Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn thủ đoạn “bất tuân dân sự”

Trong giai đoạn hiện nay, một thủ đoạn mới mang tên “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch sử dụng nhằm tăng cường“diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhận diện thủ đoạn “bất tuân dân sự” ở Việt Nam hiện nay để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ sự ổn định chính trị-xã hội là hết sức cần thiết.

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” bắt nguồn lần đầu tiên trong tập tiểu luận của tác giả người Mỹ Henry David Thoreau với tiêu đề “Dân sự bất hợp tác” viết vào tháng 5/1849. Nhằm bào chữa cho việc phải ngồi tù vì tội không đóng thuế ở Massachusetts, Henry David Thoreau viết tập tiểu luận để khẳng định rằng cá nhân (hoặc một bộ phận thiểu số công dân) không cần tuân thủ và phục tùng nhà nước, thậm chí có thể chống lại việc thực thi luật pháp của nhà nước nếu thấy không phù hợp.

Thực chất, đây là quan điểm cực đoan, vô chính phủ, tiềm tàng nguy cơ bất ổn cho xã hội. Sau này, “bất tuân dân sự” dần được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế sử dụng thành thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, âm mưu làm thay đổi chế độ chính trị ở những quốc gia tiến bộ, không cùng “quỹ đạo” với chúng. Dù bề ngoài có vẻ ôn hòa, núp bóng “dân sự”, không bạo lực vũ trang, nhưng phong trào “bất tuân dân sự” đem lại những hiểm họa khôn lường cho xã hội.

Hiện nay, “bất tuân dân sự” được hiểu là hoạt động công khai từ chối tuân theo hoặc cố ý vi phạm với một số quy định pháp luật của nhà nước với những lý do không chính đáng. Về cơ bản, những hành động “bất tuân dân sự” là hình thức phản kháng ôn hòa, bất bạo động nhưng lại thể hiện rõ ràng sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh.

Đặc biệt, với chiến lược “diễn biến hòa bình” từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc xây dựng tư tưởng chủ đạo muốn chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa bởi vậy “bất tuân dân sự” dần trở thành phương thức thủ đoạn có sự liên hệ chặt chẽ các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các đối tượng cơ hội chính trị, các thế lực thù địch ra sức cổ xúy cho “bất tuân dân sự”. Trong các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng hoa hồng” ở Gruzia; “cách mạng cam” ở Ucraina; “cách mạng hoa nhài” (Mùa xuân Ả Rập) ở các nước Trung Đông và Bắc Phi trong những năm đầu thế kỷ XXI, phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Công (Trung Quốc) hay các cuộc biểu tình phản đối sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng Công (Trung Quốc) năm 2019, năm 2020… đều có dấu ấn của “bất tuân dân sự”. Điểm chung của các phong trào này là nhằm gây trở ngại cho hoạt động thực thi công lý, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây khủng hoảng toàn diện cho nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

Ở Việt Nam, thủ đoạn “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch triệt để sử dụng dựa trên các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, bất cập, hạn chế trong triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, đối ngoại... Các đối tượng chống phá lợi dụng một số sai phạm, yếu kém của tổ chức, cá nhân để rêu rao Việt Nam vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền, từ đó kích động lôi kéo người dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, tập dượt kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho những bước chống phá cao hơn. Các đối tượng không ngừng tuyên truyền cho rằng: “Lối thoát cho Việt Nam là bất tuân dân sự”, hay “Bất tuân dân sự là con đường tự do cho Việt Nam”.

Trong những năm gần đây diễn ra hàng loạt vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự” như khi giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Đắk Nông, Gia Lai, một số đối tượng đã “bất tuân cưỡng chế”, chống lại cơ quan thực thi pháp luật; hay “bất tuân” quy định về thành lập hội (nhóm) để lập các tổ chức dân sự nhân danh tự do, dân chủ, nhân quyền như “hội văn đoàn độc lập”, “hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “hội anh em dân chủ”, “hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam”, “hội phụ nữ nhân quyền”… lập ra để phản đối các bộ luật ở nước ta. Vụ việc phức tạp tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội tháng 1/2020 là điển hình của việc coi thường pháp luật, vi phạm các quy định pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng, khiến dư luật hết sức bất bình.

Hậu quả của hoạt động “bất tuân dân sự” rất nặng nề, tác động tiêu cực cả về kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội, kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các đối tượng kích động người dân tụ tập, gây cản trở giao thông, đập phá trụ sở chính quyền, đốt phá tài sản nhà nước, doanh nghiệp và người dân, nhiều cán bộ thực hiện nhiệm vụ bị thương, hoạt động của cơ quan nhiều nơi bị ngưng trệ.

Đồng thời các đối tượng tìm mọi thủ đoạn hòng móc nối, lôi kéo, mua chuộc cán bộ, đảng viên và người dân phản đối, gây sức ép thay đổi chính sách, hệ thống pháp luật, lĩnh vực tư pháp để chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cần khẳng định rằng các hành vi này xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là tạo sự chuyển hóa từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta, chúng tập trung chống phá cả về lý luận, quan điểm, đường lối, xóa bỏ nền tảng tư tưởng và đòi tước bỏ cơ sở pháp lý bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ”.

Chúng kêu gọi và thổi phồng rằng người dân cần phải được “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “ý thức pháp luật”, lên tiếng để thay đổi luật pháp cho phù hợp với ý chí của cá nhân, và kêu gọi rằng không thể chỉ dừng lại ở đấu tranh cho một số đạo luật, và muốn bảo đảm “thượng tôn pháp luật” phải thực hiện đa nguyên đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây.

Về bản chất, hoạt động “bất tuân dân sự” là tác động, làm thay đổi nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; không ngừng sử dụng luận điệu kêu gọi thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa Cương lĩnh, Hiến pháp, “phi chính trị hóa” quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập”; thúc đẩy, kích động tuần hành, biểu tình, bạo động, khiếu kiện, gây “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội...

Trước những âm mưu, thủ đoạn “bất tuân dân sự” hiện nay đòi hỏi cả hệ thống chính trị cùng mọi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm xã hội, chủ động nắm chắc tình hình, âm mưu, ý đồ của các đối tượng chống phá để có biện pháp ngăn chặn, dập tắt ngay từ đầu những mầm mống mới phát sinh, kịp thời xử lý một cách linh hoạt, mạnh mẽ, kiên quyết, hiệu quả những tình huống phức tạp.

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho các cá nhân và tổ chức ở Việt Nam. Nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phải được thường xuyên đổi mới, phù hợp với thực tế, đặc biệt chú ý đến phương pháp, phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán… để mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành.

Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, các tổ chức và người dân cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”.

Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động công quyền, thực thi công lý tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội; dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để chống phá đất nước, xâm phạm đến lợi ích Nhà nước và đông đảo quần chúng nhân dân. Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Nếu để những hoạt động “bất tuân dân sự”, những âm mưu, thủ đoạn coi thường pháp luật xảy ra kéo dài thì hậu quả để lại rất nặng nề, không chỉ ảnh hưởng về kinh tế-xã hội, mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền.

