Thứ Năm, 28 tháng 12, 2023

 

“VOI CHUI LỖ KIM” LÀM MẤT NIỀM TIN NGHIÊM TRỌNG

“Con voi chui lọt lỗ kim” là câu ta thán của không ít người dân, nhất là ở những cơ quan, đơn vị, địa phương có cán bộ, công chức (hoặc người thân quen của cán bộ, công chức) ngang nhiên vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà các cơ quan chức năng “không biết”, không xử lý.

Suy cho cùng, những vụ việc kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân giảm sút niềm tin vào Đảng, Nhà nước; là nguy cơ xuất hiện các biểu hiện "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

1. Về các địa phương tiếp xúc, trò chuyện với người dân, chúng ta được nghe khá nhiều chuyện về hiện tượng “con voi chui lọt lỗ kim”, như: Khu homestay ngang nhiên xây trên đất nông nghiệp là của em trai ông cán bộ tỉnh đấy!; ngôi nhà của lãnh đạo quận xây vượt 2 tầng so với giấy phép, cao vọt hẳn lên so với những ngôi nhà xây đúng quy định, nhưng có bị xử lý gì đâu?; ông phó chủ tịch xã học chưa hết cấp 3, dân làng xì xào mà không hiểu sao ông ta vẫn có bằng đại học, vẫn thăng tiến; đất nhà mình ở từ thời ông cha thì đề nghị mãi vẫn không được cấp sổ đỏ, trong khi đó đất nông nghiệp gia đình cán bộ lấn chiếm thì có sổ đỏ hết rồi; quán bia đó bao năm chiếm hết vỉa hè nhưng không bị dẹp vì có cán bộ “bảo kê”, những nhà khác vừa bày vài cái ghế ra đã bị nhắc nhở, xử phạt... 

Điều rất đáng lo ngại là khi kể những chuyện như trên, người dân thường bày tỏ thái độ bất bình. Không chỉ bức xúc với những cán bộ, người trực tiếp liên quan đến sự việc vi phạm “cả làng, cả phố biết nhưng cơ quan chức năng “không biết”, không xử lý!” mà một số người dân còn bày tỏ sự thiếu tin tưởng vào cấp ủy, chính quyền địa phương, kỷ cương phép nước, thậm chí giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. 

Ví dụ mới đây, việc ông Nguyễn Công Thắng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bắc Ninh sử dụng bằng thạc sĩ giả khiến dư luận hết sức bất bình, bởi qua bao nhiêu cấp, bao nhiêu lượt kiểm tra mà vẫn lọt “con voi”; nhiều người đặt câu hỏi: Liệu có sự bao che, tiếp tay cho cán bộ này?... 

Hay nhiều nhất là tình trạng xây dựng không phép hoặc xây vượt giấy phép được cấp mà cán bộ và cơ quan chức năng "làm ngơ". Chất vấn Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại phiên họp cuối năm 2022, đại biểu Nguyễn Thị Thủy, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nêu thực tế ở nhiều nơi, rằng: Người dân chỉ cần chở một xe cát để sửa chữa nhỏ ngôi nhà trong ngõ sâu thì cán bộ cơ sở, thanh tra xây dựng biết ngay; thế nhưng có những công trình xây dựng lớn, vi phạm "tày đình" ở ngay mặt đường mà lực lượng chức năng lại "không phát hiện ra"! Điển hình là trường hợp "đại gia điếu cày" Lê Thanh Thản ngang nhiên "xây chui" cả tòa chung cư cao tầng ở phường Kiến Hưng (Hà Đông, Hà Nội) nhưng chính quyền cơ sở "không biết", cho đến khi những người mua nhà tại đây không làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng thì mới phát hiện ra (!).

2. Có lẽ cán bộ, đảng viên nào cũng biết lời nhắc nhở, răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền" và "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". 

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải mẫu mực nêu gương, trước hết là người đứng đầu. Đặc biệt, những năm qua, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về việc cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, như: Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Quy định số 101-QÐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định về những điều đảng viên không được làm... 

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Thực hiện nghiêm các quy định của Ðảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Ðảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiền phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng. Nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người đảng viên của Ðảng trước nhân dân; trách nhiệm nêu gương đó phải được thể hiện từ trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự phê bình và phê bình đến trong quan hệ với quần chúng, trách nhiệm trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ”.

Thực tế những năm qua, Đảng, Nhà nước kiên quyết xử lý nhiều cán bộ, đảng viên có vi phạm, khuyết điểm với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Từ năm 2012 đến 2022, cả nước đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên có sai phạm, trong đó hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, đã khởi tố, điều tra 1.304 vụ/3.523 bị can về các tội tham nhũng (tăng hơn 2 lần về số vụ án và hơn 3 lần về số bị can so với nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng); thi hành kỷ luật 91 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 17 Ủy viên và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng (tăng gần 2 lần so với nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội XII)... Qua đó cho thấy Đảng, Nhà nước ta không bao che, dung túng cho những cán bộ, đảng viên có vi phạm.

Thế nhưng, những sự việc kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” mà người dân vẫn thấy ở không ít cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là ở cấp cơ sở vẫn là điều rất đáng báo động. Đáng lưu ý là thông tin hiện nay được lan tỏa rất nhanh và rộng thông qua internet, mạng xã hội, có tác động rất lớn tới tư tưởng, tình cảm, tâm lý của mọi người và dư luận xã hội. Hơn nữa, thời đại văn minh, xã hội dân chủ thực sự rất bất bình, bức xúc trước những sự việc cán bộ, đảng viên đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, tiêu cực, nhất là những biểu hiện ngang nhiên coi thường kỷ cương phép nước. Nếu vẫn còn hiện tượng “con voi chui lọt lỗ kim” thì niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước sẽ bị suy giảm nghiêm trọng; không kiên quyết ngăn chặn hiệu quả sẽ là mối nguy của Đảng, dẫn đến hậu quả khôn lường. Đây chính là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

3. Cổ nhân đã đúc rút “Mất niềm tin là mất tất cả” và “Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”. Thấu hiểu sự vô cùng nguy hại của việc cán bộ, đảng viên “Nói một đằng, làm một nẻo” cũng như để xảy ra các vụ việc tiêu cực kiểu "Con voi chui lọt lỗ kim", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Cán bộ mà không gương mẫu thì dân sẽ không tin; cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiền phong, gương mẫu... Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Trọng tâm là phải phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, coi đây là gốc của mọi vấn đề”... 

Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới mà Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII vừa ban hành cũng đã xác định: Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và tính chiến đấu, sự nêu gương của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín, có tầm nhìn chiến lược. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả... 

Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”... Đồng thời, nghị quyết cũng nêu rõ phương châm phải dựa vào sức mạnh của nhân dân, “dân là gốc”, là trung tâm, chủ thể; xây dựng “thế trận lòng dân" vững chắc, "yên dân" là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phải giữ vững, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo đồng thuận xã hội... 

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật xác định rất rõ trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (trong đó có trách nhiệm nêu gương) cũng như trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát với phương châm kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm khắc những vi phạm, làm trong sạch đội ngũ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước... 

Để những nghị quyết, chỉ thị, quy định, phương châm này được thực thi hiệu quả, đòi hỏi chúng ta phải triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, nhưng thiết nghĩ việc quan trọng nhất là cần triệt để vận dụng bài học lịch sử “dựa vào dân” theo đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mà Đảng ta đã xác định.

Trong đó, cần có những quy chế, quy định cụ thể hơn để phát huy tối đa trách nhiệm và tai mắt của hàng triệu quần chúng nhân dân, kịp thời phát hiện, tố giác những cán bộ, đảng viên có vi phạm, khuyết điểm; đặc biệt là phải có hệ thống tiếp nhận thông tin tố giác thuận tiện, nhanh chóng và cơ chế bảo vệ, khen thưởng xứng đáng cho người tố giác đúng. Cùng với đó, kiên quyết thực hiện việc truy trách nhiệm đến cùng, xử lý thật nghiêm những cán bộ và cơ quan chức năng để xảy ra vụ việc vi phạm theo kiểu “con voi chui lọt lỗ kim” làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới niềm tin của nhân dân vào kỷ cương phép nước; không để các thế lực thù địch, phản động có cớ lợi dụng công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta. 

