Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

 Khi nói đến công bằng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gắn với bình đẳng xã hội, mà trước hết là “bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”; song, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ thực chất là công bằng về cơ hội phát triển. Với quan niệm như vậy, Người yêu cầu tất cả những người lao động ngày nay đều phải nhận thức rõ mình là người chủ nước nhà và đã có quyền hạn làm chủ, thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ - đó là cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, bình đẳng trước hết là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; đồng thời, việc thực hiện sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụ quyền lợi ấy lại chính là thực hiện công bằng về cơ hội phát triển. Việc thực hiện một chế độ phân phối công bằng, theo quan niệm của Người, chính là thực hiện nguyên tắc phân phối; trong đó, phần hưởng thụ ngang bằng với mức độ đóng góp, cống hiến của từng cá nhân, chứ hoàn toàn không phải là sự ngang bằng về hưởng thụ giữa các cá nhân, mà không tính đến sự cống hiến của từng người. Người cho rằng, trong chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc phân phối công bằng là: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng”(14). Đây là nguyên tắc phân phối công bằng và phù hợp với điều kiện nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là khi đất nước vừa thoát khỏi chế độ thực dân, phong kiến, còn rất nhiều khó khăn về kinh tế; vì thế, sự bình đẳng của những người lao động trong mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, mà cụ thể là sự ngang bằng về địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất, là những điều kiện cơ bản, quan trọng; là cơ hội do chế độ xã hội mới tạo ra, bảo đảm cho mỗi người đều có thể phát huy mọi khả năng của mình để cùng vươn tới một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng về cơ hội phát triển là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; là tiền đề quan trọng để hiện thực hóa những giá trị, lý tưởng nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, việc thực hiện công bằng xã hội là một yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội. Người chỉ rõ, yêu cầu quan trọng trong công tác lưu thông phân phối là: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”(15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, thực hiện công bằng về cơ hội phát triển với nguyên tắc ngang bằng giữa nghĩa vụ và quyền lợi; giữa cống hiến và hưởng thụ trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn về kinh tế, đời sống của nhân dân còn đói, nghèo; cho nên không được coi việc thực hiện công bằng xã hội như là một sự cào bằng trong nghèo khó. Người khẳng định: “Không phải chúng ta ham chuộng khổ hạnh và bần cùng. Trái lại, chúng ta phấn đấu hy sinh, vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai cũng ấm no, sung sướng”(16). Người nhấn mạnh, “chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, v.v., làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con. Thế ta đã đến đấy chưa? Chưa đến. Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần. Ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi tiến lên hợp tác xã, tiến lên nông trường”(17).

Để vượt qua hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân phát huy tinh thần đồng cam cộng khổ, đùm bọc, tương thân tương ái, đoàn kết, hợp tác vì mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; kiên quyết chống lại sự đồng nhất tinh thần đồng cam cộng khổ với chủ nghĩa bình quân. Người nói: “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng. Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết. Ví dụ như Bác yếu chỉ ăn ba bát cơm, chú khỏe cần nhiều hơn mà cũng ăn ba bát, chú lùn cũng đòi may áo dài, Bác cao hơn cũng mặc áo dài như chú. Bình quân chủ nghĩa là trái chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng”(18).

Như vậy, trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bằng xã hội với cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển, mà thực chất là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới. Mục tiêu của chế độ xã hội mới, là không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, là phấn đấu: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu/ Người khá giàu thì giàu thêm”(19). Những quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa cho thấy, việc thực hiện công bằng xã hội với cốt lõi ở việc thực hiện công bằng về cơ hội phát triển, mà thực chất là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, mang ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước; thông qua việc phát huy cao nhất khả năng, sức mạnh của mỗi người, cùng tham gia xây dựng một cuộc sống mới, từng bước vươn tới xã hội cộng sản - một xã hội trong đó “Mọi người làm hết tài năng; ai cần dùng gì có nấy”(20).

