Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023
HÌNH TƯỢNG HỒ CHÍ MINH TRONG THƠ XUÂN DIỆU
“Bất tuân dân sự” - một phong trào không mới
“Bất tuân
dân sự” (thực chất là chống đối chính phủ dân sự) được nêu ra lần đầu tiên
trong tập tiểu luận nhan đề “Dân sự bất hợp tác” của Henry David Thoreau - một
phạm nhân phải ngồi tù ở bang Massachusetts (Mỹ) vì tội không đóng thuế. Thế
nên, nội dung chủ đạo trong tập tiểu luận là quan điểm cực đoan, vô chính phủ
và được khoác ngôn từ hoa mỹ là “bất tuân dân sự”. Mặc dù ở thời điểm mới xuất
hiện, tiểu luận “Dân sự bất hợp tác” không gây được sự ảnh hưởng nào, song sang
thế kỷ XX, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Henry David Thoreau
được một số kẻ lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh. Theo thời gian,
“bất tuân dân sự” đã bị các thế lực biến tướng, lợi dụng vào các mục đích khác
nhau, đặc biệt là để chống phá các nước XHCN, các quốc gia, vùng lãnh thổ không
phù hợp với lợi ích của họ. Theo giải thích của từ điển mở Wikipedia thì: “Bất
tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất
định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng…
Bất tuân dân sự đôi khi được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”.
Cũng theo
từ điển này, những vụ bất tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai
Cập chống lại sự chiếm đóng của Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã
được sử dụng trong nhiều phong trào phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia,
như chiến dịch của Gandhi để giành độc lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến
chống phân biệt chủng tộc của Mandela ở Nam Phi. Phương thức hoạt động này được
áp dụng trong cuộc "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở
Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ XX, làn sóng "Mùa xuân Ả
Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, phong trào biểu
tình nhằm lật đổ chính phủ ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào chống
sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2019...
Hiện nay,
có nhiều quan niệm khác nhau về “bất tuân dân sự” nhưng thực chất đó là các
hoạt động vi phạm cố ý đối với một số đạo luật nhằm cản trở quá trình thực thi
chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức gây áp lực buộc nhà nước phải
thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền. Vì thế, bản chất
đây là hành vi vi phạm pháp luật nếu chiểu theo pháp luật của bất kỳ quốc gia
nào.
Điều này
khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế
giới đều thực hiện, đó là thiểu số phục tùng đa số, lợi ích riêng phải nằm
trong lợi ích chung, lợi ích cá nhân, nhóm người phải phục tùng lợi ích cộng
đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, “bất tuân dân sự” về cơ bản thể hiện tư tưởng
cực đoan, vô chính phủ, hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận
(ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).
Phong trào
này không có gì mới mẻ bởi nó đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX. Sau Chiến tranh
thế giới thứ hai, các quốc gia phương Tây ráo riết thực thi chiến lược
"diễn biến hòa bình" với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh
vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, “bất tuân dân sự” dần trở thành một phương
thức, thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Hiện nay
thủ đoạn nói trên đã được đẩy lên cấp độ mới trắng trợn, ráo riết hơn rất nhiều
để chống phá những quốc gia vẫn lựa chọn đi theo con đường XHCN hoặc các quốc
gia có chế độ “nghịch mắt” với phương Tây. Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại
luôn rất nặng nề, kéo dài, gây bất ổn, chia rẽ sâu sắc trong lòng xã hội, giữa
người dân trong một quốc gia, vùng lãnh thổ. Thực tế, các cuộc khủng hoảng
nghiêm trọng, kéo dài tại một số quốc gia đã minh chứng rõ điều này.
Đa23
Phòng chống "DBHB" trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng - văn hóa
Để phòng chống “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, cần tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ Đảng cả về chính trị - tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh và nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tăng cường củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ Đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng.
Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền vững chắc, làm cho nó thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quần chúng và các thành tố trong hệ thống chính trị.
Xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng XHCN trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sức đề kháng chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch, đẩy lùi, khắc phục tư tưởng lệch lạc, chủ nghĩa giáo điều, cơ hội dưới mọi hình thức. Giáo dục lòng tự hào dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, ý trí tự lực, tự cường của Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
LÃO NÓI THẬT
Lão nói thật, cứ trông thấy cảnh người người tụ tập say sưa với ly rượu lon bia, sau đó ra về với dáng đi xiêu vẹo thì lão nghĩ, đến ngay gia đình của người ấy có khi cũng chẳng nhờ cậy được gì, chứ đừng nói đến đất nước. Ăn và uống đều cần có một trình văn hóa nhất định. Lão nói thế thôi, nếu đụng chạm vào người tử tế thì cho lão xin lỗi.
CHUYỆN XƯA- NGẪM NAY
Một ông Vua đi vi hành, thấy dân gánh vú sữa tươi bán ven đường. Vua lệnh cho Nội Vụ Phủ (Bộ tài chính) lấy 5 đồng tiền vàng mua vú sữa.
Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị
Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định đã xác định chống phá về chính trị là khâu then chốt nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chính trị của Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thiếu sót, hạn chế của Đảng, Nhà nước, kích động những phần tử cực đoan, kích động thực hiện chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập để hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Địch tập trung phá ta về lý luận, đồng thời khuyến khích những quan điểm lệnh lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ, làm chệch định hướng XHCN ở nước ta.
Thực hiện ý đồ trên, chúng đã dùng các biện pháp, thủ đoạn móc nối, kích động nhiều người chống lại quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của nhà nước. Tuyên truyền, gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước tạo ra sự chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản. Chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo một số văn nghệ sĩ, phóng viên có xu thế cấp tiến, đầu tư ngầm cho một số cơ quan báo chí, truyền thông, mạng internet, in, xuất bản, từng bước thao túng và chi phối các lĩnh vực này. Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý tác động làm chệch hướng XHCN thông qua chiến lược giáo dục - đào tạo, thúc đẩy sự phát triển các trường quốc tế... theo mô hình hệ thống giáo dục - đào tạo của Mỹ và phương Tây tạo nên làn sóng du học ở nước ngoài...
Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế
Trên lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch chủ trương dùng biện pháp kinh tế làm mũi nhọn, âm mưu thông qua hợp tác kinh tế để can dự vào nội bộ, dùng kinh tế gây sức ép tác động, chuyển hóa chính trị, lái nền kinh tế đi chệch hướng XHCN. Thông qua thủ đoạn chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường, để chống phá nền kinh tế Việt Nam. Thực hiện chủ trương tư nhân hóa tài sản, mở rộng kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế thị trường tự do, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, tiến tới thiết lập một nền kinh tế tư bản dưới sự điều khiển của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam. Hoạt động chủ yếu của chúng dùng sát thủ kinh tế tìm kiếm lợi ích ở Việt Nam, cố gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ đó gây rối loạn chính trị, làm suy yếu và sụp đổ CNXH ở Việt Nam.
Diễn biến hòa bình trên lĩnh vưc dân tộc, tôn giáo
Trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước ta; cùng những thiếu sót trong công tác quản lý và trình độ dân trí còn thấp của một bộ phận Nhân dân để tổ chức truyền đạo trái phép, xuyên tạc đường lối của Đảng ở nhiều địa phương, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, theo đạo. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các Đảng phái, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ (như ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004...). Lợi dụng các lực lượng phản động trong các vùng dân tộc thiểu số, kích động Nhân dân đòi thành lập khu tự trị như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ của nước ta thời gian qua.
Tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản biện xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Đại
hội XIII của Đảng đánh dấu sự phát triển sang một thời kỳ mới trong đường lối
lãnh đạo đất nước của Đảng, đòi hỏi tăng cường phát huy sức mạnh nội lực của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thông qua con đường hữu hiệu nhất là thực hiện
tốt hơn, mạnh mẽ hơn quyền làm chủ của mỗi người dân Việt Nam yêu nước và tiến
bộ. Để góp phần thực hiện định hướng đó, cần tối ưu hóa hiệu quả giám sát, phản
biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, coi
đó là một công cụ thiết thực để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách
thực chất.