Nguyễn Tấn Ý CH32, hệ SĐH

 

 

KHẮC PHỤC NHỮNG BIỂU HIỆN LỆCH LẠC TRONG HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Quán triệt và triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, việc học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền nếp trong tổ chức thực hiện và đạt nhiều kết quả quan trọng, là cơ sở để thực hiện có hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Tuy nhiên, trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn một số biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn về vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này. Nguyên nhân là do một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại học, lười học, lười nghiên cứu; trong nghiên cứu không có phương pháp khoa học, hoặc không nghiên cứu thấu đáo, nghiên cứu lý luận thiếu tính thực tiễn, minh họa đường lối, quan điểm nhưng chưa cắt nghĩa đủ độ sâu sắc với vấn đề thực tiễn đặt ra, dẫn tới hiểu và vận dụng không đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này-hoặc vô tình hay hữu ý-đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch, sai trái, cơ hội chính trị lợi dụng nhằm chống phá Đảng.

Để học tập, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng, thích ứng với tình hình mới và đạt hiệu quả thiết thực, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, cần khắc phục những sai lệch sau:

Thứ nhất, khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng; xem nhẹ lý luận, tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện của bệnh ngại học, lười học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, đó là: “Chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập. Hoặc là sau một thời kỳ học tập tại chức có cán bộ phàn nàn trước những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ”.

Nhận thấy những nguy hại của căn bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, Đảng ta cũng đã chỉ rõ, lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới cũng là biểu hiện của sự suy thoái. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, phải “khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.

Thứ hai, khắc phục biểu hiện tách rời lý luận với thực tiễn; không thấy sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. 

Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Người có nguồn gốc lý luận chủ yếu từ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngày 12-7-1946, trả lời phóng viên trong cuộc họp báo tại biệt thự Roayan Môngxô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập hoặc “tách mình” ra khỏi quan điểm, lập trường tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, đúng như Người đã nói: “Cố gắng vận dụng những nguyên lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong hoàn cảnh cụ thể của nước mình”.

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu của sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi vì Chủ nghĩa Mác-Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, đặc biệt là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt nền tảng vững chắc cho những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm và phương pháp chỉ đạo cách mạng. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong những phạm trù cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây để hình thành tư tưởng của mình.

Bản chất của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, những quan điểm tách rời Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, không nhận thức được sự thống nhất giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, hoặc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin đều sai trái, có dụng ý xấu.

Thứ ba, khắc phục khuynh hướng cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh “không phải là một hệ thống” mà chỉ là những quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người.

Cần phải khẳng định rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”,  nghĩa là bao quát nhiều lĩnh vực, nhưng không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về mục đích cách mạng: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: Toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: Động viên toàn dân, tổ chức toàn dân... Do đó, yêu cầu phương pháp luận khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trên bình diện tổng thể hay từng bộ phận là phải luôn luôn quán triệt mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố, các bộ phận khác nhau trong sự gắn kết tất yếu của hệ thống tư tưởng đó quanh hạt nhân cốt lõi là tư tưởng độc lập, tự do.

Nhận thức như vậy trong nghiên cứu và vận dụng sẽ tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn hoặc quan điểm chỉ đạo thực tiễn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Thứ tư, khắc phục khuynh hướng đơn giản hóa, tầm thường hóa hoặc đi sâu vào tầm chương trích cú, xa rời thực tiễn cách mạng. 

Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn đạt đến sự hòa quyện nhuần nhuyễn lý trí với tình cảm, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách và sự khoan hòa nhân ái của một lãnh tụ nhân dân. Trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của những đường nét triết lý phương Đông và văn hóa phương Tây, vừa dân tộc, vừa quốc tế. Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại.

Khi nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề quan trọng là ở chỗ nhận ra đâu là nét đích thực của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc làm, qua cách sống, qua lời nói, qua bài viết, qua sự nghiệp cách mạng của Người. Đừng cố tìm và không nên tìm ở Hồ Chí Minh cái gì cũng đều có sẵn, vì như vậy cũng vô hình trung là xuyên tạc, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Thứ năm, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều; đồng thời bảo vệ, phát triển và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Sức sống mãnh liệt của Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ ở những nguyên lý, những quan điểm do các lãnh tụ nêu lên mà còn ở sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển của các thế hệ tiếp theo. Chính sự vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển đó làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn và ngày càng có sức mạnh to lớn. Có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh là một nhà lý luận-thực tiễn. Người xây dựng lý luận, vạch cương lĩnh, đường lối, chủ trương cách mạng và trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Và từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Người tổng kết, bổ sung để hoàn chỉnh và phát triển, cho nên tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh luôn sáng tạo, không lạc hậu, giáo điều. Nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ căn cứ vào các tác phẩm, bài viết mà cần coi trọng hoạt động thực tiễn của Người, thực tiễn cách mạng dưới sự tổ chức và lãnh đạo của Đảng do Người đứng đầu.

Hơn nữa, Hồ Chí Minh có một phong cách nói và viết rất ngắn gọn không theo lối viết kiểu hàn lâm. Vì vậy, chỉ căn cứ vào bài viết, bài nói, tác phẩm của Người là chưa đầy đủ, mà phải thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của Người. Vấn đề đặt ra là để phù hợp với chính những lời nói và việc làm của C.Mác, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh, trong nghiên cứu khoa học cũng như vận dụng vào hoạt động thực tiễn, chúng ta cần chú trọng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ: Tuyệt đối trung thành, vận dụng sáng tạo, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và xét lại, chủ nghĩa giáo điều.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao trình độ tư duy lý luận, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực công tác, thực hiện tốt các nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước ta trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó đặt ra yêu cầu mới là tăng cường nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhất thiết phải nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng đó phù hợp, gắn bó sống động với công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình mới.

Phạm Văn Trường CH32, hệ SĐH

 

 

TỈNH TÁO VỚI LUẬN ĐIỆU “THÚC ĐẨY TỰ DO HỌC THUẬT” NHẰM PHÁ HOẠI NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Đổi mới giáo dục theo hướng phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm nền tảng cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong thời kỳ mới của Đảng ta. Tuy nhiên, những năm gần đây, lợi dụng việc đổi mới trong giáo dục của ta, các thế lực thù địch, phản động tung ra luận điệu “thúc đẩy tự do học thuật” nhằm tách giáo dục ra khỏi chính trị, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cảnh giác trước luận điệu “tự do học thuật” phi giai cấp

Theo nhiều học giả phương Tây, “tự do học thuật” được hiểu là “tự do của một người trong việc giảng dạy và nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự thật không giới hạn mà không gặp phải nỗi sợ hãi về hình phạt hay mất việc vì đã xâm phạm một quan điểm chính thống về chính trị, tôn giáo hay xã hội”; hay “Tự do học thuật là sự tự do của người dạy và người học trong việc dạy, học, tìm hiểu kiến thức và nghiên cứu mà không có sự can thiệp hay giới hạn vô lý của pháp luật, nội quy hay áp lực công cộng”.

Những quan điểm đó đang được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá cách mạng Việt Nam cổ xúy, tung hô. Cùng với đó, họ tổ chức “hội thảo khoa học” bàn về vấn đề này và kêu gọi học sinh, sinh viên Việt Nam đấu tranh cho cái gọi là “đòi quyền tự do học thuật”. Theo những quan điểm trên thì giáo dục phải đứng ngoài chính trị, nhà nước và giai cấp cầm quyền không được quy định về nội dung giáo dục hay truyền bá, lồng ghép tư tưởng chính trị của mình vào việc đào tạo ra những thế hệ chủ nhân tương lai để bảo vệ quyền và lợi ích của chính giai cấp họ.

Tuy nhiên, quan điểm “tự do học thuật” theo ý nghĩa trên chưa bao giờ tồn tại trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp. Kể từ khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời, giai cấp chủ nô đã xem giáo dục là công cụ để thực hiện mục đích chính trị và bảo vệ nền chính trị, họ đã lợi dụng những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn để thâu tóm quyền lực, lợi dụng kinh thánh, giáo lý của các tôn giáo này để mị dân, ru ngủ, thủ tiêu tinh thần, ý chí phản kháng của quần chúng nhân dân nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình.

Sang thời kỳ phong kiến, tầng lớp vua quan, quý tộc, địa chủ đã tìm mọi cách để nhồi nhét vào đầu óc của quần chúng nhân dân tư tưởng “trung quân” (trung với vua); trong dạy học và giáo dục thì coi trọng truyền bá cho người học những tư tưởng xem vua là thiên tử, “lệnh vua là mệnh trời”, “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”.

Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, sau khi lợi dụng được quần chúng nhân dân lật đổ chế độ phong kiến, giai cấp tư sản lại một lần nữa ra sức lợi dụng kinh thánh, giáo lý của những tôn giáo lớn hoặc thông qua nền giáo dục tư bản chủ nghĩa để truyền bá những tư tưởng tư sản. Bên cạnh đó, họ còn tung ra những chiêu bài với cái gọi là “tự do”, “dân chủ” theo kiểu hỗn độn trong một khuôn khổ nhất định, khuyến khích lối sống không quan tâm đến xã hội để dễ quản lý và bóc lột.

 

Nhận thức đúng quan điểm mác-xít về vai trò to lớn của giáo dục

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quán triệt quan điểm của C.Mác: “Lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”, những người cộng sản đã làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong phong trào công nhân thế giới, tạo nên một sức mạnh góp phần lật đổ ách thống trị của phong kiến, đế quốc, thực dân. Thực tiễn đã chứng minh rằng, nếu muốn cầm quyền, đảng chính trị (chính đảng) nhất thiết phải có một nền tảng tư tưởng riêng, không được tách rời và cần phải ra sức truyền bá nền tảng tư tưởng đó vào lực lượng quần chúng của mình, trừ khi muốn biến nó thành một đảng hay một tổ chức khác. V.I.Lênin đã khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”.

Vận dụng trung thành và sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò vô cùng to lớn của giáo dục. Người chỉ rõ nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục vì con người, có vai trò huấn luyện, bồi dưỡng, phát triển toàn diện con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ của nền giáo dục là “phải phục tùng đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế”.

Chống việc lợi dụng “tự do học thuật” với dụng ý chính trị xấu

Ở Việt Nam, những năm gần đây, nhất là khi Luật Giáo dục đại học năm 2012 được ban hành (sửa đổi, bổ sung năm 2018), nhiều ý kiến trong và ngoài nước cho rằng cần “thúc đẩy tự do học thuật” để đưa nền giáo dục Việt Nam bắt kịp thế giới. Một số ý kiến còn đưa ra những dẫn chứng về cơ sở pháp lý cho rằng tự do học thuật được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam. Họ đã trích Điều 25 Hiến pháp năm 2013 của nước ta: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” và luận giải rằng, quyền tự do học thuật hàm chứa trong quyền tự do ngôn luận đã được hiến định từ lâu. Họ còn trích khoản 3, Điều 32 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong học thuật, trong hoạt động chuyên môn”; khoản 7, Điều 55 của Luật này quy định giảng viên có quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học” và cho rằng cách diễn đạt này thể hiện tinh thần của quyền tự do học thuật.

Trên thực tế, Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam chưa có một văn bản nào quy định về tự do học thuật theo kiểu “tự do của một người trong việc giảng dạy và nghiên cứu nhằm tìm kiếm sự thật không giới hạn mà không gặp phải nỗi sợ hãi về hình phạt hay mất việc vì đã xâm phạm một quan điểm chính thống về chính trị, tôn giáo hay xã hội”, mà chỉ quy định về việc tự do ngôn luận, tự chủ về việc giáo dục, đào tạo theo luật định. Khoản 11, Điều 1 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “Quyền tự chủ là quyền của cơ sở giáo dục đại học được tự xác định mục tiêu và lựa chọn cách thức thực hiện mục tiêu; tự quyết định và có trách nhiệm giải trình về hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản và hoạt động khác trên cơ sở quy định của pháp luật và năng lực của cơ sở giáo dục đại học”. Khoản 7, Điều 55 của Luật này cũng quy định: Giảng viên có quyền “độc lập về quan điểm chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học trên nguyên tắc phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội”.

Như vậy, những quy định của Luật Giáo dục đại học hiện hành quy định rõ các cơ sở giáo dục đại học có quyền tự chủ trong việc ban hành, tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, chính sách chất lượng, mở ngành, tuyển sinh, đào tạo, hoạt động khoa học-công nghệ, hợp tác trong nước và quốc tế nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và những chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục của xã hội Việt Nam, phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội Việt Nam, hoàn toàn không quy định về việc người dạy và người học có thể tự do bày tỏ quan điểm, nghiên cứu những vấn đề không chịu sự ràng buộc của quan điểm chính trị hay tôn giáo.

Tự do học thuật ở Việt Nam cần được hiểu là việc người dạy và người học có quyền lựa chọn những vấn đề nghiên cứu, phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa và quy định của pháp luật Việt Nam vì mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam; phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tỉnh táo để đi đúng hướng

Thực chất việc “thúc đẩy tự do học thuật” mà các thế lực thù địch rêu rao là đặt giáo dục ra ngoài chính trị, nhưng đây chính là một thủ đoạn nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại văn hóa và truyền thống của dân tộc ta, làm cho giáo dục không thể thực hiện được chức năng giáo dục nhân cách, chức năng định hướng tư tưởng, xây dựng niềm tin cho người học. Chính vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là những người làm công tác giáo dục cần phải hết sức tỉnh táo để công cuộc đổi mới nền giáo dục Việt Nam đi đúng hướng.

Giáo dục là công cụ sắc bén nhất để bảo vệ chính trị, là vấn đề cốt lõi, quyết định đến sự tồn tại, phát triển của một quốc gia, dân tộc; chính giáo dục cùng với hệ thống pháp luật làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội. Vì vậy, các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn thể, nhà trường cần làm tốt công tác tuyên truyền, làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh, sinh viên hiểu đúng vai trò của giáo dục đối với sự tồn vong của chế độ, với sự tồn tại, phát triển của quốc gia, dân tộc, hiểu đúng ý nghĩa của thuật ngữ “tự do học thuật” và việc thực hiện quyền tự chủ trong học thuật của các cơ sở giáo dục.

Trong đổi mới giáo dục và thực hiện quyền tự chủ về học thuật, các cơ sở giáo dục-đào tạo cần tuân thủ nghiêm túc những quy định của Hiến pháp và pháp luật; việc đổi mới và thực hiện quyền tự chủ về học thuật phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ nghĩa Mác-Lênin được cấu thành bởi 3 bộ phận là triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Trước đây, 3 bộ phận này được tổ chức giảng dạy bài bản, chuyên sâu trong chương trình đào tạo đại học. Tuy nhiên những năm gần đây, do giảm thời lượng lý thuyết, tăng thời lượng thực hành, một số cơ sở giáo dục đã và đang có biểu hiện xem nhẹ việc giảng dạy 3 môn học quan trọng này. Mặt khác, việc lựa chọn các môn lý luận tự chọn của sinh viên hiện nay chủ yếu dựa vào cảm tính và tự tìm hiểu qua các lớp học trước nên động cơ, thái độ học tập của các em có thời điểm chưa đúng đắn, chưa tích cực.

Chính vì vậy, các cơ sở giáo dục cần cân nhắc kỹ lưỡng việc quy định tên của môn học, việc cắt giảm thời lượng lý thuyết, nhất là thời lượng dạy học 3 môn cấu thành nên Chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời làm tốt công tác quy định, định hướng cho việc lựa chọn các môn học tự chọn, các nội dung nghiên cứu của người học. Trong tình hình hiện nay, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc giảng dạy, giáo dục lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin trong các cơ sở giáo dục đại học cũng là một giải pháp hữu hiệu để góp phần phòng ngừa việc lợi dụng “tự do học thuật” nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bế Hải Triều CH32, hệ SĐH

 

 

TRÁNH XA NHỮNG KẺ ĐẶT ĐIỀU!

Ông Hậu đang ngồi quan sát cháu đích tôn làm bài tập tiếng Anh thì bà Tươi hớt hải chạy về gọi to: - Duy Anh ơi, cháu đang làm gì đấy?- Cháu nó đang học tiếng Anh chứ còn làm gì nữa? Bà tưởng ông cháu tôi ngồi tán gẫu như bà chắc? - Ông Hậu trả lời với giọng có vẻ trách móc vợ.

- Ôi cháu ơi, từ nay không phải học tiếng Anh nữa. Bỏ ngay thôi. Người ta bắt bỏ tiếng Anh để chuyển sang học tiếng Trung hết rồi, hai ông cháu không biết gì à?

Nghe vợ nói vậy, ông Hậu nghiêm giọng:

- Bà lại nghe thông tin vớ vẩn ở đâu rồi về nói năng linh tinh thế! Để yên cho cháu nó tập trung học bài!

Bé Duy Anh cũng dừng bút, quay ra cười nói:

- Ông nói đúng đấy! Chắc bà nội lại nghe mấy bà ở đầu ngõ “buôn dưa lê” đấy mà! Cô giáo cháu bảo rồi, không có chuyện cấm học tiếng Anh đâu bà nhé!

