lão họ trồng ven lối đi cho đẹp. Lão luôn tâm niệm một câu, rằng “gieo nhân nào thì gặt quả đó” cho nên lão không buồn cho lão mà lão buồn thay cho gia đình những kẻ lừa đảo, chúng chẳng bao giờ khá lên được. Tiền “vào lỗ hà thì nó lại ra lỗ hổng” thôi.
Lão nói thật, người xưa dạy rằng, “con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”, nhưng trong xã hội ta ngày nay, chẳng thiếu gì kẻ cứ ăn xong lại chê đất chê nước, chê trên chê dưới, chê trong chê ngoài. Có thành tựu nó cũng chê mà không có nó cũng chê. Nếu như nó chê rồi nó góp sức mình làm cho tốt lên thi lão chẳng nói làm gì, đằng này nó có mồm ăn, có mồm chê nhưng cái chân cái tay lại không chịu động đậy. Xã hội gần như phải nuôi báo cô bọn chúng nó. Thật ra nuôi con chó giữ nhà có khi lại có ích hơn đấy.
Đừng ai hỏi lão đã đóng góp được gì cho xã hội? Cái sự đóng góp của lão thì chả bằng ai, nhưng lão không phải hổ thẹn với đời. Bây giờ về già lão ngồi lão khuyên nhủ con cháu trong gia đình lão đừng làm gì phạm pháp, đồng thời lão chửi những kẻ “ăn cháo đá bát” cho xã hội này bớt đi một ít rác rưởi là lão có đóng góp rồi.
Còn ối chuyện để lão nói, nhưng thôi hãy nhớ câu, “tu thân, trị quốc, bình thiên hạ”, có tu thân thì mới làm nên việc lớn. Bây giờ lão đang vui đấy!
Hình trong bài: Nhân và quả ./.
St

CHUYỆN XƯA- NGẪM NAY

  Một ông Vua đi vi hành, thấy dân gánh vú sữa tươi bán ven đường. Vua lệnh cho Nội Vụ Phủ (Bộ tài chính) lấy 5 đồng tiền vàng mua vú sữa.