Tối
ưu hóa hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội được hiểu là làm sao để hiệu quả
của giám sát, phản biện xã hội đạt đến mức tốt nhất trong hoàn cảnh cho phép.
Muốn vậy, trước hết cần xác định hệ tiêu chí để đánh giá hiệu quả của giám sát,
phản biện xã hội. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, có thể nêu
lên một số tiêu chí sau đây:
-
Lựa chọn đúng vấn đề để tiến hành giám sát, phản biện xã hội là những vấn đề
bức thiết của nhân dân, đòi hỏi phải được can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
-
Xác định đúng chủ thể giám sát, phản biện xã hội, tạo điều kiện cần và đủ để
bảo đảm hiệu quả giám sát, phản biện xã hội tối ưu nhất.
-
Lựa chọn phương thức giám sát, phản biện xã hội phù hợp với khách thể giám sát,
phản biện.
-
Kết luận của giám sát, phản biện xã hội phải có tính thuyết phục cao.
-
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội phải bảo đảm tăng cường đồng thuận và đoàn
kết xã hội, đoàn kết quốc tế, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.
Những
tiêu chí trên đây thể hiện bản chất và yêu cầu của hoạt động giám sát, phản
biện xã hội, phân biệt rõ sự khác nhau của hoạt động này với việc đóng góp ý
kiến, phản ánh, kiến nghị, khuyến cáo... mà lâu nay vẫn thường được thực hiện
và thường ngộ nhận rằng đó chính là giám sát, phản biện xã hội.
Muốn
đạt hiệu quả tối ưu, cần phải tạo những điều kiện tối ưu để thực hiện giám sát,
phản biện xã hội. Từ kinh nghiệm thực tế, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát huy
dân chủ mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần có những điều kiện sau đây:
Thứ
nhất, điều kiện quan trọng hàng đầu là đổi mới sự lãnh
đạo của Đảng, nhằm quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng về phát
huy vai trò trung tâm, chủ thể của nhân dân, khẳng định về sự cần thiết khách
quan của giám sát, phản biện xã hội trong toàn Đảng, trong hệ thống chính trị
và trong nhân dân; khắc phục sự chần chừ, ngần ngại, đề phòng và bác bỏ những
quan điểm sai lệch, tiêu cực; bảo đảm tính tự nguyện của chủ thể và khách thể
giám sát, phản biện xã hội.
Thứ
hai, xây
dựng hệ thống thể chế pháp luật đồng bộ và nhất quán, bảo đảm tính công khai,
minh bạch trong thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân cho
các chủ thể phản biện; chú trọng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và người dân.
Thứ
ba,
tạo ra những hình thức và giải pháp để gắn bó quan hệ giữa hệ thống lãnh đạo,
quản lý các cấp với các tầng lớp nhân dân, để hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn về tâm
tư, nguyện vọng của nhân dân. Hiểu thấu lòng dân là điều kiện quan trọng để
giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả; trong đó, chú trọng đến các hình thức,
như thăm dò dư luận xã hội, trưng cầu dân ý, đối thoại và tiếp xúc với nhân dân
một cách thực chất.
Thứ
tư,
bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí theo quy định của pháp luật. Thực hiện
cơ chế để tôn trọng những ý kiến khác nhau khi không trái với lợi ích chung.
Thứ
năm,
tạo cơ chế tự chủ trong hoạt động của các chủ thể giám sát, phản biện xã hội,
nhằm bảo đảm tính khách quan của giám sát, phản biện xã hội.