- Bà nghe cô Tình nói đấy. Cô này hiểu biết, có nhiều thông tin “hot” lắm, không sai được đâu.

Thấy vợ nhắc đến nhân vật tên Tình, ông Hậu hốt hoảng:

- Bà giờ còn giao du với cả người như vậy à? Bà có biết đó là đối tượng từng bị phạt hành chính về tội thông tin, tuyên truyền sai sự thật, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân không? Cô ta đang nằm trong diện theo dõi của cơ quan an ninh đấy! Tôi còn lạ gì cái nhà cô này, hễ mở miệng ra là xuyên tạc, nói xấu chế độ, quy chụp, xúc phạm người khác. Hôm trước ông tổ trưởng dân phố mở trang “phây búc” của cô ấy cho tôi xem, gớm, toàn giọng điệu bất mãn. Bà nên tránh xa cô ta ra càng nhanh càng tốt cho tôi!

Vừa nói, ông Hậu vừa với tay cầm điều khiển bật ti vi. Đúng lúc bà Tươi định phản bác lại thì trên chương trình thời sự phát thông tin cảnh báo về việc trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin giả, cố tình xuyên tạc, gây dư luận hiểu sai về quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xem xong thông tin, ông Hậu quay sang bà Tươi:

 - Bà thấy chưa? Vừa rồi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định về việc phê duyệt sách giáo khoa các môn học, hoạt động giáo dục lớp 5 và sách giáo khoa môn tiếng Trung lớp 3, lớp 4 sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông. Có thông tin nào nói rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định bỏ tiếng Anh để bắt học sinh học tiếng Trung đâu? May cho bà là mới nói chuyện ở nhà nhé. Bà đi ra ngoài mà tuyên truyền vớ vẩn như vậy là bị xử lý đấy!

Đến lúc này, bà Tươi mới ngớ người ra, mặt đỏ ửng vì xấu hổ với chồng và cháu nội. Một lát sau bà mới thẽ thọt:

- Thông tin như vậy mà cái nhà cô Tình kia cũng xuyên tạc, đặt điều được. Chắc cô ta có ý đồ xấu rồi, chứ bình thường ai người ta dám đi tuyên truyền lệch lạc thế? Từ nay tôi sẽ tránh xa những người ấy ra ông ạ. Muốn biết thông tin gì thì cứ tìm hiểu ở các báo, đài chính thống, ông nhỉ!

Nguyễn Văn Thơm CH32, hệ SĐH

 

 

GỠ “NÚT THẮT” ĐỂ CÁN BỘ NĂNG ĐỘNG, SÁNG TẠO

Kết luận số 14-KL/TW (Kết luận 14) ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị đã tạo được cơ sở chính trị quan trọng, khơi dậy được tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ các cấp. Tuy nhiên, để tinh thần “6 dám” có thể chuyển hóa thành hành động của cán bộ trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ thì vẫn còn nhiều lực cản.

1. Để lý giải cặn kẽ nguyên nhân dẫn đến tâm lý sợ sai không dám làm, hành vi đùn đẩy công việc, né tránh trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua thì có nhiều. Trong quá trình khảo sát thực tế tại các địa phương, chúng tôi nhận được nhiều câu trả lời có chung một đáp án. Trước hết, xét về góc độ tâm lý học, sợ sai, không dám làm là một biểu hiện có phần tiêu cực, nhưng một trong các nguyên nhân dẫn đến biểu hiện tâm lý này lại đến từ những kết quả tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng.

Đồng chí Hồ Trung Việt, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau thẳng thắn thừa nhận: “Thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Trung ương mà đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Nhiều vụ đại án được đưa ra xét xử, hàng loạt quan chức hầu tòa, nhiều cán bộ vướng vòng lao lý... Chính những kết quả này vô hình trung đã tạo ra hiệu ứng lây lan trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Song song đó, Trung ương ban hành nhiều quy định, chỉ thị, kết luận nhằm siết chặt kỷ cương của Đảng và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tâm lý e ngại “cố thủ”, sợ sai không dám làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên”.

Một nguyên nhân khác xuất phát từ sự chậm trễ trong việc ban hành văn bản nhằm thể chế hóa Kết luận 14 của Bộ Chính trị. Kết luận 14 nêu rõ: “... kịp thời xem xét, nghiên cứu để thể chế hóa thành quy định pháp luật, tạo cơ sở pháp lý để nhân rộng các mô hình, giải pháp...”. Kết luận 14 được Bộ Chính trị ban hành ngày 22-9-2021 và có hiệu lực ngay từ thời điểm ban hành. Ngày 29-9-2023, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Qua khảo sát tại nhiều tỉnh, thành phố, từ đội ngũ cán bộ các cấp đến lãnh đạo các địa phương cho rằng, vì chưa có văn bản thể chế hóa, chưa có cơ sở pháp lý nên rất khó triển khai trong thực tiễn. 

Đồng chí Phan Thanh Duy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu nêu quan điểm: “Kết luận 14 của Bộ Chính trị là văn bản của Đảng mang tính định hướng lớn. Mặc dù đội ngũ cán bộ rất phấn khởi, anh em thêm vững tin trong thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao, tuy nhiên những nội dung tại Kết luận 14 còn mang tính bao hàm, chung chung, chưa rõ, chưa cụ thể. Trước khi có Nghị định số 73/2023/NĐ-CP của Chính phủ, anh em không khỏi e ngại vì nếu thực hiện đột phá, đổi mới, sáng tạo nhưng có sai sót thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, thậm chí là xử lý hình sự”.

2. Quá trình khảo sát tại các địa phương, các đồng chí lãnh đạo đều có chung đánh giá, Kết luận 14 đã tạo ra sức lan tỏa về tinh thần đổi mới chung trong đội ngũ cán bộ các cấp, nhưng vẫn chưa thể có những đổi mới, sáng tạo mang tính đột phá như Kết luận 14 mong muốn. Một nguyên nhân khác khiến cán bộ chùn bước, e ngại không dám đổi mới và chỉ có thể “sáng tạo trong khuôn khổ”, không dám “vượt rào” đến từ những bất cập, hạn chế từ các quy định của chính sách pháp luật hiện hành.

Trên thực tế, hệ thống pháp luật ở nước ta chưa đồng bộ, còn nhiều chồng chéo. Đại hội XIII của Đảng chỉ ra: “Hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm, có nội dung chưa thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước và quy định của Đảng”. Và trong nhiều trường hợp, cán bộ muốn sáng tạo thì đồng nghĩa với việc phải làm “trái luật”.

Tại xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An), đồng chí Hồ Đức Vĩ, Phó bí thư Đảng ủy xã cho biết: Giai đoạn trước, đất nông nghiệp trong xã bị bỏ hoang rất nhiều. Để khắc phục tình trạng này, UBND huyện cho chủ trương tích tụ ruộng đất, chuyển đổi từ trồng lúa sang các mô hình kinh tế trang trại. Nhằm tạo điều kiện cho nhân dân mở rộng quy mô sản xuất, lãnh đạo UBND xã Quỳnh Đôi cho phép nhân dân xây dựng các công trình cất trữ thức ăn chăn nuôi phù hợp với quy mô trang trại. Từ chủ trương này, Quỳnh Đôi xuất hiện nhiều mô hình trang trại quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao, được các cơ quan báo chí của tỉnh tuyên truyền, kịp thời nhân rộng. Tuy nhiên, khi cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra, kết luận các công trình xây dựng vượt quá diện tích cho phép theo những quy định của pháp luật và Chủ tịch UBND xã bị kỷ luật khiển trách, hạ bậc lương trong 6 tháng.

Bàn sâu kỹ hơn về vấn đề này, đồng chí Lê Văn Sử, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau tâm huyết chia sẻ: Rất nhiều quy định pháp luật chưa phù hợp, hoặc chưa theo kịp với thực tiễn nên dù địa phương có rất nhiều trăn trở, vướng mắc nhưng không tìm được cách giải quyết. Kết luận 14 nêu rõ: “Đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ phải bảo đảm không trái với Hiến pháp và điều lệ Đảng”. Trong khi đó, pháp luật là sự cụ thể hóa Hiến pháp, nếu pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn mà cán bộ vẫn cố làm ngược lại thì có thể còn bị quy vào tội cố ý làm trái. Đó là chưa kể, không ít trường hợp, dù cán bộ đã làm đúng theo quy định pháp luật, nhưng khi xảy ra vấn đề, khi kiểm tra, thanh tra vẫn bị kết luận là làm sai vì cách áp dụng quy định của luật khác nhau, có luật thì cho phép, nhưng luật khác lại không. Chính những bất cập này khiến cán bộ chùn bước, tạo ra tâm lý e ngại, thậm chí tạo sức ì xã hội vì cán bộ không dám làm, công việc không trôi chảy.