- Bộ vụ phủ thực xuất 4,5 đồng cho Bộ Hộ (vì trích thu ngay 10% thuế VAT).
- Bộ Hộ giao cho Quan Ngự y 4 đồng, lý do trừ phí giao dịch.
- Quan Ngự y giao cho Quan ngoại vụ 3 đồng (giữ lại một đồng phí kiểm duyệt)
- Quan ngoại vụ chuyển cho quan tỉnh 2 đồng (giữ một đồng quỹ bình ổn giá)
- Quan tỉnh giao quan Huyện 1 đồng (giữ một đồng phí An toàn Vệ sinh thực phẩm).
- Còn 1 đồng, Quan Huyện cuỗm nốt, hắn truyền chỉ cho xã trưởng, xã trưởng quát Trưởng thôn tịch thu cả gánh vú sữa, tiến Vua!.
Dân ca thán vì mất cả gánh quả mà chả được xu nào, nhưng các quan động viên:
- Đó là sản vật được tiến Vua, vinh dự lắm đấy, có tiền chả mua được đâu !
Ông bán vú sữa căm lũ quan chó má nhưng không dám ho he, lỡ nó vu vạ cho thì chết cả họ, không khéo tù mọt gông chứ chả chơi(?!)
Thế là gánh vú sữa được nhanh chóng chuyển lên trên, đến Huyện còn 1 bên, đến tỉnh còn một rổ, đến các bộ còn 10 quả, Ngự y giữ 5 để lưu kho phòng độc ...
Và đến Vua còn đúng 5 quả. Vua ăn tấm tắc khen ngon, nói: dân sướng thật, vừa ngon vừa bán được giá !
(Thế là gay lắm rồi đây!)
Nhưng chưa, chưa hết !.
Vì lũ quan từ trên xuống ăn chặn làm bậy khổ dân. Nhưng Vua lại nghĩ: "dân bán mỗi quả 1 đồng tiền vàng, thế thì mỗi gánh cả cân vàng chứ ít đâu, lạm phát chết mất thôi !"
Lệnh tăng thuế trái cây được ban ngay sau chuyến vi hành.
Nhìn dân bị cướp, bị thuế siết chặt, cổ ngoẵng ra như cổ cò, lưỡi thè lè ngư tắc kè hoa.
"Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan", là có thật !.
Nay hết giặc, còn toàn quan..., lại chợt nhớ cụ Tú Xương chúc tết:
"Bắt chước ai ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời.
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước,
Sao được cho ra cái giống người"
Chuyện xưa đã buồn, chợt nghĩ thời nay cũng chả vui thú gì:
Vốn thì do nhà nước đầu tư, nhà máy điện xây thêm mỗi năm.
Tổ quốc là máu xương chiến sĩ, Đất là xương thịt đồng bào, Rừng của thiên nhiên, nước của giời...thế mà giá điện chả khi nào giảm, bọn nó toàn kêu lỗ, lăm le, đe dọa dân, tăng hết bậc thang nọ, năm tháng kia. Lương công nhân điện hơn sĩ quan QĐ, CA, Thế mà sân tennis, sân golf, resot, đất cho thuê, công trình phúc lợi cho ngành điện lại cũng tăng vọt theo...bọn nó lấy tiền đâu ra nhỉ?, hay lương ngành họ cao quá, mà hè nhau góp vào ?!
- Suy cho cùng có lẽ vẫn từ kw điện, từ túi dân đen mà ra cả ?!!!.
Giá xăng thì tăng 5,6 lần, sẽ "lại" giảm một lần, "tăng nhẹ chỉ 1.000đ, giảm sâu đến 50 đ", chuyện thật mà cứ như chuyện lừa trẻ con.
Ngẫm, Thời nào dân đen, con đỏ cũng trăm đường khổ, thấp cổ bé họng biết kêu ai - chỉ còn trông chờ vào ông "đại diện". Thế mà có ông đại diện lại cho ý kiến chi cả nghìn tỷ cắt lỗ cho ngành điện. Thế mới khôn chứ, tiên sư anh Tào Tháo!
Dân khổ vì quan thì rõ rồi, ở nhà còn khổ vì chó, vì mèo và cả vì chấy rận nữa đấy. !!!
Mà cũng tại các ông bà thích làm dân, chứ tốt nhất là đừng làm dân, làm quan sướng hơn, bởi thế cho nên toàn thấy chạy làm quan, có thấy ai chạy làm dân đâu...
Nhưng có một điều, gặm đầy mồm nhầy nhụa mỡ, xây biệt phủ, lâu đài, lắm đất, nhiều tiền. Gặp số đen, vận hẻo, coi như vào tù là cái chắc.
Nghe đâu một lũ quan ĐL đang bị sờ gáy đấy.
Quan cũng khổ lắm dân ạ, có sung sướng gì đâu ?!
Chào, những đồng chí chưa bị lộ !
St

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị

 Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định đã xác định chống phá về chính trị là khâu then chốt nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chính trị của Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thiếu sót, hạn chế của Đảng, Nhà nước, kích động những phần tử cực đoan, kích động thực hiện chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập để hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Địch tập trung phá ta về lý luận, đồng thời khuyến khích những quan điểm lệnh lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ, làm chệch định hướng XHCN ở nước ta.

Thực hiện ý đồ trên, chúng đã dùng các biện pháp, thủ đoạn móc nối, kích động nhiều người chống lại quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của nhà nước. Tuyên truyền, gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước tạo ra sự chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản. Chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo một số văn nghệ sĩ, phóng viên có xu thế cấp tiến, đầu tư ngầm cho một số cơ quan báo chí, truyền thông, mạng internet, in, xuất bản, từng bước thao túng và chi phối các lĩnh vực này. Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý tác động làm chệch hướng XHCN thông qua chiến lược giáo dục - đào tạo, thúc đẩy sự phát triển các trường quốc tế... theo mô hình hệ thống giáo dục - đào tạo của Mỹ và phương Tây tạo nên làn sóng du học ở nước ngoài...