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, địa vị và vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân luôn được đề cao; đồng thời, Người cũng luôn đánh giá rất cao vai trò của thực hiện công bằng về cơ hội phát triển trong việc làm yên lòng dân, và nhờ “yên được lòng dân” mà xã hội được ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, những tư tưởng vô cùng quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, có tác dụng dẫn dắt, định hướng đối với Việt Nam không chỉ trong quan hệ lợi ích kinh tế, mà còn trong nhiều mối quan hệ xã hội khác.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội được hình thành và phát triển gắn liền với mục tiêu giải phóng dân tộc, giành lại cho nhân dân Việt Nam quyền sống đích thực của con người; đồng thời, góp phần cùng nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng và tiến bộ của cả xã hội loài người. Bởi vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, mà cốt lõi là quan điểm công bằng về cơ hội phát triển, không chỉ là tiền đề tạo ra cơ hội và động lực phát triển cho mỗi con người, mà cho cả dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc thế giới nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Chẳng những Việt Nam phải đấu tranh giành lấy độc lập dân tộc cho chính mình, mà còn phải gánh vác trách nhiệm một phần trong sự nghiệp mưu cầu hòa bình cho toàn thế giới”(1).

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, trực tiếp chứng kiến tất cả những gì diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới mà Người từng đặt chân đến, cũng như qua nghiên cứu tình hình cụ thể của xã hội Việt Nam ở giai đoạn trước cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra kết luận: “Dưới sự thống trị của đế quốc và phong kiến, nhân dân chỉ có nghĩa vụ, như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi”(2). Trên thực tế, công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu sáng tạo nên của cải vật chất cũng như tinh thần trong xã hội, nhờ có sức lao động của họ, mà xã hội mới tồn tại, phát triển. Song, có một sự vô lý và bất công là, những người lao động thì suốt đời nghèo khó, trong khi một số người không lao động thì lại “ngồi mát ăn bát vàng”, chuyên cướp đoạt sản phẩm lao động của người khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nguyên nhân: “Vì đâu có nỗi chẳng công bằng này? Vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội”(3); đồng thời, Người còn vạch rõ, trong xã hội có giai cấp bóc lột thống trị, chỉ có lợi ích cá nhân của bọn thống trị là được thỏa mãn, còn lợi ích cá nhân và cơ hội phát triển của quần chúng lao động thì bị chà đạp, giày xéo.

Chứng kiến Cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917) vĩ đại thắng lợi và những thành quả giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước Nga Xô-viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến kết luận quan trọng: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”(4). Với tầm tư duy sâu sắc trong nhận thức về lực lượng to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc, cùng với cách mạng thế giới để giành lại quyền bình đẳng, tự do và dân chủ, mà thực chất chính là công bằng về cơ hội của sự giải phóng và phát triển cho mọi dân tộc bị áp bức trên thế giới, trong đó có Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tất cả dân cày, người thợ trong thế giới bất kỳ nước nào, nòi nào đều liên hợp nhau lại như anh em một nhà, để đập đổ tất cả tư bản trong thế giới, làm cho nước nào, dân nào cũng được hạnh phúc, làm cho thiên hạ đại đồng - ấy là thế giới cách mệnh”(5).

Những nội dung trên cho thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng và phát triển con người ngày càng toàn diện, với hệ giá trị về bình đẳng, tự do và dân chủ, chính là tiền đề của công lý, của công bằng xã hội, mà cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(6). Trên cơ sở tiếp thu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”(7); và “Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cơ sở của quyền tự do chân chính và quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài người”(8).

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ giá trị về mục tiêu giải phóng con người, mà trước hết là giành độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân, chính là mục tiêu, tiền đề của công bằng xã hội với nội dung cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển. Đấy chính là điều kiện tiên quyết để mỗi con người được làm chủ vận mệnh của mình, với mục tiêu “làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(9). Khi đất nước giành được độc lập, trên tinh thần của bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc”(10). Đó là xã hội mà nhân dân ngày càng sung sướng, hạnh phúc, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục, tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ; là xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt. Một xã hội như vậy chỉ có thể là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp bổ túc văn hoá khu lao động Lương Yên, Hà Nội (năm 1956)_Nguồn: hochiminh.vn

Từ những đánh giá trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra nhận định, công bằng xã hội mà cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển với hệ giá trị về bình đẳng, tự do và dân chủ, thực sự chỉ có được trong chế độ xã hội mới dưới chế độ dân chủ cộng hòa. Người cho rằng: “Nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi(11). Trong điều kiện sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(12); “Nhà nước ta ngày nay là của tất cả những người lao động. Vậy công nhân, nông dân, trí thức cách mạng cần nhận rõ rằng: Hiện nay, nhân dân lao động ta là những người làm chủ nước ta, chứ không phải là những người làm thuê cho giai cấp bóc lột như thời cũ nữa. Chúng ta có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình. Nhân dân lao động là những người chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”(13). Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng về cơ hội phát triển chính là nội dung cốt lõi của công bằng xã hội về hệ giá trị bình đẳng, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho mỗi người dân và đó cũng đồng thời là điều kiện và tiền đề của động lực và mục tiêu giành độc lập dân tộc, giải phóng và phát triển ngày càng toàn diện cho mỗi con người.