Chỉ ra những vướng mắc trong các quy định của pháp luật, đồng chí Lê Văn Sử nêu dẫn chứng, cụ thể: Từ năm 2007, tỉnh giao cho một doanh nghiệp thực hiện dự án phát triển du lịch ven biển và hoàn toàn phù hợp với Luật Đầu tư. Đến năm 2010, vùng ven biển Cà Mau bị sạt lở nghiêm trọng, do đó doanh nghiệp phải tìm cách bảo vệ đất ven biển đã được giao khai thác, quản lý, sử dụng. Thời điểm năm 2016, trong chuyến khảo sát của Thủ tướng Chính phủ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, lãnh đạo tỉnh kiến nghị cho phép tỉnh triển khai các biện pháp để bảo vệ khu vực ven biển bị sạt lở và được Thủ tướng Chính phủ cũng như lãnh đạo các bộ, ngành rất ủng hộ. Nhưng khi địa phương làm văn bản đề nghị gửi ra, các cơ quan Trung ương lại cho rằng vướng các quy định của Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp và một số luật khác. Sau đó các bộ, ngành gửi văn bản đề nghị tỉnh Cà Mau phải thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật.

Từ những thực tế trên, đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho rằng, để có những đổi mới, sáng tạo, “xé rào” cơ chế, liên quan đến thẩm quyền của cấp nào thì xin cấp đó phê duyệt. Nhưng hiện nay những vướng mắc từ các quy định pháp luật khiến cho cấp thẩm quyền ở cơ sở không thể phê duyệt, mà để có thể phê duyệt được thì lại phải chờ Quốc hội xem xét sửa luật. Như vậy những vấn đề về cơ chế, chính sách, luật pháp... khiến cho tinh thần năng động, sáng tạo của cán bộ vẫn trong vòng luẩn quẩn. Do đó, cần phải có cơ chế linh hoạt hơn, phân cấp về cơ sở mạnh hơn. Theo đó, nếu ở cơ quan, đơn vị, địa phương phát hiện những quy định của pháp luật không phù hợp với thực tiễn và trình đến cấp có thẩm quyền xin được thí điểm thực hiện thì nên cho phép.

3. Một lực cản khác khiến cán bộ không quyết tâm đổi mới, sáng tạo là chưa có cơ chế khích lệ tương xứng. Trong không ít báo cáo, chỉ thị, nghị quyết, Trung ương đã chỉ ra thực trạng chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài. Đặc biệt, đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất. Xét ở khía cạnh thu nhập, việc trả lương công chức, viên chức vẫn theo hệ số, có tính chất “cào bằng”, mặc dù áp lực công việc lớn nhưng mức thu nhập nhận lại không cao khiến cho cán bộ thiếu động lực phấn đấu. Ở khía cạnh thăng tiến trong nghề nghiệp, tình trạng bổ nhiệm cán bộ “đúng quy trình” nhưng không bảo đảm tiêu chuẩn, năng lực vẫn là vấn đề nhức nhối; việc trọng dụng người tài có lúc, có nơi vẫn thiếu sự sòng phẳng, chưa thực sự công bằng. Đó là chưa kể, ở một số cơ quan, đơn vị đã xảy ra tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho cấp dưới, khi khen thưởng thì nhận thành tích từ trên xuống dưới nhưng khi xử lý sai phạm thì “trên nhẹ, dưới nặng”.

Minh chứng như tại Bạc Liêu, với đam mê nghiên cứu khoa học, đồng chí Dương Văn Ngô, Trưởng phòng Kỹ thuật Trung tâm Giống nông nghiệp Bạc Liêu (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu) và một số cán bộ ở trung tâm đã nghiên cứu thành công giống lúa BL9. Khi giống được lưu hành, UBND tỉnh đã tặng bằng khen tập thể và cá nhân anh Ngô. Đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu chia sẻ: “Thực tế trong lĩnh vực nông nghiệp, cán bộ rất vất vả nhưng cơ chế động viên, khích lệ chưa thật xứng đáng với công sức bỏ ra. Chỉ xét ở trường hợp đồng chí Dương Văn Ngô, nếu ở doanh nghiệp, với việc nghiên cứu thành công giống lúa chất lượng như BL9 thì anh sẽ được khen thưởng, đãi ngộ xứng đáng. Nhưng trong khu vực công thì bản thân anh chỉ được nhận bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh, kèm số tiền 1,8 triệu đồng...”.

Xét ở khía cạnh khác, chiếc “gọng” đang “kìm hãm” sự sáng tạo của cán bộ còn nằm ở vai trò người lãnh đạo chủ chốt của từng địa phương, đơn vị... Thực tế, ngay tại Nghị định số 73/2023/NĐ-CP đưa ra quy định “Kế hoạch đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ được gửi đến người đứng đầu cơ quan sử dụng cán bộ để xem xét, quyết định”. Tuy nhiên, nếu người đứng đầu cơ quan nhận thấy những đề xuất đổi mới, sáng tạo không đúng quy định pháp luật thì rất có thể sẽ không cho phép triển khai. Hay như nghị định cũng quy định, cấp nào cho phép thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo thì người cho phép chịu trách nhiệm về việc phê duyệt đề xuất nên rất dễ nảy sinh tâm lý không ai dám làm...

Trung tướng Lưu Phước Lượng, nguyên Phó trưởng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 9, cho rằng, đã là đổi mới, sáng tạo thì có thể đúng, có thể sai, có thể mang lại hiệu quả hoặc gặp thất bại. Vấn đề đặt ra là phải có cách đánh giá, nhìn nhận thực sự phù hợp. Với những cán bộ dám đổi mới, sáng tạo và mang lại hiệu quả, cùng với việc khen thưởng, biểu dương, các cơ quan chức năng cũng nên “có gan” cất nhắc cán bộ một cách tương xứng. Ngược lại, với những trường hợp đổi mới, sáng tạo, vì lợi ích chung nhưng không thành công, có sai sót thì cũng cần động viên, khích lệ cán bộ một cách phù hợp. Nếu ví Kết luận 14 như một chiếc chìa khóa thì những người lãnh đạo đứng đầu các cơ quan, đơn vị chính là người tra chiếc chìa vào ổ khóa, dẫn dắt cán bộ, đảng viên mở ra cánh cửa dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Từ những vấn đề nêu trên, để sức sáng tạo của cán bộ thực sự được “giải phóng”, để tinh thần “6 dám” trong đội ngũ cán bộ các cấp chuyển hóa thành hành động thì còn rất nhiều vấn đề đang đặt ra. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP; trước đó Bộ Chính trị ban hành Quy định số 117-QĐ/TW ngày 18-8-2023 về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan đã đáp ứng được mong mỏi của đội ngũ cán bộ; đồng thời đây là những cơ sở chính trị, hành lang pháp lý rất quan trọng để các cấp triển khai thực hiện Kết luận 14 hiệu quả.

Trần Văn Mạnh CH32, hệ SĐH

 

 

KHÔNG ĐỂ CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG CUỘC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

Thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thông qua nhiều âm mưu nham hiểm nhằm xuyên tạc, phủ nhận đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Sự nham hiểm của những luận điệu xuyên tạc

Biển là không gian chiến lược mở, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đường lối, chiến lược và tương lai phát triển của đất nước. Biển Đông là “bản lề” nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là nơi hội tụ lợi ích chiến lược và thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, nhất là các nước lớn. Về mặt tiềm năng phát triển, Biển Đông có nhiều lợi thế. Nơi đây đã và đang trở thành tâm điểm của sự cạnh tranh lợi ích, quyền lực và tầm ảnh hưởng của các nước lớn, được các chuyên gia quân sự ví như vùng “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực với nhiều diễn biến phức tạp, nhạy cảm.