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế

 Trên lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch chủ trương dùng biện pháp kinh tế làm mũi nhọn, âm mưu thông qua hợp tác kinh tế để can dự vào nội bộ, dùng kinh tế gây sức ép tác động, chuyển hóa chính trị, lái nền kinh tế đi chệch hướng XHCN. Thông qua thủ đoạn chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường, để chống phá nền kinh tế Việt Nam. Thực hiện chủ trương tư nhân hóa tài sản, mở rộng kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế thị trường tự do, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, tiến tới thiết lập một nền kinh tế tư bản dưới sự điều khiển của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam. Hoạt động chủ yếu của chúng dùng sát thủ kinh tế tìm kiếm lợi ích ở Việt Nam, cố gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ đó gây rối loạn chính trị, làm suy yếu và sụp đổ CNXH ở Việt Nam.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vưc dân tộc, tôn giáo

 Trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước ta; cùng những thiếu sót trong công tác quản lý và trình độ dân trí còn thấp của một bộ phận Nhân dân để tổ chức truyền đạo trái phép, xuyên tạc đường lối của Đảng ở nhiều địa phương, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, theo đạo. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các Đảng phái, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ (như ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004...). Lợi dụng các lực lượng phản động trong các vùng dân tộc thiểu số, kích động Nhân dân đòi thành lập khu tự trị như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ của nước ta thời gian qua.

Tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

Đại hội XIII của Đảng đánh dấu sự phát triển sang một thời kỳ mới trong đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng, đòi hỏi tăng cường phát huy sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua con đường hữu hiệu nhất là thực hiện tốt hơn, mạnh mẽ hơn quyền làm chủ của mỗi người dân Việt Nam yêu nước và tiến bộ. Để góp phần thực hiện định hướng đó, cần tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, coi đó là một công cụ thiết thực để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thực chất.

Tối ưu hóa hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội được hiểu là làm sao để hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội đạt đến mức tốt nhất trong hoàn cảnh cho phép. Muốn vậy, trước hết cần xác định hệ tiêu chí để đánh giá hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, có thể nêu lên một số tiêu chí sau đây:

- Lựa chọn đúng vấn đề để tiến hành giám sát, phản biện xã hội là những vấn đề bức thiết của nhân dân, đòi hỏi phải được can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

- Xác định đúng chủ thể giám sát, phản biện xã hội, tạo điều kiện cần và đủ để bảo đảm hiệu quả giám sát, phản biện xã hội tối ưu nhất.

- Lựa chọn phương thức giám sát, phản biện xã hội phù hợp với khách thể giám sát, phản biện.

- Kết luận của giám sát, phản biện xã hội phải có tính thuyết phục cao.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm tăng cường đồng thuận và đoàn kết xã hội, đoàn kết quốc tế, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Những tiêu chí trên đây thể hiện bản chất và yêu cầu của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, phân biệt rõ sự khác nhau của hoạt động này với việc đóng góp ý kiến, phản ánh, kiến nghị, khuyến cáo... mà lâu nay vẫn thường được thực hiện và thường ngộ nhận rằng đó chính là giám sát, phản biện xã hội.

Muốn đạt hiệu quả tối ưu, cần phải tạo những điều kiện tối ưu để thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Từ kinh nghiệm thực tế, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát huy dân chủ mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện quan trọng hàng đầu là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân, khẳng định về sự cần thiết khách quan của giám sát, phản biện xã hội trong toàn Đảng, trong hệ thống chính trị và trong nhân dân; khắc phục sự chần chừ, ngần ngại, đề phòng và bác bỏ những quan điểm sai lệch, tiêu cực; bảo đảm tính tự nguyện của chủ thể và khách thể giám sát, phản biện xã hội.