Từ đây cũng đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và cải cách hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là việc thực thi các quy định của pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường…

Phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; gắn dân chủ với tăng cường kỷ cương, kỷ luật, pháp luật của Nhà nước. Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, là một biểu hiện cho tiến bộ, phát triển của xã hội nhưng tuyệt đối không thể là sự tự do “vô chính phủ”. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, góp phần thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước

Sưu tầm

Nhận diện âm mưu kích động “bất tuân dân sự” trên không gian mạng

Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng một thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự". "Bất tuân dân sự" thể hiện tư tưởng cực đoan, vô chính phủ, đang được lợi dụng gắn với cái gọi là xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở Việt Nam.

Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “bất tuân dân sự” là nguồn gốc thai nghén các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, bạo loạn lật đổ chính quyền… tạo ra những hệ quả vô cùng nghiêm trọng, khôn lường, tác động đến sự ổn định và tình hình an ninh, trật tự của đất nước.

“Bất tuân dân sự” - một phong trào không mới

“Bất tuân dân sự” (thực chất là chống đối chính phủ dân sự) được nêu ra lần đầu tiên trong tập tiểu luận nhan đề “Dân sự bất hợp tác” của Henry David Thoreau - một phạm nhân phải ngồi tù ở bang Massachusetts (Mỹ) vì tội không đóng thuế. Thế nên, nội dung chủ đạo trong tập tiểu luận là quan điểm cực đoan, vô chính phủ và được khoác ngôn từ hoa mỹ là “bất tuân dân sự”. Mặc dù ở thời điểm mới xuất hiện, tiểu luận “Dân sự bất hợp tác” không gây được sự ảnh hưởng nào,

song sang thế kỷ XX, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Henry David Thoreau được một số kẻ lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh. Theo thời gian, “bất tuân dân sự” đã bị các thế lực biến tướng, lợi dụng vào các mục đích khác nhau, đặc biệt là để chống phá các nước XHCN, các quốc gia, vùng lãnh thổ không phù hợp với lợi ích của họ. Theo giải thích của từ điển mở Wikipedia thì: “Bất tuân dân sự là các hoạt động, công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động”.

Cũng theo từ điển này, những vụ bất tuân dân sự lớn, sớm nhất được thực hành bởi người Ai Cập chống lại sự chiếm đóng của Anh trong cuộc cách mạng Ai Cập năm 1919. Nó đã được sử dụng trong nhiều phong trào phản kháng bất bạo động tại nhiều quốc gia, như chiến dịch của Gandhi để giành độc lập từ đế quốc Anh ở Ấn Độ; cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc của Mandela ở Nam Phi. Phương thức hoạt động này được áp dụng trong cuộc "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ XX, làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010, phong trào biểu tình nhằm lật đổ chính phủ ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2019...

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “bất tuân dân sự” nhưng thực chất đó là các hoạt động vi phạm cố ý đối với một số đạo luật nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền. Vì thế, bản chất đây là hành vi vi phạm pháp luật nếu chiểu theo pháp luật của bất kỳ quốc gia nào.

Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là thiểu số phục tùng đa số, lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung, lợi ích cá nhân, nhóm người phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, “bất tuân dân sự” về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, vô chính phủ, hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).

Phong trào này không có gì mới mẻ bởi nó đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia phương Tây ráo riết thực thi chiến lược "diễn biến hòa bình" với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, “bất tuân dân sự” dần trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Hiện nay thủ đoạn nói trên đã được đẩy lên cấp độ mới trắng trợn, ráo riết hơn rất nhiều để chống phá những quốc gia vẫn lựa chọn đi theo con đường XHCN hoặc các quốc gia có chế độ “nghịch mắt” với phương Tây. Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại luôn rất nặng nề, kéo dài, gây bất ổn, chia rẽ sâu sắc trong lòng xã hội, giữa người dân trong một quốc gia, vùng lãnh thổ. Thực tế, các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, kéo dài tại một số quốc gia đã minh chứng rõ điều này.

Thủ đoạn kích động “bất tuân dân sự” trên không gian mạng

Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước.

Những năm qua, các thế lực phản động, thù địch đã triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành nhiều hoạt động lợi dụng danh nghĩa dân chủ, phát động cái gọi là “bất tuân dân sự” để chống đối chính quyền như lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, thảo luận dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, các đối tượng xấu đã kích động, lôi kéo người dân tham gia tuần hành, biểu tình, chống người thi hành công vụ, đập phá tài sản các trụ sở chính quyền, gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Vụ đình công phản đối Điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 diễn ra tại một số tỉnh, thành phố; vụ lợi dụng phản đối trạm BOT Cai Lậy ở tỉnh Tiền Giang năm 2017. Một số vụ việc mang bóng dáng "bất tuân dân sự" như: Bất tuân cưỡng chế của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắk Nông, Gia Lai...; bất tuân quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam", "Hội văn đoàn độc lập Việt Nam", "Hội nhà báo độc lập Việt Nam", "Mạng lưới Blogger Việt Nam"...

Đặc biệt, hiện nay các đối tượng đẩy mạnh các hành vi “bất tuân dân sự” vào các lực lượng như Cảnh sát đang làm nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ tại các trụ sở tiếp công dân, sau đó quay video tung lên mạng xã hội nhằm xuyên tạc và tuyên truyền kích động người dân thực hiện các hành vi chống đối tương tự.

Qua thực tiễn tình hình có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Hoạt động kích động “Bất tuân dân sự” trên không gian mạng được tổ chức ngày càng chặt chẽ, các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh xã hội còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để kích động chống phá, làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa "bất tuân dân sự" với "xã hội dân sự", sử dụng các tổ chức "xã hội dân sự" để chỉ đạo, điều hành "bất tuân dân sự".

Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng "ngọn cờ"; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn...

Nhìn vào thực tế những gì đã diễn ra ở các nước Đông Âu, Liên Xô (cũ), Trung Đông, Bắc Phi… có thể thấy rất rõ “bất tuân dân sự” luôn có xu hướng leo thang thành bạo lực, bạo động, gây ra bất ổn xã hội, thậm chí khủng hoảng nghiêm trọng. Các hành vi của cái gọi là “bất tuân dân sự” nhằm chống đối, không phục tùng những điều luật, quy định đã được ban hành, thi hành và thừa nhận trên thực tế tại các quốc gia, vùng lãnh thổ chính là coi thường kỷ cương pháp luật, đi ngược hoàn toàn với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, thiết yếu của các quyền tự do, dân chủ của người dân với ý nghĩa là một quyền thiết thân của con người, là động lực phát triển của đất nước. Tuy nhiên, không một quốc gia nào trên thế giới lại dung thứ các hành vi lợi dụng dân chủ, cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của người dân.

Sưu tầm

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ!

Ngày 06 tháng 11: “Văn chương phải hùng hồn, tình cảm phải sâu sắc, lý lẽ cho đích xác”.
Cách đây 78 năm, ngày 06-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì họp Hội đồng Chính phủ bàn nhiều vấn đề quan trọng như soạn thảo Hiến pháp, kiểm tra việc phân phối gạo chống nạn đói và tổ chức tăng gia sản xuất.

Ngày 06-11-1946, Bác thăm trụ sở Đảng Dân chủ, một đảng phái yêu nước đã cộng tác đắc lực với Việt Minh trong thời kỳ vận động khởi nghĩa và thăm Tự vệ thành Hoàng Diệu là lực lượng bán vũ trang của nhân dân thủ đô, sau đó cùng cụ Tôn Đức Thắng đi thăm “Phòng Nam bộ”, một địa điểm phối hợp các hoạt động của các tầng lớp nhân dân ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào Nam bộ.