Tạo
ra những điều kiện trên đây là một quá trình chuyển động không đơn giản, đòi
hỏi sự chuyển đổi từ quan điểm, nhận thức đến cơ chế vận hành và tổ chức cán
bộ. Vấn đề không dừng ở những nội dung tác nghiệp, những khâu nghiệp vụ của
hoạt động giám sát, phản biện xã hội, mà là sự đổi mới tư duy và hành động thực
hành dân chủ. Bao trùm lên tất cả là cần xuất phát từ động cơ trong sáng, một
lòng vì nước, vì dân, bằng mọi cách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của nhân dân. Mặc dù chủ trương giám sát, phản biện xã hội là đúng đắn,
hợp lòng dân, nhanh chóng được xã hội hưởng ứng, nhưng hiệu quả của chủ trương
này chưa được như mong muốn, do vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số điều kiện
cần và đủ cho hoạt động này.
Người
dân trở thành trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc - đó là vinh dự và trách nhiệm to lớn; song, nhân dân mong muốn được giám
sát, phản biện một cách thực chất để những chủ trương, chính sách, pháp luật đi
vào được cuộc sống, để quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân được
bảo đảm và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân.
HAIVAN
Giám sát, phản biện xã hội thể hiện bản chất dân chủ của chế độ ta
Một
trong những bài học kinh nghiệm mà Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định là:
“Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan
điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là
chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Muốn vậy, mọi chủ
trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện
vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phải hiểu rõ lòng dân
và thắt chặt mối quan hệ với nhân dân, hết lòng tin cậy và dựa vào nhân dân để
xây dựng Đảng; tất cả mọi chính sách, mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều
phấn đấu cho mục tiêu cao nhất là vì hạnh phúc, ấm no thật sự cho nhân dân; chỉ
có như vậy, mới giữ vững, củng cố và tăng cường lòng tin cậy của nhân dân đối
với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Tư
tưởng “dân là gốc” là tư tưởng tiến bộ của nhân loại, được Chủ tịch Hồ Chí Minh
nêu trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (năm 1927), là sợi chỉ đỏ xuyên
suốt và được vận dụng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ từng giai đoạn lịch sử cụ
thể. Đại hội XIII của Đảng khẳng định lại tư tưởng này và đặt ra yêu cầu cho
giai đoạn hiện nay của nước ta. Nhân dân được xác định là trung tâm, là
chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nghĩa là
nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ cao nhất trong sự nghiệp to lớn, vinh quang
này và điều đó cũng chính là thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mọi
quyền lực đều thuộc về nhân dân. Sự ra đời và mọi hoạt động của hệ thống chính
trị nước ta (bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội), xét về bản chất, đều là thực hiện sự ủy quyền của nhân
dân. Nhân dân ủy quyền cho hệ thống chính trị, nhưng giữ lại quyền giám sát và
phản biện xã hội để kiểm soát việc thực hiện sự ủy quyền đó. Việc thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân là một quá trình tất yếu và phụ thuộc vào điều kiện
chủ quan và khách quan ở từng lúc, từng nơi, từng con người cụ thể.
Giám
sát và phản biện xã hội là một con đường để thực hiện dân chủ, một công cụ có
hiệu quả để thực hiện vai trò làm chủ của nhân dân, thể hiện quan điểm “dân là
gốc”. Nó tồn tại một cách khách quan trong phát triển xã hội và có tác dụng,
hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ.
Từ
khi trở thành chính đảng tiên phong lãnh đạo cách mạng nước ta, nhất là từ khi
trở thành đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi
dân chủ là bản chất của chế độ và quán triệt quan điểm đó trong đường lối, chủ
trương và trong hoạt động lãnh đạo đất nước của mình. Sự ra đời của đường lối
đổi mới và thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới là sản
phẩm của quá trình thực hiện dân chủ; trong đó, hàm chứa quá trình không ngừng
giám sát và phản biện của các lực lượng xã hội. Mặc dù trong các nghị quyết của
Đảng khi bắt đầu quá trình đổi mới chưa dùng khái niệm “giám sát, phản biện xã
hội”, cũng như chưa thực hiện đầy đủ việc giám sát, phản biện xã hội theo đúng
nghĩa hiện nay, nhưng những yếu tố của hoạt động giám sát, phản biện xã hội đã
được thực hiện trên thực tế, mang lại hiệu quả và tác động tích cực, góp phần
đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không ngừng vượt qua những khó khăn,
thách thức, khắc phục dần những hạn chế, khuyết điểm để đi đến thành tựu của
ngày hôm nay.