Thứ hai, xây dựng hệ thống thể chế pháp luật đồng bộ và nhất quán, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân cho các chủ thể phản biện; chú trọng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và người dân.

Thứ ba, tạo ra những hình thức và giải pháp để gắn bó quan hệ giữa hệ thống lãnh đạo, quản lý các cấp với các tầng lớp nhân dân, để hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hiểu thấu lòng dân là điều kiện quan trọng để giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả; trong đó, chú trọng đến các hình thức, như thăm dò dư luận xã hội, trưng cầu dân ý, đối thoại và tiếp xúc với nhân dân một cách thực chất.

Thứ tư, bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí theo quy định của pháp luật. Thực hiện cơ chế để tôn trọng những ý kiến khác nhau khi không trái với lợi ích chung.

Thứ năm, tạo cơ chế tự chủ trong hoạt động của các chủ thể giám sát, phản biện xã hội, nhằm bảo đảm tính khách quan của giám sát, phản biện xã hội.

Tạo ra những điều kiện trên đây là một quá trình chuyển động không đơn giản, đòi hỏi sự chuyển đổi từ quan điểm, nhận thức đến cơ chế vận hành và tổ chức cán bộ. Vấn đề không dừng ở những nội dung tác nghiệp, những khâu nghiệp vụ của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, mà là sự đổi mới tư duy và hành động thực hành dân chủ. Bao trùm lên tất cả là cần xuất phát từ động cơ trong sáng, một lòng vì nước, vì dân, bằng mọi cách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Mặc dù chủ trương giám sát, phản biện xã hội là đúng đắn, hợp lòng dân, nhanh chóng được xã hội hưởng ứng, nhưng hiệu quả của chủ trương này chưa được như mong muốn, do vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số điều kiện cần và đủ cho hoạt động này.

Người dân trở thành trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - đó là vinh dự và trách nhiệm to lớn; song, nhân dân mong muốn được giám sát, phản biện một cách thực chất để những chủ trương, chính sách, pháp luật đi vào được cuộc sống, để quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được bảo đảm và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

HAIVAN

Giám sát, phản biện xã hội thể hiện bản chất dân chủ của chế độ ta

 

Một trong những bài học kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Muốn vậy, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải hiểu rõ lòng dân và thắt chặt mối quan hệ với nhân dân, hết lòng tin cậy và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; tất cả mọi chính sách, mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều phấn đấu cho mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc, ấm no thật sự cho nhân dân; chỉ có như vậy, mới giữ vững, củng cố và tăng cường lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Tư tưởng “dân là gốc” là tư tưởng tiến bộ của nhân loại, được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (năm 1927), là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và được vận dụng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Đại hội XIII của Đảng khẳng định lại tư tưởng này và đặt ra yêu cầu cho giai đoạn hiện nay của nước ta. Nhân dân được xác định là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nghĩa là nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ cao nhất trong sự nghiệp to lớn, vinh quang này và điều đó cũng chính là thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Sự ra đời và mọi hoạt động của hệ thống chính trị nước ta (bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội), xét về bản chất, đều là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho hệ thống chính trị, nhưng giữ lại quyền giám sát và phản biện xã hội để kiểm soát việc thực hiện sự ủy quyền đó. Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là một quá trình tất yếu và phụ thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan ở từng lúc, từng nơi, từng con người cụ thể.

Giám sát và phản biện xã hội là một con đường để thực hiện dân chủ, một công cụ có hiệu quả để thực hiện vai trò làm chủ của nhân dân, thể hiện quan điểm “dân là gốc”. Nó tồn tại một cách khách quan trong phát triển xã hội và có tác dụng, hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ.