Hiện thực hóa khát vọng đổi mới, sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ý chí và khát vọng về một dân tộc Việt Nam hùng cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, từng bước đưa dân tộc Việt Nam tiến cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ trên thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại.

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong chủ đề của Đại hội và trong các văn kiện chính trị đề cập đến “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là một dấu ấn rất quan trọng. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, đất nước, với gần một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó, mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách và khát vọng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, bên cạnh xu thế tích cực là chủ đạo, tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế có xu hướng gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu. 

Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Để hiện thực hóa khát vọng đổi mới sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới của thời đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trên những nội dung sau:

Thứ nhất, kiên định, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Đổi mới là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới không phải là từ bỏ, thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả, để chủ nghĩa xã hội phát huy được bản chất ưu việt, không giáo điều, trì trệ và xơ cứng trong tư duy và tư tưởng, làm sống động những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam.

Thứ hai, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy của Tập đoàn Thaco tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước và phục vụ cuộc sống, vì cuộc sống bình yên của người dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta đặt “dân giàu, nước mạnh” lên hàng đầu. Các chính sách kinh tế phải thống nhất với các chính sách xã hội, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu, là thước đo của sự phát triển.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn cờ dẫn dắt đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc

 Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khác với sự ra đời của nhiều tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khát vọng làm cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao đẹp và trong sáng của Người.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó chính là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đạt tới. Để thực hiện mong muốn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp giải quyết các nhiệm vụ cấp bách, như nạn đói, nạn mù chữ, xây dựng Hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên... Người nêu rõ mong muốn, khát vọng mãnh liệt “...là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người yêu cầu phải thực hiện ngay “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành”.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng, vạch ra con đường, biện pháp để xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, phồn vinh, hạnh phúc.

Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người trăn trở, suy nghĩ về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc bị chiến tranh tàn phá; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp... Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, văn minh Việt Nam và tiến bộ của thế giới.

Khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình Hồ Chí Minh cũng chính là biểu hiện của tinh thần tiến bộ, văn minh Việt Nam và thế giới trong thời đại mới. Đó là lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhìn rộng lượng đối với những sự khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác; xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo, Người tôn trọng đức tin của người có đạo, tìm điểm tương đồng về giá trị giữa lý tưởng của các bậc sáng lập tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, của Đảng ta. Người được cả dân tộc và nhân loại tôn vinh là chiến sĩ vì hòa bình, đấu tranh chống lại những bất công, tàn bạo, nâng đỡ, giúp đỡ con người được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước

 Trước hết, con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là con đường đổi mới, tìm đến chân lý của thời đại, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trước cảnh giang sơn chìm đắm trong nỗi nhục mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành vừa bước qua tuổi 21 đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân vô hạn và hoài bão cứu nước, cứu dân. Người quyết định tìm một hướng đi mới, chưa ai làm, đó là sang phương Tây, vào tận “sào huyệt của kẻ thù” để tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo đầu tiên trong hành trình đó đã chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén, đổi mới trong con người Hồ Chí Minh và chuyến đi kéo dài hơn 30 năm của Nguyễn Tất Thành trở thành một trong những cuộc hành trình kỳ lạ, vĩ đại trong lịch sử dân tộc(1).

Người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động để từ đó, mở mang nhận thức, tìm ra chân lý cách mạng. Người tìm hiểu, so sánh cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ với Cách mạng Tháng Mười Nga, học hỏi nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây, tiếp thu những giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đọc những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp... Đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự lựa chọn của Người cũng chính là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị của ngoại bang giành độc lập dân tộc, lật nhào chế độ phong kiến tồn tại cả nghìn năm để xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước phát triển vĩ đại của dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đúc kết: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt-nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt-nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(2). Người đã để lại tấm gương sáng ngời về đổi mới ngay từ khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc để hình thành nên quy luật phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu công nghiệp Liên hợp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên, ngày 1-1-1964_Nguồn: hochiminh.vn