Đại
hội X của Đảng lần đầu tiên chính thức đặt vấn đề giám sát của quần chúng nhân
dân đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên để thực hiện dân
chủ, và coi đó là nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội. Nhà nước cần tạo cơ chế để thực hiện tốt nhiệm vụ đó. Kế thừa
kinh nghiệm của quá khứ, thực hiện chủ trương của Đại hội X của Đảng và các văn
bản quy định của Đảng, Nhà nước, các lực lượng xã hội tiếp tục thực hiện giám
sát, phản biện xã hội với những bước phát triển mới. Ở nước ta hiện nay, có các
lực lượng xã hội đông đảo tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội dưới
các hình thức đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước; các chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển, quy hoạch, dự
án... của các ngành, các địa phương, kể cả công tác tổ chức cán bộ. Những lực
lượng đó là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội doanh
nghiệp, truyền thông, báo chí, tổ chức, cá nhân độc lập và các chủ thể chính
thức, phi chính thức, trong đó cần nhấn mạnh là Hội đồng Lý luận Trung ương và
Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ... Đó là một lực lượng đa dạng, thể hiện tính
quần chúng, tính xã hội rộng rãi của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.
Hiến
pháp và luật pháp của Nhà nước ta công nhận quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm
quyền tự do, bình đẳng, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện giám sát, phản
biện xã hội của công dân. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã quy định Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của nhân dân và tạo địa vị pháp lý, trách nhiệm và quyền hạn giám sát, phản
biện xã hội cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị đã ban
hành Quyết định số 217-QĐ/TW, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”; và Quyết
định số 218-QĐ/TW, “Ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng
chính quyền”. Những văn bản quan trọng đó đã thể hiện quyết tâm chính trị của
Đảng và Nhà nước, với quan điểm và định hướng đúng đắn cho hoạt động giám sát,
phản biện xã hội, nhằm khơi dậy và thúc đẩy động lực dân chủ từ trong nhân dân,
để từng bước hình thành môi trường thuận lợi cho hoạt động giám sát, phản biện
xã hội.
Thực
tiễn cho thấy, hoạt động giám sát, phản biện xã hội nhằm đại diện và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong thời gian qua đã có hiệu
quả tích cực, cụ thể là:
-
Góp phần nâng cao chất lượng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: Chính những ý
kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối
đổi mới của Đảng.
-
Tăng cường trách nhiệm của Đảng, Nhà nước; gắn bó hơn nữa quan hệ giữa Đảng,
Nhà nước với nhân dân; giúp Đảng, Nhà nước hiểu rõ hơn tâm tư, nguyện vọng của
nhân dân.
-
Tăng cường tính năng động, nhạy bén, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm đối
với nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
-
Góp phần kiểm soát các xung đột ngôn luận, không để chuyển các xung đột này trở
thành xung đột xã hội, giữ vững ổn định chính trị.
Trên
con đường phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của
người dân, các yếu tố của giám sát, phản biện xã hội đã từng bước hình thành.
Tuy mới chỉ là bước đầu, nhưng kết quả này đã nhanh chóng được đông đảo nhân
dân hưởng ứng và có tác động nhất định trong việc tạo dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa phù hợp với nước ta, góp phần tích cực vào thành công của công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước,
với chế độ chính trị. Có thể nói rằng, quá trình đổi mới, xét về thực chất, là
quá trình không ngừng dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội, bắt đầu từ lĩnh
vực kinh tế cho đến mọi lĩnh vực khác, trong đó có sự đóng góp tích cực bởi
hiệu quả của hoạt động giám sát, phản biện xã hội.