Từ khi trở thành chính đảng tiên phong lãnh đạo cách mạng nước ta, nhất là từ khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi dân chủ là bản chất của chế độ và quán triệt quan điểm đó trong đường lối, chủ trương và trong hoạt động lãnh đạo đất nước của mình. Sự ra đời của đường lối đổi mới và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới là sản phẩm của quá trình thực hiện dân chủ; trong đó, hàm chứa quá trình không ngừng giám sát và phản biện của các lực lượng xã hội. Mặc dù trong các nghị quyết của Đảng khi bắt đầu quá trình đổi mới chưa dùng khái niệm “giám sát, phản biện xã hội”, cũng như chưa thực hiện đầy đủ việc giám sát, phản biện xã hội theo đúng nghĩa hiện nay, nhưng những yếu tố của hoạt động giám sát, phản biện xã hội đã được thực hiện trên thực tế, mang lại hiệu quả và tác động tích cực, góp phần đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không ngừng vượt qua những khó khăn, thách thức, khắc phục dần những hạn chế, khuyết điểm để đi đến thành tựu của ngày hôm nay.

Đại hội X của Đảng lần đầu tiên chính thức đặt vấn đề giám sát của quần chúng nhân dân đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên để thực hiện dân chủ, và coi đó là nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhà nước cần tạo cơ chế để thực hiện tốt nhiệm vụ đó. Kế thừa kinh nghiệm của quá khứ, thực hiện chủ trương của Đại hội X của Đảng và các văn bản quy định của Đảng, Nhà nước, các lực lượng xã hội tiếp tục thực hiện giám sát, phản biện xã hội với những bước phát triển mới. Ở nước ta hiện nay, có các lực lượng xã hội đông đảo tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội dưới các hình thức đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển, quy hoạch, dự án... của các ngành, các địa phương, kể cả công tác tổ chức cán bộ. Những lực lượng đó là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, truyền thông, báo chí, tổ chức, cá nhân độc lập và các chủ thể chính thức, phi chính thức, trong đó cần nhấn mạnh là Hội đồng Lý luận Trung ương và Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ... Đó là một lực lượng đa dạng, thể hiện tính quần chúng, tính xã hội rộng rãi của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Hiến pháp và luật pháp của Nhà nước ta công nhận quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội của công dân. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và tạo địa vị pháp lý, trách nhiệm và quyền hạn giám sát, phản biện xã hội cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; và Quyết định số 218-QĐ/TW, “Ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Những văn bản quan trọng đó đã thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, với quan điểm và định hướng đúng đắn cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội, nhằm khơi dậy và thúc đẩy động lực dân chủ từ trong nhân dân, để từng bước hình thành môi trường thuận lợi cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Thực tiễn cho thấy, hoạt động giám sát, phản biện xã hội nhằm đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thời gian qua đã có hiệu quả tích cực, cụ thể là:

- Góp phần nâng cao chất lượng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

- Tăng cường trách nhiệm của Đảng, Nhà nước; gắn bó hơn nữa quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; giúp Đảng, Nhà nước hiểu rõ hơn tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.

- Tăng cường tính năng động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm đối với nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

- Góp phần kiểm soát các xung đột ngôn luận, không để chuyển các xung đột này trở thành xung đột xã hội, giữ vững ổn định chính trị.

Trên con đường phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, các yếu tố của giám sát, phản biện xã hội đã từng bước hình thành. Tuy mới chỉ là bước đầu, nhưng kết quả này đã nhanh chóng được đông đảo nhân dân hưởng ứng và có tác động nhất định trong việc tạo dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với nước ta, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ chính trị. Có thể nói rằng, quá trình đổi mới, xét về thực chất, là quá trình không ngừng dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội, bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế cho đến mọi lĩnh vực khác, trong đó có sự đóng góp tích cực bởi hiệu quả của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Tuy nhiên, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể là:

- Phạm vi hoạt động giám sát, phản biện còn hạn hẹp, nhiều nội dung liên quan đến các vấn đề “quốc kế dân sinh”, đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân vẫn chưa được giám sát, phản biện, bảo vệ. Việc giám sát mới chỉ tiến hành với cá nhân, chưa được tiến hành với đơn vị, tổ chức.