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của tư duy đổi mới, ham học hỏi, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ; soi sáng, dẫn đường sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(3). Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh đó là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Nói đến phát triển thì phải luôn luôn thể hiện và gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới; bởi lẽ, đó vừa là đường dẫn, vừa là linh hồn của phát triển. Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Phong cách làm việc của Người không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng, niềm tin và sức mạnh của sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thế kỷ XX, trong khi nhiều lãnh tụ cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa bị công kích thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được loài người tiến bộ tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Giữa lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam, tiến hành cải tổ không thành công thì công cuộc đổi mới ở Việt Nam lại đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Câu hỏi ở đây là: Vì sao có thực tế vĩ đại đó? Đó là bởi, tư tưởng, nhân cách văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn đường cho cách mạng Việt Nam; dưới ánh sáng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, trở ngại, dũng cảm nhìn vào sự thật, để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, từ đó đề ra được đường lối đổi mới kịp thời, đúng đắn, sáng suốt nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng ngời trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, nêu gương đạo đức liêm khiết, mẫu mực, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là hàm chứa trí tuệ cao gắn liền với tình cảm cách mạng sâu sắc, được diễn đạt một cách giản dị, giữa “nói đi đôi với làm”, rất gần với lối cảm, lối nghĩ của quần chúng. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, thẩm thấu, đọng lại sâu sắc, lan tỏa trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Người.

Thấm đẫm giá trị và tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới - Đảng đã nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(5). Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lần đầu tiên đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn kiện và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(6), và tổng kết thành bài học: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(7). Đại hội IX của Đảng khẳng định, những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII nêu lên, vẫn còn nguyên giá trị, mà bài học hàng đầu vẫn là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(8).

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(9). Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng... để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng, tháng 1-2021_Ảnh: Tư liệu

Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng đã cho thấy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy, nếu xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng Việt Nam sẽ gặp khó khăn, thử thách. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố tất yếu, không thể thiếu trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng sáng tạo và bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 Thời gian tới, cộng đồng NVNONN sẽ tiếp tục phát triển về số lượng và địa bàn cư trú. Thế hệ trẻ NVNONN được đào tạo trong môi trường giáo dục, văn hóa tiên tiến, tiếp cận với tư duy, phương pháp, công nghệ mới sẽ là thế hệ kế cận, đóng vai trò chủ đạo trong các hoạt động kinh tế - xã hội của cộng đồng. Đây sẽ là nguồn lực tiềm năng khi thế hệ này thành đạt, trưởng thành trong công việc.

Việc thu hút nguồn lực NVNONN cần dựa trên tiềm năng, thế mạnh của từng nguồn lực, đồng thời đặt trong tổng thể chính sách đại đoàn kết dân tộc, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đóng góp vào việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và các nước, góp phần hỗ trợ NVNONN sinh sống ổn định, tiếp tục đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của đất nước. Để phát huy nguồn lực NVNONN cần quan tâm các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục thống nhất nhận thức chung về chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước về củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có cộng đồng NVNONN; cân nhắc đáp ứng các nguyện vọng chính đáng của NVNONN; động viên, khen thưởng, vinh danh NVNONN có đóng góp tích cực, quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao vị thế của đất nước.

Thứ hai, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho NVNONN yên tâm về nước sinh sống, làm việc. Nghiên cứu mở rộng hơn khả năng cho NVNONN nhập hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam mà không phải bỏ quốc tịch nước ngoài, bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch “mềm dẻo” và tạo điều kiện thuận lợi để “giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của NVNONN liên quan đến vấn đề quốc tịch”(12). Tiếp tục thúc đẩy việc sửa đổi các luật liên quan đến quyền lợi thiết thân của NVNONN, như xuất, nhập cảnh, cư trú, đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản, đầu tư,... phù hợp với quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và tinh thần của Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW về công tác đối với NVNONN.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả triển khai cơ chế, chính sách về thu hút, trọng dụng trí thức, chuyên gia NVNONN. Xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể về thu hút chuyên gia, nhà khoa học NVNONN tham gia hoạt động khoa học - công nghệ tại Việt Nam; bổ nhiệm chuyên gia, trí thức NVNONN có năng lực vào các vị trí lãnh đạo tại cơ quan nghiên cứu khoa học, trường đại học, cơ sở giáo dục - đào tạo, sản xuất, kinh doanh, các dự án đặc biệt ở những lĩnh vực mà trong nước ưu tiên phát triển hoặc còn thiếu kinh nghiệm.