Tuy
nhiên, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội trong việc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể là:
-
Phạm vi hoạt động giám sát, phản biện còn hạn hẹp, nhiều nội dung liên quan đến
các vấn đề “quốc kế dân sinh”, đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
người dân vẫn chưa được giám sát, phản biện, bảo vệ. Việc giám sát mới chỉ tiến
hành với cá nhân, chưa được tiến hành với đơn vị, tổ chức.
-
Không ít hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn chưa đáp ứng yêu cầu về chất
lượng, còn mang tính hình thức, phần nhiều mới dừng ở sự góp ý một chiều, mang
tính phản ánh tình hình, mà chưa đi sâu làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng
theo đúng yêu cầu của giám sát, phản biện xã hội.
-
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa được thực hiện và phối hợp giữa những
chủ thể có liên quan, còn mang tính riêng lẻ, nên chưa tạo được sức mạnh tổng
hợp và đồng bộ.
Nhìn
chung, hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của người dân chưa được như mong muốn, một số nơi chưa tạo
được niềm tin của nhân dân đối với các chủ thể giám sát, phản biện; quyền làm
chủ thực sự của người dân còn có những hạn chế nhất định.
Nguyên
nhân của thực trạng đó có thể tìm thấy trên cả hai mặt chủ quan và khách
quan. Về khách quan, do những tàn dư của lịch sử để lại, đó là một
nền dân chủ tuy ngày càng tiến bộ rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều bất cập và
mang dấu ấn tư tưởng gia trưởng phong kiến, chịu ảnh hưởng tàn dư tập quán tiểu
nông, dễ an phận, ngại đối diện, biện luận; trong khi đó, về chủ quan,
việc thể chế hóa chủ trương giám sát, phản biện xã hội còn nhiều hạn chế, thiếu
cụ thể, thiếu chế tài ràng buộc quyền và trách nhiệm giữa các bên có liên quan,
nhất là thiếu sự đồng bộ giữa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng với hệ thống văn
bản pháp luật của Nhà nước. Sự hạn chế đó đã chẳng những không thúc đẩy được
việc thực hiện một cách nghiêm túc giám sát, phản biện xã hội, mà còn làm suy
giảm lòng tin của nhân dân với hoạt động này. Trên thực tế, việc thực hiện giám
sát, phản biện xã hội với phương châm rất sáng tạo được đề ra từ hai thập niên
trước, nay được bổ sung, phát triển thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của
từng con người, từng chủ thể, mà trước hết là người đứng đầu địa phương, cơ
quan, đơn vị. Trong môi trường xã hội nước ta, cơ chế và con người còn bất cập
là hai yếu tố cơ bản chưa thuận lợi cho việc giám sát, phản biện xã hội. Đó
chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hiệu quả của giám sát, phản biện xã hội chưa
đáp ứng được yêu cầu của tình hình và sự mong mỏi của nhân dân.
HAIVAN
Tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam
Trong
thời gian tới, để tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân
sự Việt Nam nhằm “không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ
vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững
bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”, cần thực hiện tốt một số giải
pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ
chức, lực lượng và nhân dân về vị trí, vai trò của tiềm lực chính trị - tinh
thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.
Đây
là giải pháp tiền đề tạo sự thống nhất nhận thức và hành động để tăng cường
tiềm lực chính trị - tinh thần. Theo đó, cần “đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân,
của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ
tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc”. Quán triệt sâu sắc quan điểm
phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát
triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu,
thường xuyên. Đồng thời, khắc phục các biểu hiện sai lệch trong nhìn nhận vị
trí, vai trò của các tiềm lực, khi tuyệt đối hóa tiềm lực kinh tế, tiềm lực
quân sự hay tiềm lực khoa học…, mà xem nhẹ tiềm lực chính trị - tinh thần. Quan
tâm tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong tổng thể các chủ trương,
đường lối, chính sách, pháp luật, trong kế hoạch và tổ chức thực hiện ở mọi
cấp, ngành, lĩnh vực và các địa phương.