Tháng 11-1948, Bác gửi thư và áo lụa cho Cục trưởng Cục Quân chính Phan Tử Lăng (một cựu sĩ quan của chế độ cũ, giác ngộ theo cách mạng). Thư viết: “Áo lụa này do đồng bào biếu Bác nay Bác tặng lại chú. Chúc chú đánh giỏi và tiến bộ nữa”.

Ngày 06-11-1950, kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, Bác gửi điện mừng tới Nguyên soái Stalin: “Nhân ngày Quốc khánh của quý quốc, một ngày vui mừng chung của tất cả nhân dân lao động trong thế giới, tôi kính thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi lời sốt sắng chúc mừng ngài, chính phủ cùng nhân dân Xô Liên. Là thành trì của nhân loại và tiến bộ, chúng tôi chắc rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của ngài và quý chính phủ, nước xã hội chủ nghĩa Xô Liên càng ngày càng cường thịnh, do đó mà hòa bình thế giới được bảo vệ, dân chủ được phát triển và các dân tộc nhược tiểu được mau giải phóng”.

Ngày 06-11-1962, dự cuộc họp của Bộ Chính trị chỉ đạo Đại hội văn nghệ, Bác đóng góp ý kiến về việc văn nghệ sĩ đi thực tế: “Đi nhưng phải tự nguyện, không ép buộc. Đi, nhưng phải sống như người nông thôn chứ đi theo kiểu làm khách là không được. Không để lao động quá sức, nhưng cũng nên thử để thấy người nông dân khổ như thế nào, khỏe như thế nào”.

Về tình hình văn nghệ, Bác nói: “...Không có cách mạng, không có kháng chiến thì không có văn nghệ như bây giờ... Hướng dẫn khen, phê bình phải cho đúng đắn, có cái phải nghiêm khắc. Khen, chê phải đúng mức. Khen nhưng khen quá lời, “suy tôn” người được khen thì chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục... Văn chương phải hùng hồn, tình cảm phải sâu sắc, lý lẽ cho đích xác…”.

Ngày 06-11-1967, Bác gửi điện cảm ơn nhân dịp Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô quyết định tặng Huân chương Lênin, nhưng bày tỏ ý nguyện: “Lúc này giặc Mỹ đang đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Tổ quốc Việt Nam chúng tôi. Chúng đang giết hại một cách cực kỳ dã man hàng vạn đồng bào tôi ở miền Nam cũng như ở miền Bắc. Toàn quân và toàn dân Việt Nam chúng tôi đang phải hy sinh xương máu để đánh Mỹ, cứu nước. Trong lúc đó riêng tôi lại được vinh dự đặc biệt to lớn là nhận Huân chương Lênin thì lòng tôi không yên chút nào. Vì lẽ đó, tôi vô cùng cảm ơn các đồng chí, nhưng xin các đồng chí hãy tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại biểu cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy huân chương mang tên Lênin vĩ đại. Kính gửi các đồng chí lời chào cộng sản”./.
Yêu nước ST.

XÂY DỰNG LỐI SỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN QUÂN ĐỘI!

         Xây dựng lối sống xã hội chủ nghĩa (XHCN) của đoàn viên thanh niên trong Quân đội là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo lập một môi trường sống tốt đẹp, lành mạnh, hài hoà, hướng người cán bộ, chiến sỹ vươn tới giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Qua đó củng cố, xây dựng những mối quan hệ quân nhân tốt đẹp, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; tạo ra sức đề kháng, khả năng tự bảo vệ trước những tác động tiêu cực, sự xâm nhập của các luồng văn hoá xấu độc, thiếu lành mạnh vào các đơn vị trong Quân đội hiện nay.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu chiến lược xây dựng, phát triển con người, nguồn nhân lực. Quan điểm nhất quán của Đảng ta là đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng nhất của đất nước. Mục tiêu xuyên suốt của Đảng ta là xây dựng, phát triển con người Việt Nam có phẩm chất, năng lực toàn diện, trong đó coi trọng xây dựng con người Việt Nam có đạo đức, lối sống XHCN. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, lối sống XHCN của quân nhân nói chung, của đội ngũ sỹ quan trẻ nói riêng không hình thành tự phát, mà phải có quá trình giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện một cách chủ động, có hệ thống, có tổ chức, toàn diện, thường xuyên, liên tục.

Thời gian qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên quan tâm đến việc xây dựng và phát triển thế hệ thanh niên Quân đội toàn diện cả về phẩm chất và năng lực theo hình mẫu “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn, mới là quân nhân hoàn toàn”. Trong đó xác định lối sống là nền tảng văn hóa để thanh niên Quân đội có thể phát huy được vai trò chủ thể tích cực của mình. Là lực lượng ưu tú của thanh niên Việt Nam mang phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đoàn viên thanh niên trong Quân đội luôn xung kích thực hiện nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Từ ngày thành lập (8-2-1952) đến nay, Ðoàn TNCS Hồ Chí Minh trong Quân đội đã bồi dưỡng giới thiệu kết nạp hàng triệu đoàn viên ưu tú vào Ðảng; hàng chục vạn đoàn viên thanh niên trở thành sỹ quan quân đội, cán bộ địa phương trên khắp mọi miền Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng minh vai trò quan trọng của các đoàn viên thanh niên đối với sự nghiệp xây dựng Ðảng và xây dựng Quân đội vững mạnh, góp phần bảo đảm Quân đội là lực lượng chính trị, đội quân chiến đấu trung thành, tin cậy của Ðảng, Nhà nước và nhân dân. Danh hiệu bộ đội Cụ Hồ do nhân dân tin yêu trao tặng Quân đội ta ngay từ những năm đầu thành lập là một di sản tinh thần và đạo đức cao quý, một giá trị văn hóa độc đáo của Quân đội ta, của dân tộc Việt Nam ta trong thời đại Hồ Chí Minh. Phấn đấu xứng danh bộ đội Cụ Hồ là mục tiêu cao nhất của phong trào thanh niên Quân đội, đòi hỏi cán bộ, đoàn viên thanh niên phải thường xuyên trau dồi, tu dưỡng bồi đắp hằng ngày.