Nghiên cứu mở rộng mô hình mời chuyên gia, trí thức NVNONN tham gia các ban/tổ tư vấn giúp Chính phủ, các ban, bộ, ngành, địa phương để chia sẻ kinh nghiệm liên quan đến tổ chức quản lý, quy hoạch phát triển trong quá trình hoạch định chính sách kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Mỗi địa phương, ban, bộ, ngành cần dựa trên đặc điểm và nhu cầu thực tiễn để xây dựng chiến lược và chính sách linh hoạt để trọng dụng nguồn lực NVNONN phù hợp; tránh trường hợp áp dụng rập khuôn, máy móc, không thiết thực, gây lãng phí nguồn chất xám của đất nước. Cùng với đó, cần biểu dương, khuyến khích, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo về thu hút, trọng dụng nhân tài; kết hợp tuyên truyền, quảng bá thông tin để tạo động lực, cũng như sức lan tỏa đối với cộng đồng trí thức, chuyên gia NVNONN.

Tạo cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên giữa chuyên gia NVNONN với cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức trong nước để trao đổi về nhu cầu hợp tác cụ thể. Nghiên cứu xây dựng chính sách, chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia, trí thức NVNONN có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ. Trao quyền cho người đứng đầu chịu trách nhiệm xem xét, đặc cách lựa chọn, tuyển dụng, bổ nhiệm cá nhân thực sự có tài năng và khả năng đóng góp phù hợp.

Thứ tư, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, nhất là ở khâu thực thi, triển khai ở cơ sở theo hướng minh bạch, thuận lợi, phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế. Thường xuyên cập nhật thông tin về chính sách ưu đãi, dự án, lĩnh vực ưu tiên kêu gọi đầu tư tới cộng đồng NVNONN. Triển khai chính sách khuyến khích nguồn kiều hối đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dự án hợp tác công - tư, đặc biệt là nghiên cứu biện pháp khuyến khích hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh do NVNONN thực hiện hoặc thông qua thân nhân ở Việt Nam. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp Việt Nam trong và ngoài nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp hai bên tìm hiểu, kết nối và xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào các trung tâm thương mại của NVNONN và các hệ thống phân phối của nước ngoài.

Thứ năm, hỗ trợ cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, ổn định, phát triển và hội nhập vào sở tại; khuyến khích mọi hình thức tập hợp, đoàn kết NVNONN trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục, tập quán của nước sở tại và Việt Nam. Củng cố, phát triển các hội đoàn chuyên gia, trí thức, doanh nhân, thanh niên, sinh viên NVNONN làm nòng cốt, dẫn dắt sự phát triển của cộng đồng. Tổ chức các buổi chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin, tập huấn triển khai công tác hội, đoàn dành cho lãnh đạo hội, đoàn chủ chốt. Hỗ trợ các sáng kiến, chương trình của NVNONN, nhất là các hoạt động về nguồn, giáo dục truyền thống, dạy và học tiếng Việt, hội trại dành cho thanh thiếu niên NVNON.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh kinh tế hiện nay, Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu mới. Các văn bản chỉ đạo của Đảng về công tác đối với NVNONN đều xác định nhiệm vụ quan trọng là phát huy mạnh mẽ nguồn lực của toàn dân tộc, trong đó có cộng đồng NVNONN trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên suốt chiều dài lịch sử, công tác vận động, phát huy nguồn lực NVNONN luôn được chú trọng, nỗ lực đổi mới nhằm tạo ra cơ chế, môi trường thuận lợi cho NVNONN đóng góp cho đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn một số bất cập, đòi hỏi có tư duy mới và hành động quyết liệt hơn nữa nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực to lớn của NVNONN, góp phần thực hiện các mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Một số hạn chế, bất cập của Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

 Mặc dù đạt được nhiều thành quả quan trọng, tuy nhiên công tác phát huy nguồn lực NVNONN thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của  NVNONN.

Về nguồn lực tri thức, số lượng trí thức, chuyên gia, nhà khoa học NVNONN về nước trực tiếp tham gia đóng góp và xây dựng đất nước còn rất khiêm tốn, hiện nay mới dừng lại ở mức 300 - 500 người/năm, tức chỉ chưa đến 0,1%. Cộng đồng trí thức, chuyên gia NVNONN ngày càng gia tăng cả về quy mô và chất lượng, tuy nhiên ngoài một số ít cá nhân đã về nước lâu năm, còn lại phần lớn chỉ về nước giảng dạy, tham dự hội thảo hoặc tham gia chương trình, dự án trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, trí thức  NVNONN chưa thực sự kết nối với đồng nghiệp trong nước, chưa phát huy được hết tiềm năng, thế mạnh của mình.