Lợi dụng tình hình phức tạp trên Biển Đông, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị khai thác triệt để, biến tấu thành nhiều bài viết, hình ảnh, video nhằm bịa đặt tình hình, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công tác quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; lợi dụng các trang mạng xã hội để lan truyền, tán phát thông tin, gây tâm lý hoang mang, bất ổn, chia rẽ đoàn kết trong nước và quốc tế. Với những nội dung xuyên tạc xảo trá, họ thường lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng: “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông”; Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước lớn, không cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình Biển Đông, không có giải pháp đủ mạnh để bảo vệ chủ quyền biển, đảo... Những thông tin xuyên tạc này ít nhiều đã tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo. Quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo quốc gia. Sinh thời, khi đến thăm cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ phát triển mạnh kinh tế-xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”. Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo là một bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng không thể tách rời, bất khả xâm phạm của Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc nói chung, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền, bảo đảm an ninh, an toàn và lợi ích quốc gia-dân tộc trên các vùng biển, đảo nói riêng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoạch định và triển khai thực hiện đường lối bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại và tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo quốc gia bằng biện pháp hòa bình

Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, trong đó chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong các tình huống cụ thể với mục tiêu cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông, về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quốc gia theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là rất rõ ràng và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn.

Với những vấn đề còn tồn tại bất đồng, tranh chấp, Việt Nam nhất quán giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế. Là một quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã tham gia ký kết UNCLOS 1982, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp và nguyên tắc quan hệ quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực, quốc tế.

Trên thực tế, trong những thời điểm mà quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình trên các diễn đàn quốc tế, khu vực thông qua các cuộc gặp gỡ, trao đổi đoàn các cấp trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao; chủ động kiềm chế, không có các hành động khiêu khích, không làm phức tạp tình hình; thực hiện đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thể hiện thiện chí để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Xây dựng hệ thống các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng, tranh chấp với các bên, các nước có liên quan, như biện pháp ngoại giao (đàm phán hòa bình; thương lượng; điều tra; trung gian hòa giải; sử dụng các tổ chức quốc tế, khu vực; ký kết các hiệp định song phương, đa phương...).

Trên tinh thần đó, Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các bên, các nước. Kiên trì mục tiêu không để nước ngoài lấn chiếm nhưng cũng không để xảy ra xung đột; kiên trì tìm kiếm giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan không có những hành động quá khích, cực đoan, làm phức tạp thêm tình hình, tuân thủ các cam kết đã ký kết, giải quyết mọi bất đồng trên cơ sở thượng tôn luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 và nguyên tắc chung sống hòa bình. Coi trọng thúc đẩy xây dựng lòng tin chiến lược với các đối tác; đẩy mạnh hợp tác đa phương trên các lĩnh vực bảo đảm an ninh, nghiên cứu khoa học-công nghệ, phòng, chống tội phạm trên biển... để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Một mặt, Việt Nam không tạo phe, không kết nhóm, không chọn bên, không liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam nhằm tấn công các nước khác, không đi theo nước này để chống lại nước kia, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, chúng ta cũng không mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.

Nhằm quán triệt và thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài tạo thành sức mạnh tổng hợp.

Tập trung giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển (hải quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư, dân quân tự vệ biển) vững mạnh; xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị-tinh thần vững chắc.

Tích cực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý, bảo vệ biển, đảo phù hợp với luật pháp quốc tế. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, pháp lý, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.

Những quan điểm nêu trên là đường lối chính trị, căn cứ pháp lý để xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin trong nước, quốc tế, tạo thành nền tảng và sức mạnh tổng hợp quốc gia; đồng thời là cơ sở để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; để dư luận quốc tế hiểu rõ về lập trường, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong tình hình hiện nay.

Nguyễn Văn Hùng CH32, hệ SĐH

 

BẢN SẮC KHÔNG THỂ MẬP MỜ, LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC

Thời gian gần đây, bám vào một số sự kiện văn hóa, văn học nghệ thuật (VHNT) gây ồn ào trên không gian mạng, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội có tư tưởng thù địch ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nói khác”, “nói ngược”... Họ kích động rằng, muốn nổi tiếng thì các tác giả phải “nói khác”, “nói ngược” trong lao động nghệ thuật. Thực chất, đó là chiêu bài nguy hiểm nhằm kích động, lôi kéo môi trường VHNT đi ngược lại định hướng của Đảng.

THẤY GÌ TỪ THÁI ĐỘ ÁM CHỈ, BÓNG GIÓ

Lợi dụng đời sống VHNT để truyền bá tư tưởng phản động, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc... không phải là thủ đoạn mới mẻ gì. Nó xuất hiện, tồn tại lâu nay và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, khai thác nhằm kích động, lôi kéo công chúng. Những năm gần đây, khi không gian mạng trở thành một “thế giới thứ hai” của đời sống con người và xã hội, âm mưu, thủ đoạn lợi dụng VHNT, thị trường giải trí để chống phá đất nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa của các thế lực thù địch lại càng diễn biến phức tạp. Để tạo hiệu ứng đám đông, họ sẵn sàng dựng lên một “mẫu hình” nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng từ những đối tượng cực đoan, bất mãn, suy thoái... và ra sức tô vẽ thành “thần tượng” để dụ dỗ, lừa bịp công chúng. Chẳng hạn một nhà văn Việt Nam suy thoái tư tưởng, đã rời bỏ Tổ quốc ra nước ngoài sinh sống, lại được Viện Hàn lâm Pháp trao cho cái giải thưởng văn học hồi tháng 4 vừa qua là một ví dụ. Từ chuyện này, một số tổ chức truyền thông có tư tưởng thù địch với Việt Nam ở hải ngoại đã thực hiện các chiến dịch tô vẽ “thần tượng”; xuyên tạc môi trường VHNT trong nước, bôi xấu, hạ bệ những nhà văn yêu nước. Họ tuyên truyền rằng, văn nghệ sĩ Việt Nam muốn nổi tiếng, muốn thành danh thì phải học cách “nói ngược”, “nói khác” với quan điểm, chủ trương của Đảng. Họ suy diễn về tự do sáng tạo, về tư duy “khai phóng”, vượt khỏi những rào cản, định kiến để vươn tầm quốc tế...

Nhìn lại những diễn biến chính của đời sống VHNT trong thời kỳ đổi mới, nhất là giai đoạn gần đây, chúng ta thấy rõ những dấu ấn đột phá của hội nhập. Nhờ đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, hội nhập theo định hướng của Đảng mà đời sống VHNT có sự khởi sắc đáng ghi nhận. Chẳng hạn ở lĩnh vực điện ảnh. Nhiều đạo diễn Việt kiều nổi tiếng trở về nước làm phim, mang đến luồng gió mới. Nhiều bộ phim có giá trị nội dung, nghệ thuật tốt, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc; phản ánh đậm nét những góc nhìn cận cảnh về lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc; ca ngợi vẻ đẹp đất nước, nền văn hóa, con người Việt Nam... thông qua những lát cắt điển hình, được đông đảo công chúng hào hứng đón nhận. Thành quả đó đã tạo động lực, khích lệ văn nghệ sĩ trong nước phải vượt lên, tự đổi mới, làm mới bản thân để cạnh tranh với các đồng nghiệp Việt kiều và các sản phẩm quốc tế nhập khẩu.

Tuy nhiên, sự hội nhập của VHNT cũng là môi trường được các thế lực thù địch, thông qua truyền thông và không gian mạng, gieo rắc, lèo lái tư tưởng phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cách đây 10 năm, khi còn sống, nhà văn Lê Văn Thảo, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, trong một lần trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, đã nhấn mạnh rằng, điều ông và các nhà văn đã từng lăn lộn qua chiến tranh lo ngại nhất chính là sự xuất hiện của thái độ “ám chỉ” trong sáng tác VHNT. Lợi dụng vào tính hư cấu của VHNT, không ít tác giả đã bày tỏ khuynh hướng sáng tạo đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng bằng kiểu ám chỉ, do họ bị tiêm nhiễm, kích động, ảnh hưởng bởi các luồng tư tưởng thù địch từ bên ngoài. Hệ lụy của lối tư duy “ám chỉ” đó là một số văn nghệ sĩ đã suy thoái về tư tưởng chính trị, rời bỏ quê hương ra nước ngoài sinh sống, sử dụng chính ngòi bút, vốn sống, cảm xúc nội tại để “nói ngược”, “viết ngược”, làm phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Thậm chí, đã có một số ít nghệ sĩ nổi tiếng, bị lôi kéo tham gia vào những bộ phim có nội dung xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bóp méo, bôi đen hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh...