Bên cạnh những kết quả to lớn đạt được, lối sống của một bộ phận thanh niên trong Quân đội hiện nay vẫn còn tồn tại biểu hiện của sự lệch chuẩn về tư tưởng, đạo đức và nhận thức, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, nghĩa vụ, lối sống chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, trung bình chủ nghĩa, thiếu kỹ năng ứng xử giao tiếp có văn hóa, chưa coi trọng đúng mực việc tu dưỡng, rèn luyện lối sống văn hóa… Hạn chế về lối sống của một bộ phận thanh niên Quân đội thời gian qua xuất phát từ việc hoạt động xây dựng lối sống XHCN trong thanh niên chưa thật sự được coi trọng và có sự quan tâm đầu tư cần thiết; một số nội dung, hình thức, phương pháp xây dựng lối sống XHCN còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu xác lập và phát triển lối sống văn hóa cho thanh niên; đời sống vật chất tinh thần, môi trường điều kiện bảo đảm và mặt bằng nhận thức của thanh niên trong Quân đội chưa đồng đều. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang ra sức tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, chúng luôn coi thanh niên là đối tượng đặc biệt để lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Trước những biến đổi nhanh chóng và phức tạp của đời sống xã hội hiện nay, để xây dựng lối sống XHCN của đoàn viên thanh niên trong Quân đội, cần bám sát những định hướng lớn của Đảng tại Đại hội XIII về thanh niên: “ Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội; xây dựng môi trường, điều kiện học tập, lao động, giải trí, rèn luyện để phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hoà cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ cho thế hệ trẻ. Tạo động lực cho thanh niên xung kích trong học tập, lao động, sáng tạo, khởi nghiệp, làm chủ các kiến thức khoa học, công nghệ hiện đại, phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trong đó, cần thực hiện tốt một số giải pháp cụ thể sau:

Một là, phát huy vai trò của các cấp uỷ đảng, chỉ huy các cấp, chính ủy, chính trị viên các cơ quan, đơn vị, tổ chức đoàn trong giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, xây dựng lối sống XHCN cho đoàn viên thanh niên Quân đội. Xây dựng và thực hiện tốt chương trình, kế hoạch giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho thanh niên gắn với đẩy mạnh thực hiện việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chú trọng việc bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, chiến sỹ những giá trị và truyền thống văn hóa tiêu biểu của dân tộc và Quân đội như chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần yêu nước, lòng thương người, chủ nghĩa nhân đạo…

Hai là, tiếp tục đổi mới phương thức giáo dục, rèn luyện đoàn viên thanh niên. Nội dung giáo dục rèn luyện cần bám sát chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là đối với đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, những đơn vị làm nhiệm vụ trên những địa bàn trọng điểm, nơi có nhiều khó khăn thử thách. Tập trung giáo dục cho đoàn viên thanh niên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung chương trình huấn luyện, xây dựng động cơ, trách nhiệm, quyết tâm cao trong thực hiện nhiệm vụ; giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, nhạy bén trước mọi diễn biến của tình hình; có ý thức thường trực sẵn sàng chiến đấu cao, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh bộ đội Cụ Hồ, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị, của Quân đội. Phong trào thanh niên cần đi vào thực chất, thiết thực, hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nguyện vọng chính đáng, đa dạng, phong phú của tuổi trẻ, kích thích tính tự nguyện, tự giác của đoàn viên thanh niên. Chú trọng phát hiện, xây dựng bồi dưỡng các mô hình, điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực hoạt động, nêu gương người tốt, việc tốt, động viên khen thưởng kịp thời những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc.

Bốn là, chăm lo xây dựng môi trường văn hoá, lành mạnh, không ngừng nâng cao đời sống của bộ đội; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và thanh niên Quân đội. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức cách mạng với nâng cao hiệu quả các hoạt động văn hóa, thể thao, chăm lo đời sống cho bộ đội, giúp mỗi thanh niên gắn bó với đơn vị, tự hào được sống, chiến đấu, lao động, học tập trong môi trường Quân đội. Mỗi chiến sỹ trẻ cũng cần tích cực học tập, rèn luyện nâng cao nhận thức, hoàn thiện thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, không ngừng phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng danh bộ đội Cụ Hồ./.




Yêu nước ST.

NẮM VỮNG THỜI CƠ, CẢ NƯỚC MỘT LÒNG THỰC HIỆN KHÁT VỌNG PHỒN VINH, HẠNH PHÚC!

     Đại thắng mùa xuân 1975 gắn liền với những quyết định mang tính lịch sử, thể hiện tài thao lược, bản lĩnh, sáng tạo của Đảng, sự đoàn kết nhất trí, với khát vọng độc lập, tự do, khát khao hòa bình thống nhất Tổ quốc, xây dựng xã hội phồn vinh hạnh phúc của cả dân tộc.

Ngày 30-4-1975 là một ngày lịch sử trọng đại đối với mỗi người dân Việt Nam. Nhân dân ta từ khắp mọi miền đất nước phấn khởi, vui mừng tự hào về thắng lợi của đại thắng mùa xuân 1975, kết thúc 21 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ, hy sinh, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc. “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi sâu vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Chiến thắng 30-4-1975 để lại nhiều bài học quan trọng về lựa chọn mục tiêu, lựa chọn thời cơ; về sự linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động tạo lợi thế và giành thắng lợi quyết định; về sự phối hợp lực lượng, phát huy sức mạnh của toàn dân để giành chiến thắng.

Nhưng đặc biệt ấn tượng là bài học chớp thời cơ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thần tốc, táo bạo, tạo nên sức mạnh đột phá giành thắng lợi quyết định. Đó là sự đúc rút bài học kinh nghiệm vô giá của Đảng ta và Bác Hồ kính yêu ngay từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sức mạnh như vũ bão của nhân dân, khi thời cơ đã đến thì dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc.

Sau 35 năm đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển toàn diện mạnh mẽ, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Trong giai đoạn mới, khi đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng, tình hình an ninh, chính trị trong khu vực đang có những diễn biến phức tạp nhất là những tranh chấp liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ, sự cạnh tranh ảnh hưởng của một số nước lớn ở nhiều khu vực đang diễn ra khá mạnh mẽ. Đặc biệt, trước ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, thế giới đang chuyển sang trạng thái mới với sự khủng hoảng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, y tế, xã hội trong tiến trình cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra. Lúc này, bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ thời cơ của chiến thắng 30-4-1975 vẫn còn nhiều giá trị lịch sử cho thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam:

Thứ nhất, chủ động nghiên cứu, nắm bắt đúng tình hình, tuyệt đối không bị động bất ngờ, tranh thủ tối đa những điều kiện thuận lợi từ tình hình chính trị, an ninh thế giới. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước.

Thứ hai, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường để tạo thêm nguồn sức mạnh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ này.

Thứ ba, triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, bản lĩnh, trí tuệ, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên để Đảng đủ sức lãnh đạo nhân dân ta trong giai đoạn lịch sử mới vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ tư, quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng của các tầng lớp nhân dân, xây dựng vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thế và lực mới cho quá trình hiện thực hóa khát vọng phồn vinh hạnh phúc của nhân dân.

Thứ năm, giữ mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, thông qua mặt trận Tổ quốc và hệ thống tổ chức chính trị - xã hội; thực hiện tốt công tác đóng góp ý kiến và phản biện trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách và lãnh đạo cách mạng, lợi ích của Đảng phải được thể hiện trong mối tương quan mật thiết với lợi ích của nhân dân. Kiên trì thực hiện phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng.

Thứ sáu, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, sáng tạo, tích cực, có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ XHCN. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu gắn liền với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị, tạo ra những đột phá mạnh mẽ để phát triển.

48 năm đã trôi qua, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã để lại cho cách mạng Việt Nam rất nhiều bài học vô giá, không chỉ có ý nghĩa đối với hôm nay mà còn với cả mai sau. Những bài học ấy đã, đang và sẽ tiếp tục là sức mạnh, là khởi nguồn cho những thành tựu to lớn hơn của cả dân tộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

Yêu nước ST.