Nhiều ban, bộ, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu mặc dù có nhu cầu thu hút chuyên gia, trí thức  NVNONN về hợp tác, giảng dạy, tuy nhiên lại thiếu các chương trình, dự án khả thi. Vấn đề sử dụng nguồn lực “chất xám” của  NVNONN mới được đề cập chung chung mà chưa được triển khai rộng rãi, kiến nghị, đề xuất của  NVNONN chưa được giải quyết thấu đáo. Vẫn còn khoảng cách lớn giữa Việt Nam với các nước phát triển về môi trường khoa học - công nghệ, điều kiện việc làm.

Về nguồn lực kinh tế, mặc dù có lượng kiều hối lớn, nhưng chưa có cơ chế đánh giá và định hướng nguồn lực này phù hợp với định hướng phát triển của đất nước. Đầu tư trực tiếp của NVNONN chiếm tỷ trọng thấp trong tổng đầu tư FDI, chưa có sự chú trọng vào lĩnh vực sản xuất và công nghệ cao mà chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ. Sự liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp NVNONN còn hạn chế. Người Việt Nam ở nước ngoài thiếu thông tin về quy trình và thủ tục, cũng như chính sách ưu đãi về đầu tư đối với các lĩnh vực sản xuất quan trọng ở trong nước.

Về tổ chức thực hiện chính sách, ở một số nơi, thủ tục hành chính rườm rà cũng là rào cản đối với sự nhiệt tình đóng góp của NVNONN với đất nước. Các quy định của pháp luật về đất đai, mua bán, sở hữu nhà ở, kinh doanh bất động sản, tham gia hoạt động khoa học - công nghệ, tuyển dụng, bổ nhiệm... vẫn còn hạn chế đối với NVNONN. Do đó, nhiều NVNONN chưa thực sự yên tâm khi đầu tư, làm việc lâu dài ở Việt Nam.

Đại biểu kiều bào về tham dự chương trình lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh họp mặt với người Việt Nam ở nước ngoài mừng xuân Quý Mão 2023 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh - chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN

Những thành quả đáng ghi nhận về hoạt động của Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

 Dưới sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, công tác đối với NVNONN nói chung và công tác phát huy nguồn lực NVNONN nói riêng đã được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị. Nhận thức của cấp ủy, chính quyền địa phương, các cơ quan trong và ngoài nước, cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò của cộng đồng NVNONN ngày càng được nâng cao. Chính phủ, các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng về công tác NVNONN nói chung và phát huy nguồn lực NVNONN nói riêng thành các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch hành động; đề án trong từng lĩnh vực. Nhờ đó, công tác phát huy nguồn lực NVNONN đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận.

Một là, về chính trị. Dù quan điểm, thái độ chính trị khác nhau, nhưng tinh thần hướng về đất nước của cộng đồng NVNONN luôn được thể hiện rõ nét. Với mong muốn góp phần vào công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của đất nước, Cộng đồng người Việt Nam ở các nước Hàn Quốc, Đức, Hung-ga-ri, Ba Lan đã thành lập một số quỹ, như quỹ Vì chủ quyền biển đảo Việt Nam, Câu lạc bộ Trường Sa... triển khai các hoạt động tổ chức hội thảo, tọa đàm, triển lãm ảnh về Biển Đông. Kể từ năm 2012, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài còn tổ chức cho các đoàn  NVNONN tiêu biểu đi thăm Trường Sa, thu hút sự quan tâm, hưởng ứng đặc biệt của cộng đồng. Thông qua những hoạt động này, cộng đồng NVNONN mong muốn có thể truyền tải thông tin đúng đắn tới bạn bè quốc tế, lan tỏa tình yêu biển, đảo quê hương, góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hai là, về khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo. Hiện nay, mỗi năm có khoảng 300 - 500 lượt trí thức NVNONN về nước và tham gia tích cực vào hoạt động khoa học - công nghệ, đóng góp nhiều ý kiến sâu rộng, thực tế trong các vấn đề phát triển của đất nước(6). Nhiều chuyên gia NVNONN đã về nước sinh sống, làm việc hoặc có những dự án lâu dài, mang tính nền tảng, đóng góp thiết thực cho sự phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo; góp phần đưa nền khoa học - công nghệ của Việt Nam đến gần với thế giới.