Thứ hai, tăng cường tiềm lực chính trị - tinh
thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam.
Đối
với hệ tư tưởng, chế độ chính trị: Tiếp tục kiên
định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; thực hiện tốt các chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đổi mới
toàn diện, đồng bộ. Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 23-CT/TW,
ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, “Về tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”; Chỉ thị số
124-CT/QUTW, ngày 31-3-2011, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, “Về tăng cường
lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Đổi
mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng kết hợp
với giáo dục quốc phòng - an ninh sâu rộng trong toàn xã hội. Kiên quyết đấu
tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội; kích động,
gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước, quân
đội với nhân dân của các thế lực thù địch.
Thực
hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương
4 khóa XIII. Chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự
trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là
đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, đủ phẩm chất, năng lực và uy
tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong
sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục đẩy mạnh đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội.
Đối
với đường lối đối nội, đối ngoại: Thực hiện đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn
định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.
Nâng
cao nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm của nhân dân:
Quan tâm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, trọng dụng nhân tài. Giáo dục,
khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Củng cố lòng tin của nhân dân
đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới. Tăng
cường đồng thuận xã hội, tạo nền tảng tinh thần vững chắc. Kết hợp chặt chẽ
giữa tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần với đẩy mạnh phát triển kinh tế
- xã hội, tạo lập cơ sở vật chất vững chắc của sức mạnh tinh thần Việt Nam. Kết
hợp đề cao pháp luật với thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ
nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân theo phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Đối
với giá trị văn hóa tinh thần: Quán triệt và
thực hiện có hiệu quả Kết luận số 76/KL/TW, ngày 4-6-2020, của Bộ Chính trị,
“Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước”. Kế thừa và phát huy tinh thần yêu
nước, tự hào dân tộc, đoàn kết cộng đồng, tinh thần nhân văn, nhân đạo, khơi
dậy khát vọng vươn lên. Xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức một cách toàn diện
ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước,
đoàn thể, doanh nghiệp và lực lượng vũ trang để văn hóa thực sự là động lực,
đột phá phát triển các tiềm lực khác trong sức mạnh quân sự quốc gia.
Thứ
ba, phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam về tăng cường tiềm
lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự.
Quân
đội là lực lượng nòng cốt, là nhân tố chủ yếu trong sức mạnh quân sự Việt Nam.
Để phát huy vai trò nòng cốt, quân đội phải phục tùng sự lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước,
xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Quân
ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thường xuyên tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ
trương, chính sách nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng nền quốc phòng toàn
dân, xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần. Phát huy và nâng cao chất lượng,
hiệu lực, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, góp phần
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ. Đẩy mạnh công tác dân vận; tích cực tham gia xây dựng hệ thống
chính trị ở cơ sở, các phong trào xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, xóa
đói, giảm nghèo ở các địa phương, nhất là vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, ổn định
cuộc sống, góp phần tăng cường niềm tin, sự đồng thuận của nhân dân đối với
Đảng, Nhà nước, quân đội, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Giữ vững và
phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình
hình mới theo Nghị quyết 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương.
HAIVAN
Tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam
Sức
mạnh quân sự quốc gia là tổng thể các lực lượng vật chất, tinh thần của quân
đội của một nhà nước và khả năng huy động những lực lượng đó để thực hiện nhiệm
vụ quốc phòng bảo vệ đất nước.