 VIỆT NAM - TÂM ĐIỂM TĂNG TRƯỞNG MỚI

Trong tuần qua, nhiều tờ báo và các chuyên gia quốc tế đã ấn tượng trước các con số tăng trưởng của Việt Nam trong tháng 10 và trong 10 tháng đầu năm nay.

Theo đó, kinh tế Việt Nam đang phục hồi rất vững chắc và dự báo trở thành tâm điểm tăng trưởng mới của châu Á. Tờ Reuter có bài viết với nhan đề "Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh", trong đó khẳng định nguồn vốn FDI cam kết vào Việt Nam đã tăng mạnh trong tháng 10 với trị giá 5,3 tỷ USD, cao hơn gấp đôi so với mức trung bình hàng tháng là 2,2 tỷ USD.

Tờ India Time có bài viết khẳng định "Việt Nam trở thành tâm điểm mới của tăng trưởng châu Á". Tờ báo này nhấn mạnh, bất chấp những khó khăn trong năm 2023, Việt Nam đã thu hút hơn 20 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 9 tháng đầu năm, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ông Anwar Aridi - Chuyên gia cấp cao về Chính sách đổi mới sáng tạo, Ngân hàng Thế giới đánh giá: "Sự tăng trưởng được tạo ra trong nền kinh tế Việt Nam được thúc đẩy bởi các khoản đầu tư của các công ty đa quốc gia và nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đây là một ví dụ điển hình cần được nhân rộng trong khu vực. Tuy nhiên, trong tương lai, Việt Nam cũng cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tìm kiếm các nguồn tăng trưởng mới và tinh thần kinh doanh đổi mới là nguồn tăng trưởng chính".

Tờ Nikkei Asia đánh giá đã thấy dấu hiệu phục hồi kinh tế ở quốc gia vốn rất nhạy cảm với những biến động của nhu cầu thế giới, khi xuất khẩu và sản lượng công nghiệp của Việt Nam trong tháng 10 đã tăng so với một năm trước đó.

Cụ thể, xuất khẩu trong tháng 10 đã tăng 5,9% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi nhập khẩu cũng chứng kiến mức tăng 5,2%.

Ông Sugano Yuichi - Trưởng Đại diện Văn phòng Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam cho biết: "Chúng tôi kỳ vọng vào sự phục hồi của kinh tế Việt Nam trong tương lai nhờ sự tăng trưởng của tiêu dùng nội địa, sự tăng cường của dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và sự phục hồi của ngành du lịch. Chúng tôi đã ký một thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam nhằm phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19. Chúng tôi hy vọng rằng chương trình hỗ trợ này sẽ góp phần phục hồi nền kinh tế Việt Nam".

Tờ Tân Hoa Xã nêu bật con số ấn tượng tổng doanh thu bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm nay, khi tăng tới 9,4% so với cùng kỳ năm ngoái, lên 207,5 tỷ USD. Chỉ tính riêng tháng 10, doanh thu bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng cũng tăng tới 7% so với cùng kỳ và tăng hơn 1,5% so với tháng 9.

 GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CAM KẾT, LỜI HỨA

Sáng 6.11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội sẽ tiến hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Đây là một trong những hoạt động của Quốc hội được cử tri, Nhân dân đặc biệt quan tâm.

Đây cũng là cơ hội để Quốc hội, cử tri và Nhân dân thấy được những nỗ lực của Chính phủ và các bộ, ngành trong việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội thời gian qua.

Kỳ họp thứ Sáu là kỳ họp giữa nhiệm kỳ, do đó, việc chất vấn sẽ không tiến hành theo nhóm vấn đề như thông lệ. Với thời lượng 2 ngày rưỡi, phiên chất vấn sẽ tập trung vào việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn của Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước, cụ thể gồm: 10 nghị quyết về giám sát chuyên đề và chất vấn, trả lời chất vấn của Quốc hội trong nhiệm kỳ Khóa XIV và từ đầu nhiệm kỳ Khóa XV đến hết Kỳ họp thứ Tư, Quốc hội Khóa XV. Hay nói cách khác, phiên chất vấn lần này thực chất là giám sát việc thực hiện “lời hứa”, cam kết trước Quốc hội, trước cử tri của các tư lệnh trong việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội.

Dù không chất vấn theo nhóm vấn đề nhưng để bảo đảm tập trung, có trọng tâm, trọng điểm và hiệu quả của hoạt động chất vấn của Quốc hội, phiên chất vấn và trả lời chất vấn lần này tập trung vào lĩnh vực kinh tế tổng hợp - vĩ mô; kinh tế ngành; văn hóa - xã hội và tư pháp - nội chính - kiểm toán nhà nước.

Đặc biệt, ở phiên chất vấn lần này, không quy định “cứng” thời gian chất vấn dành cho mỗi nhóm lĩnh vực, mà thời gian sẽ được điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thực tế của phiên chất vấn. Bởi thực tế cho thấy, có những lĩnh vực đại biểu Quốc hội, cử tri và nhân dân quan tâm với nhiều vấn đề còn "nóng" chưa được giải quyết rốt ráo, nhưng cũng có những lĩnh vực cử tri, nhân dân đã thấy rõ sự quyết tâm, quyết liệt của tư lệnh ngành trong thực hiện các cam kết, lời hứa trước Quốc hội, trước cử tri. Việc không quy định cứng thời gian chất vấn đối với từng lĩnh vực tạo sự chủ động, linh hoạt đối với người điều hành phiên chất vấn. Điều này, góp phần nâng cao hiệu quả của phiên chất vấn và trả lời chất vấn.

Thực tế cho thấy, có những bộ trưởng, trưởng ngành có thâm niên trong quản lý điều hành, có những "tư lệnh" ngành đảm trách nhiệm vụ chưa nhiều nhưng đều đã có những nỗ lực trong thời gian qua. Có những lời hứa, cam kết đã được bộ trưởng, trưởng ngành hiện thực hóa bởi những quyết tâm hành động, được cử tri, Nhân dân đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có những lĩnh vực sự chuyển biến còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, chưa đáp ứng nguyện vọng của cử tri, của Nhân dân.

Chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp của Quốc hội, có vai trò rất quan trọng, tác động lớn đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. Với phương châm “coi trọng giám sát những vấn đề sau giám sát”, phiên chất vấn và trả lời chất vấn lần này là dịp bộ trưởng, trưởng ngành nhìn nhận lại những gì mình đã làm được, chưa làm được theo yêu cầu nghị quyết của Quốc hội, việc thực hiện cam kết, lời hứa trước Quốc hội, trước cử tri đến đâu.  

Chất vấn không phải là “bới lông tìm vết”. Mấu chốt của chất vấn là chỉ ra được những vấn đề tồn tại, hạn chế, yếu kém, để cùng bàn bạc, giải quyết, giúp các bộ trưởng, trưởng ngành điều hành, quản lý tốt hơn. Để giải quyết được các yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, tìm ra giải pháp tháo gỡ khó khăn rất cần sự thẳng thắn, tâm huyết, không né tránh của các đại biểu Quốc hội. Cùng với đó là sự lắng nghe, cầu thị và thẳng thắn nhận trách nhiệm, cũng như đưa ra lộ trình thực hiện các giải pháp giải quyết những vấn đề đang đặt ra của các bộ trưởng, trưởng ngành trước Quốc hội, trước cử tri và Nhân dân.