- Không ít hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, còn mang tính hình thức, phần nhiều mới dừng ở sự góp ý một chiều, mang tính phản ánh tình hình, mà chưa đi sâu làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng theo đúng yêu cầu của giám sát, phản biện xã hội.

- Hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa được thực hiện và phối hợp giữa những chủ thể có liên quan, còn mang tính riêng lẻ, nên chưa tạo được sức mạnh tổng hợp và đồng bộ.

Nhìn chung, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân chưa được như mong muốn, một số nơi chưa tạo được niềm tin của nhân dân đối với các chủ thể giám sát, phản biện; quyền làm chủ thực sự của người dân còn có những hạn chế nhất định.

Nguyên nhân của thực trạng đó có thể tìm thấy trên cả hai mặt chủ quan và khách quan. Về khách quan, do những tàn dư của lịch sử để lại, đó là một nền  dân chủ tuy ngày càng tiến bộ rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều bất cập và mang dấu ấn tư tưởng gia trưởng phong kiến, chịu ảnh hưởng tàn dư tập quán tiểu nông, dễ an phận, ngại đối diện, biện luận; trong khi đó, về chủ quan, việc thể chế hóa chủ trương giám sát, phản biện xã hội còn nhiều hạn chế, thiếu cụ thể, thiếu chế tài ràng buộc quyền và trách nhiệm giữa các bên có liên quan, nhất là thiếu sự đồng bộ giữa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng với hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước. Sự hạn chế đó đã chẳng những không thúc đẩy được việc thực hiện một cách nghiêm túc giám sát, phản biện xã hội, mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân với hoạt động này. Trên thực tế, việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội với phương châm rất sáng tạo được đề ra từ hai thập niên trước, nay được bổ sung, phát triển thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của từng con người, từng chủ thể, mà trước hết là người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong môi trường xã hội nước ta, cơ chế và con người còn bất cập là hai yếu tố cơ bản chưa thuận lợi cho việc giám sát, phản biện xã hội. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình và sự mong mỏi của nhân dân.

HAIVAN

Tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam

 

Trong thời gian tới, để tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam nhằm “không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng và nhân dân về vị trí, vai trò của tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.

Đây là giải pháp tiền đề tạo sự thống nhất nhận thức và hành động để tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần. Theo đó, cần “đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc”. Quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Đồng thời, khắc phục các biểu hiện sai lệch trong nhìn nhận vị trí, vai trò của các tiềm lực, khi tuyệt đối hóa tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự hay tiềm lực khoa học…, mà xem nhẹ tiềm lực chính trị - tinh thần. Quan tâm tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong tổng thể các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, trong kế hoạch và tổ chức thực hiện ở mọi cấp, ngành, lĩnh vực và các địa phương.

Thứ hai, tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.

Đối với hệ tư tưởng, chế độ chính trị: Tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thực hiện tốt các chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới toàn diện, đồng bộ. Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”; Chỉ thị số 124-CT/QUTW, ngày 31-3-2011, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, “Về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng kết hợp với giáo dục quốc phòng - an ninh sâu rộng trong toàn xã hội. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội; kích động, gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước, quân đội với nhân dân của các thế lực thù địch.

Thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII. Chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội.

Đối với đường lối đối nội, đối ngoại: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.