Những năm gần đây, thông qua các hoạt động gặp gỡ, giao lưu, trao đổi với cộng đồng trí thức, chuyên gia  NVNONN do các cơ quan trong nước tổ chức(7), “sự quay vòng chất xám” diễn ra ngày càng sôi động hơn, đóng góp trực tiếp vào quá trình tham mưu, tư vấn chính sách cho Chính phủ nhằm từng bước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên một số lĩnh vực, như năng lượng sạch, công nghệ xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững...

Đặc biệt, trong giai đoạn 2020 - 2021, khi đại dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, các chuyên gia, trí thức NVNONN đã trực tiếp kết nối, vận động các cơ quan chính quyền, tổ chức, doanh nghiệp sở tại để hỗ trợ cung cấp vắc-xin cho Việt Nam, thúc đẩy chuyển giao công nghệ sản xuất vắc-xin, chia sẻ kinh nghiệm và đưa ra nhiều đề xuất, khuyến nghị hữu ích liên quan đến phòng, chống dịch cho các cơ quan Trung ương và địa phương ở trong nước, thông qua hàng loạt chương trình trao đổi, tư vấn giữa đội ngũ bác sĩ, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài  trong lĩnh vực y tế với các cơ quan, người dân trong nước.

Ba là, về kinh tế, thương mại, đầu tư. Tính đến cuối năm 2022, người Việt Nam ở nước ngoài từ 35 quốc gia và vùng lãnh thổ đã thực hiện 385 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại 42/63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam với tổng số vốn đăng ký đạt 1,72 tỷ USD(8). Bên cạnh đó còn có nguồn vốn đầu tư của  NVNONN về nước theo các hình thức gián tiếp khác. Nhìn chung, các hoạt động đầu tư, kinh doanh của NVNONN đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho người lao động ở địa phương và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Kiều hối được đánh giá là một điểm sáng trong công tác phát huy nguồn lực NVNONN. Trong giai đoạn 1993 - 2022, lượng kiều hối của NVNONN gửi về nước đạt trên 190 tỷ USD, riêng năm 2022, con số này đạt gần 19 tỷ USD(9). Lượng kiều hối gửi về nước tăng ổn định hằng năm, kể cả trong bối cảnh khó khăn do đại dịch COVID-19. Việt Nam nhiều năm liền thuộc tốp 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới.

Các hiệp hội, hội đoàn doanh nghiệp, doanh nhân người Việt Nam tại các nước cũng tích cực phát huy vai trò kết nối giao thương giữa doanh nghiệp Việt Nam trong và ngoài nước. Tháng 8-2009, Hiệp hội doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài (BAOOV)(10) được thành lập, với mục tiêu tạo lập môi trường hợp tác và trao đổi thông tin liên quan đến các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ tại Việt Nam và nước ngoài, giữa doanh nghiệp, doanh nhân, hiệp hội trong và ngoài nước.

Các cơ quan trong và ngoài nước đã phối hợp tổ chức thành công nhiều hội thảo, hội nghị chuyên đề, diễn đàn xúc tiến thương mại, đầu tư(11); góp phần giải đáp, hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, doanh nhân; thúc đẩy vai trò cầu nối giao thương của NVNONN trong tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài - nguồn lực to lớn để phát triển đất nước

 Hiện nay, cộng đồng NVNONN có khoảng 6 triệu người đang sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó trên 80% là ở các nước phát triển(2). Cộng đồng NVNONN hội nhập ngày càng sâu rộng, không những khẳng định vai trò, vị thế đóng góp cho sự phát triển của nước sở tại, mà còn góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước. Đại bộ phận người Việt Nam trên thế giới, dù có chính kiến khác nhau, nhưng đều mang tình cảm hướng về cội nguồn, đóng góp cho sự phát triển của quê hương, đất nước, mong muốn một nước Việt Nam giàu mạnh, có vị thế xứng đáng trên thế giới. Điều này thể hiện rõ qua các sáng kiến, dự án, tổ chức, cơ chế ngày càng gia tăng do cộng đồng NVNONN tiến hành đã và đang góp phần tích cực vào sự phát triển của đất nước; tăng cường hợp tác thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ; truyền tải quan điểm của đất nước về các vấn đề quốc tế; góp phần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ “từ xa”. Nguồn lực của cộng đồng NVNONN rất phong phú, dồi dào, có giá trị lâu dài, thể hiện trên một số lĩnh vực chính:

Thứ nhất, nguồn lực tri thức, khoa học - công nghệ, nhân lực chất lượng cao.