Số phận Ngô Đình Cẩn

Chiều 2-11-1963, các nhà giam phật tử trên khắp thành phố Huế mở cửa. Được tháo cũi sổ lồng, chúng tôi vui sướng không thể nào tả được. Dân chúng Huế nhảy múa ngoài đường.

Tối đó các đài phát thanh BBC, VOA tường thuật tướng Dương Văn Minh cầm đầu “cuộc cách mạng 1-11-1963” và cho biết anh em tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị giết. Một sự thật ngoài sức tưởng tượng của tôi. Còn Ngô Đình Cẩn ở Huế thì sao?

Chạy trốn

Từ khi thông tin “cách mạng 1-11-1963” ra đến Huế, đường lên dốc Phủ Cam bị xe bọc thép và lính VNCH khóa chặt, vừa để quản thúc Ngô Đình Cẩn và cũng vừa để bảo vệ ông ta. Nếu không canh giữ, dân chúng có thể ùa vào làm thịt lãnh chúa miền Trung - con người đã gây ra bao tội ác suốt chín năm qua.

Có người đến Tổng hội Sinh viên bảo chúng tôi: Này, các anh phải cảnh giác tướng Đỗ Cao Trí - tư lệnh quân đoàn 1 và vùng 1 chiến thuật - là con người hai mặt đó. Không khéo hắn mở cửa cho Ngô Đình Cẩn chạy ra nước ngoài lúc nào không biết! Biết thế nhưng sinh viên tranh đấu không có bất cứ một cơ hội nào có thể tiếp cận được Đỗ Cao Trí lúc đó cả.

Sau này có dịp sưu tập tư liệu về Ngô Đình Cẩn trong thời điểm đó, tôi thấy lời cảnh báo của dân chúng có phần đúng. Theo những người biết chuyện kể lại, lúc 10 giờ 45 sáng 2-11-1963, từ Đà Nẵng tướng Đỗ Cao Trí điện thoại cho đại úy Nguyễn Văn Minh - hầu cận của Ngô Đình Cẩn, rằng: Anh thông báo ngay cho cậu biết Sài Gòn vừa báo tin cho tôi hay là tổng thống và ông cố vấn chính trị đã tự tử chết rồi. Tôi không hiểu ra sao nữa! Qua thái độ, cách xưng hô và khẩu khí như thế chứng tỏ Đỗ Cao Trí vẫn còn là người của gia đình họ Ngô.

Nguyễn Văn Minh báo lại cái tin sét đánh ấy cho Ngô Đình Cẩn. Lúc đầu ông Cẩn không tin nhưng rồi cũng phải tin vì đó là sự thật. Ông Cẩn sai Nguyễn Văn Minh liên lạc với cháu ông là linh mục Nguyễn Văn Thuận ở bên nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Linh mục Thuận mách cho cậu Cẩn “mọi việc phải nhờ tướng Đỗ Cao Trí”.

Khoảng 1 giờ 30 trưa, ông Cẩn sai đại úy Minh gọi điện thoại mời ông Trí ra Huế để bàn việc. Có lẽ ông Trí đã biết rõ quyết tâm diệt nhà Ngô của Dương Văn Minh ở Sài Gòn nên ông không dám ra Huế theo yêu cầu của ông Cẩn. Ngược lại, khoảng 3 giờ chiều 2-11-1963, ông Trí lệnh cho thiếu tá Tuấn đem quân đội và xe thiết giáp vây nhà ông Cẩn ở chân dốc Phủ Cam.

Không được ông Trí ra giúp cứu nguy mà lại còn bị quân đội bao vây, ông Cẩn mất tinh thần đến cực độ. Bọn gia nô một thời lợi dụng thế lực của ông làm mưa làm gió ở Huế không giúp được gì cho ông Cẩn cả. May sao, một người nhà của ông quan sát không thấy quân đội gác ở phía sông Phủ Cam nên ông Cẩn được đưa ra cửa sau chạy qua trốn ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế của cháu ông là linh mục Nguyễn Văn Thuận.

Linh mục Thuận thấy dân chúng phẫn nộ chống chế độ dòng họ Ngô Đình như thác lũ đang dâng lên khắp nơi nên ông cũng lo sốt vó. Ông không giúp được gì cho người cậu ruột của mình ngoài việc dành cho cậu một cái phòng kín trong nhà thờ để cậu trốn. Qua được nhà thờ của người cháu mình, ông Cẩn vẫn không yên tâm. Ông quá xúc động trước các tin tức về cái chết của hai anh Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu.

Ông thất thần, mặt mày hốc hác, lắc đầu quầy quậy, đập tay lên ngực thều thào: Thôi hết rồi! Thôi hết rồi. Còn chi nữa đâu... Chuyện thật trớ trêu, ngày 2-11 đúng vào ngày sinh nhật Ngô Đình Cẩn! Ông không thể nào ngờ vào ngày sinh nhật thứ 51 này lại chính là ngày đại tang của hai người anh ông!

Ngày tàn bạo chúa

Chiều 3-11, tướng Đỗ Cao Trí ra Huế và đi thẳng đến nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế gặp Ngô Đình Cẩn. Theo tư liệu và hồi ức của Trịnh Quốc Thiên và Nguyễn Văn Minh, tướng Trí vẫn niềm nở và trọng vọng ông Cẩn như ngày nào. Ngồi đối diện với ông Cẩn, tướng Trí lễ phép nói: Hội đồng quân nhân cách mạng ủy nhiệm con đến đây để thưa lại với cậu, tổng thống và ông cố vấn chết là do tai nạn ngoài ý muốn của các tướng lãnh. Chuyện đã xảy ra như vậy bây giờ biết làm thế nào được. Con cũng xin thưa với cậu, hội đồng quân nhân cách mạng kính mời cậu tham gia và xin mời cậu đứng trong thành phần của hội đồng.

Ông Cẩn có vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn giữ yên lặng và nhìn mọi người trong phòng. Tướng Trí nhận thấy lời mời của mình như giễu cợt không đúng chỗ nên nói thẳng vào điều mình muốn nói với ông Cẩn: Việc đã xảy ra như vậy thì thế nào hội đồng quân nhân cách mạng cũng sẽ áp dụng một số biện pháp đối với cậu như tịch biên tài sản... Con nghĩ cậu nên tính xem thế nào... cậu có thể đưa cho con giữ hộ.

Đề nghị của ông Trí cũng đã được ông Cẩn nghĩ tới. Trước khi ông Trí ra Huế, ông Cẩn đã gọi một người thân tín dặn rằng: Chiếc bao bố ném ở dưới gầm giường... trong đó có 24 ký vàng. Chiếc vali gồm một số gia bảo và quý vật... mày lo liệu giữ gìn không thì tụi nó lấy hết. Số bạc mặt tao vẫn để trong tủ... Mày cứ trao cho Trí giữ hộ... Cứ trao cho Trí không sao đâu... Đề nghị của ông Trí cao hơn những gì Cẩn đã nghĩ. Nhưng trong hoàn cảnh ấy ông Cẩn không thể nào làm trái ý ông Trí. Trò chuyện xong, ông Trí - vị tướng đã ngả về phía đảo chính Diệm vào giờ chót, xách một bao vàng và chiếc vali đựng gia bảo và quý vật của gia đình họ Ngô đặt lên xe Jeep.