Nếu như trước đây, cách nói, cách viết, cách thể hiện nhân vật theo lối “ám chỉ” được thể hiện một cách trực cảm, trực giác... thì nay, trước làn sóng dư luận đa chiều, họ cổ xúy kiểu thái độ bóng gió, mập mờ... Với hình thức thể hiện này, trong không ít tác phẩm VHNT, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái vùng miền, lịch sử quê hương, đất nước hiện lên méo mó, lai căng, biến dạng. Trên phương diện luật pháp, rất khó để bắt bẻ kiểu tư duy bóng gió, mập mờ này. Nhưng, dưới góc nhìn của công tác tư tưởng-văn hóa, khi mỗi thứ lệch lạc đi một chút, mỗi thứ méo mó, lai căng đi một chút... thì hệ lụy lâu dài đối với văn hóa dân tộc và tương lai thế hệ trẻ là rất khó lường... Thời gian gần đây, trong đời sống VHNT và thị trường giải trí xuất hiện một số tác phẩm có biểu hiện như vậy. Dư luận truyền thông thể hiện những góc nhìn đa chiều. Những tranh cãi nổ ra không chỉ trên các diễn đàn không gian mạng mà còn kéo theo sự vào cuộc của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý, phân tích, mổ xẻ dưới nhiều góc nhìn, góc độ khác nhau. Thậm chí, trong một số trường hợp, những ồn ào trên không gian mạng về vấn đề này còn trở thành chủ đề trên bàn nghị sự của Quốc hội.

TỪ THỊ HIẾU THẨM MỸ ĐỂ ĐẾN BẢN LĨNH THẨM MỸ

Nhìn vào những diễn biến đời sống văn hóa, VHNT mỗi khi có tác phẩm, sản phẩm gây “sốt”, chúng ta thấy rõ những tác động toàn diện của hiệu ứng không gian mạng. Nó thể hiện rõ tính hai mặt của một vấn đề. Thứ nhất là, hội chứng đám đông từ những cơn “lên đồng” tập thể, nó có thể tạo sức hút vô cùng mạnh mẽ kéo theo mọi thứ, mọi thành phần trong dòng chảy ấy vào cuộc. Nếu đó là một khuynh hướng tốt, có ích cho đời sống xã hội, phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc, sẽ rất có lợi cho công tác tuyên truyền, giáo dục, quảng bá những giá trị tốt đẹp đến với người dân và du khách quốc tế. Nhưng, nếu đó là một sản phẩm có chứa đựng yếu tố gây hại, sự mập mờ trong quan điểm nghệ thuật giống như một loại virus gây bệnh, xâm nhập vào tư duy, thị hiếu của công chúng, nguy hiểm khôn lường. Thứ hai là, chính nhờ hiệu ứng mạnh mẽ của không gian mạng sẽ giúp các tác giả và giới chuyên gia, nhà quản lý nhìn nhận vấn đề dưới những góc nhìn đa chiều, từ đó có sự sàng lọc, thẩm định, định hướng sáng tạo theo quan điểm của Đảng.

Trong những năm tới, đất nước ta có nhiều ngày lễ lớn, trong đó có kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và đại lễ mừng 50 năm đất nước thống nhất. Trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, tung ra các sản phẩm xấu độc; sử dụng truyền thông và không gian mạng cổ xúy, lôi kéo các tác giả “nói ngược”, “nói khác” nhằm bóp méo, bôi đen, làm méo mó hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và lịch sử đấu tranh cách mạng. Họ sử dụng các phương thức ám chỉ, bóng gió, mập mờ, so sánh Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh với các thành phố lớn đã và đang xảy ra xung đột vũ trang trên thế giới... để xuyên tạc lịch sử, văn hóa vùng đất Nam Bộ và cuộc đấu tranh của đồng bào Nam Bộ, góp phần to lớn giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là những biểu hiện nguy hiểm nhằm kích động hận thù dân tộc, âm mưu chia tách lịch sử, văn hóa Nam Bộ ra khỏi nền văn hóa và lịch sử dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. Một trong những biểu hiện phổ biến hiện nay là họ cổ xúy, ca ngợi công lao của Nguyễn Ánh (Chúa Nguyễn, Vua Gia Long), coi nhân vật “cõng rắn cắn gà nhà” trong lịch sử dân tộc như là một “anh hùng”, “cụ tổ” của lịch sử, văn hóa Nam Bộ. Đáng tiếc là đã có một số người trong giới sáng tác có biểu hiện dao động, bị cuốn theo lối tư duy này nên trong một số tác phẩm VHNT, đã thổi phồng, thần thánh hóa công lao, che mờ tội của Chúa Nguyễn (Vua Gia Long), làm sai lệch lịch sử, làm mập mờ, méo mó sắc thái văn hóa và bản chất tốt đẹp của con người Nam Bộ. Từ góc nhìn sai lệch về nhân vật này, các thế lực thù địch áp dụng lối tư duy liên tưởng để dụ dỗ, dẫn dắt công chúng hiểu sai lệch lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng dân Nam Bộ.

Để tạo tiềm lực văn hóa tinh thần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, VHNT, chúng ta phải bám sát quan điểm của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ: “Chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”...; “Nâng cao vai trò của văn hóa, nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của con người Việt Nam, nhất là trong thế hệ trẻ”... Như vậy, giải pháp căn bản và lâu dài là chúng ta phải chủ động nâng cao sức đề kháng, nói cách khác chính là củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Muốn định hướng thị hiếu thẩm mỹ, phải xây dựng được bản lĩnh thẩm mỹ. Với chức năng hướng đến “chân, thiện, mỹ”, dù thể hiện dưới góc nhìn nào thì trong đời sống văn hóa, VHNT, bản sắc dân tộc là giá trị không thể mập mờ, cương thổ quốc gia, lịch sử dân tộc là giá trị không thể xuyên tạc, đảo ngược.

Quy luật sàng lọc, tiếp thu, tiếp biến và đào thải của văn hóa chính là cán cân công bằng, là thước đo công tâm để khẳng định giá trị đích thực của tác phẩm, sản phẩm VHNT. Những người làm văn hóa, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa và giới chuyên gia thẩm định chất lượng sản phẩm VHNT các cấp cần bám sát tính quy luật, nhất quán quan điểm của Đảng để đưa ra những nhận xét, nhận định, dự báo; từ đó có giải pháp định hướng dư luận và định hướng sáng tạo, lao động nghệ thuật một cách đúng đắn. Không nên bị dẫn dắt bởi dư luận đám đông dẫn đến “đẽo cày giữa đường”, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, cũng không nên chỉ dựa vào các quy định của pháp luật để bày tỏ chính kiến một cách cực đoan, võ đoán, máy móc...

Khúc Thành Dư CH32, hệ SĐH

  

NHẬN DIỆN NHỮNG NGUY CƠ, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI AN NINH VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA


Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam đã và đang bước vào xu thế tất yếu của thời đại - xu thế toàn cầu hóa kinh tế một cách chủ động. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, An ninh văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Nó là một bộ phận không tách rời của an ninh quốc gia, được coi là “sức mạnh mềm” trong quan hệ đối ngoại. Nhận thức tính quy luật hai mặt của toàn cầu hóa, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện rõ những nguy cơ thách thức đối với đất nước Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, bảo vệ sự phát triển bền vững của văn hóa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa và truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ Tư, 27 tháng 12, 2023

Bác bỏ luận điệu “đường lối của Đảng chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận tinh hoa cầm quyền”

 


      Những năm gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta với nhiều loại và giọng điệu khác nhau. Chỉ ở khía cạnh công kích đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ chỗ phủ nhận thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội, “Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa chỉ là ảo tưởng, viển vông”, các thế lực thù địch, phản động còn xuyên tạc rằng “đường lối của Đảng chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận tinh hoa cầm quyền, không đi theo xu thế chung của thời đại khiến đất nước không phát triển được”. Luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, phi lý, phản động, bởi nó không dựa trên cơ sở khoa học, căn cứ thực tiễn nào, mà chỉ là ý đồ đen tối nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

       Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Tiếp nối Cương lĩnh năm 1930 và Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Có thể nói đây là những đường hướng lớn “vạch thời đại” vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, con người và xã hội Việt Nam.

Từ những đường hướng lớn trên đây, Đại hội XIII của Đảng cụ thể hóa tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong những mốc lịch sử quan trọng: Một là, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Hai là, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Ba là, đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Có thể khẳng định, thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là thắng lợi của đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thành công có được ngày hôm nay là kết quả khởi phát từ đường lối chiến lược đúng đắn của Đảng ta về sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Với những luận cứ, luận chứng khoa học trên là bằng chứng xác đáng, thuyết phục để bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc “đường lối của Đảng chỉ là ý chí chủ quan của một bộ phận tinh hoa cầm quyền” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

 

AI MỚI LÀ KẺ BẤT KÍNH VỚI ĐỨC TIN?