Sức
mạnh quân sự quốc gia được tạo ra từ các tiềm lực kinh tế, xã hội, chính
trị - tinh thần, khoa học - công nghệ và quân sự. Trong đó, tiềm lực chính trị
- tinh thần có vai trò quan trọng, như V.I.Lê-nin khẳng định: “Trong mọi cuộc
chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang
đổ máu trên chiến trường”. Tiềm lực chính trị - tinh thần được biểu hiện ở
hệ tư tưởng, chế độ chính trị - xã hội, hệ thống các chính sách đối nội, đối
ngoại của nhà nước; năng lực, trình độ nhận thức, niềm tin, ý chí quyết tâm,
trạng thái tâm lý của nhân dân và lực lượng vũ trang; hệ thống giá trị văn hóa
tinh thần. Tiềm lực chính trị - tinh thần là “linh hồn” và chất keo “kết dính”
để huy động và nhân lên sức mạnh của các tiềm lực khác. Lịch sử đã chứng minh,
nhờ có hệ tư tưởng đúng đắn, có niềm tin, ý chí quyết tâm, hệ thống giá trị văn
hóa tinh thần giàu bản sắc, nhân văn…, nên dù tiềm lực kinh tế chưa mạnh, khoa
học - công nghệ chưa phát triển…, Việt Nam đã chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược
có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn rất nhiều.
Nhận
thức được vai trò của tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự
Việt Nam, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc
phòng ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, như: Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày
9-6-2014, của Hội nghị Trung ương 9 khoá XI, “Về xây dựng và phát triển văn
hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Nghị
quyết số 37-NQ/TW, ngày 9-10-2014, của Bộ Chính trị, “Về công tác lý luận và
định hướng nghiên cứu đến năm 2030”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ
Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh”; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng
cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch trong tình hình mới”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII,
“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung
ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị;
kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa”; Cuộc vận động “Xây dựng môi trường
văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với phong trào “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”… Tiềm lực chính trị - tinh
thần trong sức mạnh quân sự của Việt Nam ngày càng được nâng cao, củng cố vững
chắc. Các lực lượng vũ trang nhân dân nhận thức đầy đủ, tin tưởng và kiên định
với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh” luôn là mục tiêu nhất quán của toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân, là sự thống nhất trong nhận thức, tư tưởng và hành động, tạo nên sự đồng
thuận về mặt chính trị - tinh thần trong xã hội. Quan hệ đối ngoại và hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế được nâng cao. Mỗi người dân tự có ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…
Tuy
nhiên, bên cạnh đó, tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt
Nam hiện nay vẫn còn một số hạn chế nhất định. “Một bộ phận cán bộ, đảng viên
phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ”. Bên cạnh đó, “tham
nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội
còn diễn biến phức tạp”. Chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng làm giảm sút
trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ với đất nước, với cộng đồng. Lợi dụng không gian
mạng xã hội, một số cá nhân công khai phê phán, bác bỏ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc đường lối đổi mới của Đảng, hòng làm
giảm lòng tin của nhân dân vào đường lối chính trị của Đảng, gây chia rẽ về tư
tưởng chính trị trong xã hội, suy giảm sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân
dân, lực lượng quân đội trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc nói chung, tiềm lực
chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam nói riêng.
HAIVAN
Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay
Kinh
nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho
bộ đội trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay,
đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy đủ hơn. Nghị quyết Đại hội
XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị; nâng cao chất
lượng tổng hợp và sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng,
Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”
Nghị
quyết nêu rõ, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng
đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc trong xây dựng quân đội.
Để thực hiện xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tiếp tục xây dựng
củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân,
tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc trong quân đội.
Tập
trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, các cơ quan
vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị cho cán
bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính
trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội, thực hiện nghiêm, có hiệu quả Đề án “Đổi
mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các cơ quan,
đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và phát huy vai trò, hiệu
quả của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh
thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh
Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.
Tăng
cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh với các quan điểm
sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong
quân đội; phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của
các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hiện
nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhất là trên không
gian mạng, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải kịp thời phát hiện, chủ động
trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, chống “phi chính trị hóa” quân đội.
Tích
cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp
xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vận dụng nghệ thuật quân sự phù hợp,
sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên,
người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ các chủ trương, biện pháp giáo dục,
huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng quân đội
vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.
HAIVAN