Sau đó, đoàn xe của ông Trí từ từ rời khỏi nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế.

Thấy ông Trí lấy của cải của ông Cẩn mà không giúp được gì cho ông Cẩn cả, linh mục Nguyễn Văn Thuận và các linh mục dòng Chúa Cứu Thế lén đến Tòa lãnh sự Mỹ ở đường Đống Đa xin cho ông Cẩn tỵ nạn.

Nhưng theo luật lệ ngoại giao quốc tế chỉ có tòa đại sứ mới có quyền cho tỵ nạn mà thôi. Ông lãnh sự John Helble điện thoại vào Sài Gòn xin lệnh tòa đại sứ và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Tòa đại sứ chấp thuận một cách dè dặt. Trong lúc đang cứu xét về trường hợp tỵ nạn của ông Cẩn chưa xong, ông Cẩn lại còn đòi cho phép thân mẫu ông là cụ bà Phạm Thị Thân (bà quả phụ Ngô Đình Khả) cùng tỵ nạn với ông nữa, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ buộc lòng phải ra chỉ thị cho lãnh sự quán của họ ở Huế rút lui quyết định đồng ý cho ông Cẩn tỵ nạn.

Không rõ lệnh lạc ra làm sao, sau khi có tin ông Cẩn xin đi tỵ nạn, ông Đỗ Cao Trí đến ngay tòa lãnh sự cảnh báo tòa đừng chứa chấp ông Cẩn. Nếu tòa chứa ông Cẩn, dân chúng Huế sẽ tràn vào phá tòa và hành hung ông Cẩn thì không có lực lượng nào giữ được an ninh cả.

Sau đó tướng Đỗ Cao Trí được lệnh của hội đồng quân nhân cách mạng đưa ông Cẩn cùng với cụ thân mẫu ông ta vào Sài Gòn. Ông Trí cùng với một sĩ quan Mỹ và một số sĩ quan VNCH tháp tùng ông Cẩn và thân mẫu ông ta lên máy bay đi Sài Gòn lúc 10 giờ 45 sáng 5-11-1963.

Bạo chúa miền Trung Ngô Đình Cẩn đi khỏi Huế và không còn cơ hội trở lại nữa.

Sưu tầm

Lính Trinh sát

Anh em bộ binh hay nói đùa gọi chúng tôi là lính "khua sương gạt mìn" sáng sớm đi đầu, đón hạt sương mai còn đọng trên lá, trời không mưa nhưng chúng tôi khắp người ướt lướt thướt. Hành trang trên vai vẫn phải mang đủ cơ số đạn và lương thực cho 7 ngày. Người được ưu tiên trút gạo nấu trước là lính hỏa lực cối 60, B40, RPD. Sau mới đến lính trinh sát.

Các loại gai cào cỏ cứa đùa dỡn với trinh sát. Cỏ ba cạnh sắc lẹm như lưỡi lam cắt rách bộ quân trang dù còn thơm vải mới. Cỏ lau, cỏ le cao lút đầu người trải rộng vài trăm mét, khi chui qua không có kinh nghiệm mất luôn phương hướng. Hay bị mất phương hướng nhất là rừng le, rừng cây lúp xúp. Cây nhỏ, trinh sát không có kinh nghiệm hay ngắm vật chuẩn ở cự ly gần rồi lãng quên chẳng nhớ nổi vật đó ở đâu. Hoang mang gây cho bộ binh bấn loạn, chửi bới trinh sát loạn xị ngậu.

Người lính trinh sát cơ bản phải biết cắt góc. Lấy góc độ từ tấm bản đồ tác chiến. Làm sao đặt trục tung, trục hoành trên bản đồ Trùng khớp với hướng Bắc-Nam trên địa bàn. Xoay hướng mũi tên địa bàn theo đường chì vạch hướng, ta sẽ có một góc phương vị chính xác. Người đi góc phải trung thành với góc độ đó, bằng cách ngắm mũi tên với thước ngắm địa bàn tới vật chuẩn, theo kinh nghiệm của tôi vật chuẩn càng xa thì độ chính xác càng cao, đi càng nhàn không bị căng thẳng. Với những người đi nhiều có thâm niên như tôi và Nguyễn Đức Cầm vừa đi vừa chạy hầu như không bị lệch quá 30 m với đoạn đường dài 30 km.

Khó nhất xác định điểm đứng. Người trinh sát xác định điểm đứng chính xác phải có thâm niên từ 2 năm trở lên. Hoặc phải có tư duy tưởng tượng hình học không gian cao. Cả đời trinh sát tôi chỉ biết 1 loại bản đồ UTM của Hoa Kỳ tỉ lệ 1/ 100000 có nghĩa 1 cm tương đương 1Km. Trên bản đồ vẽ những vòng bình độ theo độ cao đều dặn. Bình độ càng sát độ dốc càng lớn, bình độ càng thưa độ dốc càng thoai thoải. Từ đó ta nhận biết được ngay đã đến, hoặc chưa tới những nơi ta cần đặt chân. Khi tới nơi còn phải kiểm tra lại địa hình có trùng khớp với bản đồ không mới được báo cáo với chỉ huy đã tới vị trí đứng chân.

Ngoài nghiệp vụ địa bàn bản đồ. Còn phải học các kỹ năng sinh tồn khi phải đi thực địa có vài ba người lúc thiếu lương thực hoặc gặp địch. Rà phá các loại mìn bộ binh, cận chiến và thoát hiểm khi bị bao vây ..vv.

Cũng vì đi đầu nhiều nên người trinh sát luôn có những linh cảm nhạy bén hơn. Cái linh cảm như thần linh chỉ dẫn có thể cảm nhận sự nguy hiểm đang trực chờ.

Người đi đầu nhận về mình đủ mối nguy hiểm. Thú dữ rình rập, hổ báo rắn rết. Họng súng bất ngờ từ rừng xanh chờ đón. Đã vậy phải bảo đảm đi đến nơi về đến chốn thật chính xác. Sai vị trí vào bãi mìn không thoát nổi cái chết. Anh em trong đơn vị, nhất là các lính bộ binh vô cùng yêu quý và thấu hiểu lính trinh sát chúng tôi. Họ tôn trọng và tin tưởng chúng tôi khi trên đường hành quân. Họ luôn luôn đi cùng để bảo vệ mạng sống chúng tôi. Trinh sát và bộ binh là hai thực thể không thể thiếu trong hành quân truy quét.