 

Những ngày cuối của tháng 11 vừa qua, Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) tỉnh Nghệ An phối hợp với Linh địa Trại Gáo - Đền thánh Antôn thuộc Giáo phận Vinh tổ chức lễ khởi công xây dựng công trình sân bóng chuyền và bộ dụng cụ thể dục, thể thao ngoài trời. Nhân chuyện công trình đại đoàn kết, ấm tình quân dân của lực lượng quân đội dành cho các giáo dân tại Trại Gáo, Nghệ An bị Đặng Hữu Nam công công kích, tô rồng vẽ phượng để gây ra sự mâu thuẫn lương - giáo xin có mấy ý kiến như sau:

Hành động đẹp giữa Quân và dân (cụ thể là các giáo dân) thể hiện sự đoàn kết của dòng máu Việt mà không phân biệt dân tộc, tôn giáo. Việc làm này tô thắm thêm truyền thống quý báu của dân tộc ta. Vì vậy, bất kỳ hành động nào gây ra xúc phạm, mất tôn trọng đối với người khác về đức tin như những gì Đặng Hữu Nam đang làm chỉ làm tăng nguy cơ xung đột, mâu thuẫn mất đoàn kết lương - giáo. Chẳng nhẽ Nam không hiểu gieo rắc hận thù và mâu thuẫn chỉ tạo ra khoảng cách giữa chúng ta, trong khi sự hiểu biết và chấp nhận giúp chúng ta xây dựng cầu nối vững chắc giữa các tín ngưỡng khác nhau.

Cần hướng đến một môi trường đoàn kết Lương - Giáo mà thông qua sự tôn trọng và lòng hiểu biết, chúng ta mới có thể tạo ra một dân tộc vững mạnh, nơi mà mọi người có thể chung sống hòa thuận bên nhau thay vì sự kích động, hận thù. Giáo - Lương đều là một nhà, đâu phải khác biệt nhau mà tìm cách chia năm, sẻ bảy? Đừng lợi dụng sự việc trên để kích động, đừng làm mâu thuẫn, mất đoàn kết nhé Hữu Nam.

BÀN VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH ĐỐI VỚI HỌC SINH NGÀY NAY

 

Mạng xã hội đang xôn xao bàn tán về clip học sinh xúc phạm, ném dép cô giáo. Sự việc được xác định xảy ra tại trường THCS Văn Phú (huyện Sơn Dương). Nguyên nhân ban đầu được cho là cô H. mâu thuẫn với học sinh lớp 6A và có lời nói tục tĩu, không chuẩn mực đạo đức của nhà giáo. Khi xảy ra sự việc, một học sinh lớp 7C dùng điện thoại quay lại và chia sẻ cho nhóm bạn đồng thời đăng tải lên mạng xã hội.

Sau đó, Trường THCS Văn Phú đã họp kiểm điểm cả giáo viên và học sinh vì hành vi thiếu chuẩn mực. Đến ngày 21/11, cô H. kiểm điểm vì "vi phạm đạo đức nhà giáo, xúc phạm danh dự nhân phẩm của học sinh, ngôn ngữ, ứng xử của giáo viên chưa đảm bảo tính sư phạm, đúng mực”.

Sự việc này quả thực quá nghiêm trọng như một thứ ung nhọt trong ngành giáo dục. Đối với hành vi của cô giáo, nếu cô có hành vi khiếm nhã, nhà trường và Sở Giáo dục đào tạo của huyện cần khách quan làm rõ, có biện pháp xử lý để răn đe, giáo dục.

Tuy nhiên, đối với hành động của các em học sinh trong clip thì quả thực việc giáo dục nhân cách đối với các em đang có vấn đề trầm trọng. Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò, dù là học sinh cá biệt, nghịch ngợm, lười học nhưng ở trong chừng mực nào đó họ vẫn phải “tôn sư trọng đạo”. Nhưng chứng kiến những hình ảnh trong đoạn clip của vụ việc đã dóng lên hồi chuông báo động về lễ tiết, tác phong của một người học trò.

Từ xưa đến nay, "Tiên học lễ, hậu học văn” - quan điểm giáo dục truyền thống, xem trọng việc bồi dưỡng đạo đức, góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho người học. Dù xã hội có phát triển tới đâu nhưng “Tiên học lễ, hậu học văn” không hề cũ mà ngược lại vô cùng cần thiết trong xã hội hiện tại. Đặc biệt, ở nhịp sống hiện đại, thế hệ trẻ đang bị chi phối bởi rất nhiều làn sóng văn hóa trên toàn cầu khiến đạo đức, nhân cách, hành vi ứng xử của nhiều bạn trẻ bị lệch lạc, méo mó.

Cho nên, nếu như ai đó vỗ về cho rằng hành động của đám học trò là do bức xúc với cô giáo thì quả thực đó là sự bênh vực mù quáng. Vì đó là hệ lụy của sự buông lỏng giáo dục, từ chính gia đình và nhà trường thiếu sự nghiêm khắc trong dạy bảo các em.


        Bác Hồ đã dạy “có tài mà không có đức là người vô dụng”, cho nên đạo đức, phẩm chất của thế hệ trẻ chính là căn nguyên cội rễ quyết định sự thành công hay thất bại của một nền giáo dục. Một xã hội chỉ thật sự phát triển khi có những cá nhân có nền tảng đạo đức tốt, thấu hiểu và lan tỏa những hành vi đẹp, nhân ái và giàu tình cảm.

Do đó, với hành vi của các em học sinh trong clip, nhà trường cần phối hợp với gia đình có biện pháp xử lý nghiêm khắc, giáo dục đến nơi đến chống, không thể để tình trạng các em đang còn ngồi trên ghế nhà trường mà có hành vi hung hãn, côn đồ như vậy.

NGUYỄN MINH PHÚC - “ĐI ĐÊM LẮM CÓ NGÀY GẶP MA”

 

Không chỉ có những hành vi lợi dụng lòng tin vào tôn giáo để làm điều trái đời, ngược đạo gây ảnh hưởng xấu đến uy tín trong tôn giáo và vi phạm pháp luật mà Nguyễn Minh Phúc (tự xưng Thích Tâm Phúc) vừa bị Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố bị can và bắt tạm giam về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" (sử dụng giấy tờ quyền sử dụng đất giả để đi lừa đảo) vào ngày 06/12/2023. Đây là thông tin đang nhận được sự quan tâm và chia sẻ của cộng đồng mạng và có lẽ đây là cái giá mà Nguyễn Minh Phúc phải nhận sau hàng loạt những sai phạm trong thời gian qua.

Nguyễn Minh Phúc (sinh năm 1983, ngụ tại nhà số 174/13A ấp Láng Cát, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi), tự xưng là “Đại đức Thích Tâm Phúc”, "trụ trì chùa Hoằng Pháp Trung ương"... Các giấy tờ như chứng điệp thọ giới, giấy chứng nhận Tăng Ni, quyết định bổ nhiệm trụ trì “chùa Hoằng Pháp Trung ương”… mang tên “Đại đức Thích Tâm Phúc” (Nguyễn Minh Phúc) được ghép, sao chụp ảnh chữ ký của lãnh đạo và khuôn dấu của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN... Các huân chương, huy chương, bằng khen của lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ hay các loại giấy tờ chứng minh là tu sĩ, các quyết định bổ nhiệm với chữ ký của Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Hòa thượng Trưởng ban Tăng sự Trung ương, khuôn dấu của Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN cấp cho Nguyễn Minh Phúc đều do y tự làm, giả mạo.

Nguyễn Minh Phúc thường quay video với nội dung ăn thịt ch..ó, bún đậu, vịt quay, hột vịt lộn... và có những phát ngôn gây sốc, phản cảm làm điều trái đời, ngược đạo gây ảnh hưởng xấu đến uy tín trong tôn giáo và vi phạm pháp luật. Sư giả Nguyễn Minh Phúc cũng là người đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác".

“Đi đêm lắm có ngày gặp ma”, vị sư giả “Thích Đủ Thứ” Nguyễn Minh Phúc cũng đã phải sa lưới khi sử dụng giấy tờ quyền sử dụng đất giả để đi lừa đảo và bị bắt về các tội danh “lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" và đối diện với những hình thức xử lý nghiêm minh của pháp luật.