Nâng cao nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm của nhân dân: Quan tâm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, trọng dụng nhân tài. Giáo dục, khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới. Tăng cường đồng thuận xã hội, tạo nền tảng tinh thần vững chắc. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo lập cơ sở vật chất vững chắc của sức mạnh tinh thần Việt Nam. Kết hợp đề cao pháp luật với thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đối với giá trị văn hóa tinh thần: Quán triệt và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 76/KL/TW, ngày 4-6-2020, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Kế thừa và phát huy tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, đoàn kết cộng đồng, tinh thần nhân văn, nhân đạo, khơi dậy khát vọng vươn lên. Xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức một cách toàn diện ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể, doanh nghiệp và lực lượng vũ trang để văn hóa thực sự là động lực, đột phá phát triển các tiềm lực khác trong sức mạnh quân sự quốc gia. 

Thứ ba, phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam về tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự.

Quân đội là lực lượng nòng cốt, là nhân tố chủ yếu trong sức mạnh quân sự Việt Nam. Để phát huy vai trò nòng cốt, quân đội phải phục tùng sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thường xuyên tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần. Phát huy và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đẩy mạnh công tác dân vận; tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, các phong trào xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương, nhất là vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, ổn định cuộc sống, góp phần tăng cường niềm tin, sự đồng thuận của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, quân đội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới theo Nghị quyết 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương.

HAIVAN

Tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam


Sức mạnh quân sự quốc gia là tổng thể các lực lượng vật chất, tinh thần của quân đội của một nhà nước và khả năng huy động những lực lượng đó để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ đất nước.

Sức mạnh quân sự quốc gia được tạo ra từ các tiềm lực kinh tế, xã hội, chính trị - tinh thần, khoa học - công nghệ và quân sự. Trong đó, tiềm lực chính trị - tinh thần có vai trò quan trọng, như V.I.Lê-nin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”. Tiềm lực chính trị - tinh thần được biểu hiện ở hệ tư tưởng, chế độ chính trị - xã hội, hệ thống các chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước; năng lực, trình độ nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm, trạng thái tâm lý của nhân dân và lực lượng vũ trang; hệ thống giá trị văn hóa tinh thần. Tiềm lực chính trị - tinh thần là “linh hồn” và chất keo “kết dính” để huy động và nhân lên sức mạnh của các tiềm lực khác. Lịch sử đã chứng minh, nhờ có hệ tư tưởng đúng đắn, có niềm tin, ý chí quyết tâm, hệ thống giá trị văn hóa tinh thần giàu bản sắc, nhân văn…, nên dù tiềm lực kinh tế chưa mạnh, khoa học - công nghệ chưa phát triển…, Việt Nam đã chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn rất nhiều.

Nhận thức được vai trò của tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, như: Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khoá XI, “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9-10-2014, của Bộ Chính trị, “Về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”… Tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự của Việt Nam ngày càng được nâng cao, củng cố vững chắc. Các lực lượng vũ trang nhân dân nhận thức đầy đủ, tin tưởng và kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” luôn là mục tiêu nhất quán của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, là sự thống nhất trong nhận thức, tư tưởng và hành động, tạo nên sự đồng thuận về mặt chính trị - tinh thần trong xã hội. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Mỗi người dân tự có ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…

Tuy nhiên, bên cạnh đó, tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định. “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ”. Bên cạnh đó, “tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”. Chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng làm giảm sút trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ với đất nước, với cộng đồng. Lợi dụng không gian mạng xã hội, một số cá nhân công khai phê phán, bác bỏ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân vào đường lối chính trị của Đảng, gây chia rẽ về tư tưởng chính trị trong xã hội, suy giảm sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân dân, lực lượng quân đội trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc nói chung, tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam nói riêng.

HAIVAN

Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay

 

Kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay, đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy đủ hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”

Nghị quyết nêu rõ, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc trong xây dựng quân đội. Để thực hiện xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tiếp tục xây dựng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc trong quân đội.

Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, các cơ quan vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội, thực hiện nghiêm, có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các cơ quan, đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và phát huy vai trò, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải kịp thời phát hiện, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa” quân đội.

Tích cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vận dụng nghệ thuật quân sự phù hợp, sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ các chủ trương, biện pháp giáo dục, huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

HAIVAN