Có những người không cầm súng trực tiếp đánh giặc nhưng họ vẫn hy sinh

Rừng O Thắm là bộ phim được sản xuất vào năm 1967 để vinh danh những thanh niên xung phong làm nhiệm vụ dẫn dắt, điều phối các đoàn xe vận tải di chuyển an toàn trên tuyến lửa Trường Sơn. Ngoài ra, phim nói một chút về những nhiệm vụ rà phá bom mìn, ngụy trang, đoán đường bay của máy bay địch dựa trên kinh nghiệm để hỗ trợ việc bắn hạ… Trong phim có một phân cảnh đắt giá của phim là o Thắm bất ngờ bám vào một cửa xe, anh bộ đội lái xe nói rằng: “Ở đâu ra đây, muốn chết à? Nhiệm vụ của cô là ở dưới hầm”

O Thắm nói cương quyết: “Đồng chí nói sai rồi. Không phải chỉ có đồng chí mới biết đánh giặc. Nhiệm vụ của tôi là dẫn xe đồng chí xuống chỗ nấp”. Mặc cho bom đạn rơi, đất đá vương vãi, máy bay địch trên đầu, nhưng mặt cô gái vẫn không biến sắc, cô hướng dẫn chiếc xe vào khu vực ngụy trạng và khiến cho chiếc xe an toàn…

Cách đây đúng 55 năm, 13 chiến sĩ, thanh niên xung phong đã hy sinh dưới làn bom đạn tại Truông Bồn. Một địa danh chỉ vào khoảng 5 cây số vuông, là điểm nút giao thông quan trọng tại tuyến đường chi viện cho miền Nam nằm ở tỉnh Nghệ An. Hà Tĩnh có 10 cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc, thì Nghệ An có 13 thanh niên xung phong ở Truông Bồn. Họ đều chưa từng cầm súng đánh giặc trực tiếp, nhưng đã hy sinh cho cuộc chiến vĩ đại của dân tộc…

Trong 13 con người hy sinh ngày hôm ấy, có những nuối tiếc khiến người ta day dứt mãi. Vào đêm trước khi họ hy sinh, một bữa tiệc nhỏ đã được tổ chức nhằm tạm biệt tiểu đội thanh niên xung phong Truông Bồn này, họ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong bao nhiêu ngày tháng và mỗi người đều có những dự định riêng. Các chiến sĩ Trần Thị Doãn, Hà Thị Đang, Nguyễn Thị Phúc sẽ nhập học Trung cấp Y Hà Nội, các chiến sĩ còn lại sẽ học sư phạm, nông nghiệp và cơ khí.

Tối hôm khi họ hy sinh, có tin báo gấp rằng sẽ có đoàn quân ta di chuyển lúc rạng sáng. Các anh chị nhất trí ở lại thêm một ngày để thực hiện nhiệm vụ cuối cùng. Rồi các anh chị làm nhiệm vụ như mọi lần cho đến khi chiếc xe cuối cùng rời khỏi Truông Bồn an toàn. Thì bom đạn đột nhiên vãi xuống khiến 13/14 người hy sinh. Người sống sót duy nhất là tiểu đổi trưởng Trần Thị Thông, khi khẩu súng K44 của chị nhô lên khỏi mặt đất và được người dân ứng cứu kịp thời.

Đặc biệt, trong nhóm có anh Cao Ngọc Hòa và chị Nguyễn Thị Tâm đã yêu và đồng hành cùng nhau trong những giờ phút sinh tử ở tuyến lửa Truông Bồn này. Sáng ngày mai, anh chị sẽ trở về quê làm đám cưới. Hôm trước, gia đình hai anh chị đã gặp nhau và làm bữa cơm thân mật. Gia đình hai bên cũng đã chuẩn bị một cái lễ nhỏ, họ mong mỏi và chờ đón 2 người con trở về. Nhưng đắng cay thay, một lễ ăn hỏi lại trở thành một đám tang chung… Người dân tìm thấy thi hài của anh chị không còn nguyên vẹn, bọc thi hài của anh chị là tấm áo mới mà anh chị dùng để mặc trong đám cưới…

Khi tìm thi hài các anh các chị, người dân còn tìm thấy một lá thư đính ước, nhưng không rõ là của ai. Trong lá thư đã cháy lẹm một góc, có lời hẹn rằng sẽ gặp lại nhau vào ngày rằm tháng sau nói chuyện thưa gửi. Câu chuyện lá thư ấy, cũng như biết bao nhiêu lá thư khác, đã được viết nhưng chưa chắc đã được gửi đi… Có những lá thư chỉ mang theo những nỗi buồn trăm năm, gặm nhấm những người ở lại.

Lịch sử đã trôi qua rất mau và những dấu vết chiến tranh đã không còn hiển hiện mấy nữa…

Những chiến sĩ thanh niên xung phong, những con người ở độ tuổi còn rất trẻ, những con người với rất nhiều hoài bão và ước mơ, những con người chấp nhận những cái chết có thể đến một cách bất ngờ, những con người với thanh xuân đầy khói lửa, thanh xuân cho Tổ Quốc.

“Họ đã sống và chết

Giản dị và bình tâm”

Sưu tầm

Tình yêu và lý tưởng cao đẹp của các cô chú Bộ đội Cụ Hồ rất đáng để thế hệ sau phải học tập

Đây là một phần lá thư từ chiến trường của ông Trần Công Thắng tới người yêu lúc đó là bà Nguyễn Thị Nguyệt Ánh - nữ chiến sĩ lái xe Trường Sơn (Đoàn 559 - Binh đoàn Trường Sơn).

“Em thương yêu!

Anh đã mang theo tình yêu của em trong tim anh suốt những năm dài chúng ta xa nhau. Bốn năm là thước đo tình yêu chung thủy của anh dành cho em.

Chúng ta yêu nhau rất nhiều, nhưng chẳng thể gặp nhau để nói những lời nhẹ nhàng với nhau mà không cần viết thành một lá thư…

Anh yêu em bằng cả trái tim và lý trí… Là một người lính, anh hiểu điều đó. Cuộc sống anh còn nhiều gian lao và có thể sẽ mang lại cho em nhiều nỗi buồn.

Khoảng cách giữa đôi ta làm cho cuộc sống của chúng mình rất đau khổ, nên anh phải cố gắng hiểu tại sao cuộc sống lại bất công với chúng ta như vậy. Một năm trôi qua, hai năm trôi qua, ba năm trôi qua, bây giờ chúng ta đã gần bốn năm không được gặp nhau. Anh tin rằng anh có thể chịu đựng tất cả vì anh là một người lính được… động viên bởi tình yêu của em.

Anh đã mất nhiều đêm không ngủ... nghĩ về em, nghĩ về tương lai của em. Anh không muốn mất em, nhưng anh cũng không muốn ích kỷ… anh đã gọi tên em vào những thời điểm ngặt nghèo nhất của trận chiến. Tên em, Ánh, luôn khiến cho anh thật hạnh phúc… anh không muốn đánh mất một tình yêu lớn lao như tình yêu của anh dành cho Ánh.

Tuy nhiên, tình yêu rộng lượng của em đòi hỏi anh phải hy sinh rất nhiều. Anh không muốn ràng buộc cuộc sống của em với cuộc sống của một người lính. Em nên tìm một người khác. Em đáng hưởng hạnh phúc. Em không thể đợi anh mãi được. Tình cảm đôi ta dành cho nhau đã làm cho chúng ta tốt hơn. Anh không muốn những năm tháng tuổi trẻ của em trôi qua trong sự đợi chờ. Nếu em hạnh phúc, anh cũng sẽ hạnh phúc.

Năm 1972 đã đến. Mùa xuân mang đến bao hy vọng cho mọi người, trong đó có anh. Chúc em một năm mới hạnh phúc. anh không thể nói chính xác khi nào chúng anh sẽ gặp lại nhau, nhưng anh tin rằng chúng ta sẽ đến được với nhau vào một ngày nào đó trên quê hương mình.

Hình ảnh đẹp của em vẫn mãi luôn trong trái tim anh. Tình Yêu của em!

 Sưu tầm