Theo ước tính, số lượng người có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng 10 - 12% trong cộng đồng khoảng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài (tương đương 600.000 người)(3). Nhiều nhà khoa học có tên tuổi trong các lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ cao, như công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, chế tạo máy, điều khiển học, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ, vật liệu mới, công nghệ na-no, năng lượng, quản lý kinh tế, tài chính - ngân hàng. Các hội chuyên gia, trí thức người Việt Nam tại nhiều địa bàn đã được thành lập, hoạt động tích cực, sôi nổi ở cả nước sở tại và trong nước.

Sự kết nối giữa người Việt Nam trên toàn cầu đang tạo ra các cơ chế hợp tác ngày càng linh hoạt cho chuyên gia trong và ngoài nước khi tham gia những dự án, chương trình nằm trong chiến lược phát triển quốc gia của Việt Nam. Đây là bước tiến quan trọng trong công tác thu hút nguồn lực trí tuệ của NVNONN, mở ra hướng đi mới, không chỉ kết nối chuyên gia, trí thức ở các nước để giao lưu, trao đổi về khoa học - xã hội, mà còn kết nối mạng lưới trí thức NVNONN với cơ quan, trung tâm nghiên cứu trong nước.

Lực lượng lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc cũng là một nguồn lực quan trọng của đất nước với kỹ năng nghề và kinh nghiệm làm việc sau thời gian được rèn luyện ở môi trường nước ngoài. Trong giai đoạn 2017 - 2019, mỗi năm có khoảng 130.000 - 150.000 người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng(4); khi trở về, đa phần người lao động có việc làm ổn định, một số đã thành lập doanh nghiệp, cơ sở sản xuất bằng vốn tích lũy sau nhiều năm ở nước ngoài.

Thứ hai, nguồn lực kinh tế.

Nhìn chung, cộng đồng doanh nhân NVNONN có tiềm lực kinh tế ngày càng lớn mạnh, có ảnh hưởng không chỉ đối với cộng đồng, mà còn đối với chính quyền nước sở tại. Các hoạt động kinh tế, văn hóa, thương mại và đầu tư của NVNONN đã trở thành cầu nối giao lưu giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ.

Có thể khẳng định rằng, doanh nhân NVNONN là một trong những lực lượng tích cực nhất góp phần đưa hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị trường nhiều nước trên thế giới, hình thành mạng lưới phân phối thông qua trung tâm thương mại, tổ chức hoặc hiệp hội doanh nghiệp, trong đó có những mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, như may mặc, da giầy, nông sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ... Doanh nhân NVNONN còn là lực lượng tuyên truyền, quảng bá hiệu quả về văn hóa, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới thông qua hoạt động văn hóa cộng đồng, tham gia triển lãm, hội chợ quảng bá thương mại, du lịch của Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh đó, NVNONN cũng là nguồn lực đóng góp cho sự phát triển của ngành du lịch, hàng không. Trong giai đoạn 2009 - 2019 (trước khi đại dịch COVID-19 xuất hiện), có khoảng 700.000 đến 1.000.000 lượt NVNONN về nước mỗi năm(5).

Thứ ba, nguồn lực “mềm”.

Cộng đồng NVNONN hội nhập ngày càng sâu rộng vào xã hội các nước sở tại, có vị thế vững chắc hơn, góp phần mở rộng ảnh hưởng về chính trị, văn hóa Việt Nam. Một vài chính trị gia gốc Việt tại các nước, như Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a... tham gia chính trường sở tại ở các cấp độ khác nhau (Nghị sỹ Liên bang, Tiểu bang, Hội đồng thành phố...). Số lượng người Việt Nam, người gốc Việt tham gia, nắm giữ vị trí quan trọng tại các tổ chức quốc tế có xu hướng tăng lên. Đây là tiền đề quan trọng, góp phần tăng cường lòng tin, làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với nhân dân, chính giới, lãnh đạo các nước, các tổ chức quốc tế.

Cộng đồng NVNONN phát huy ngày càng hiệu quả vai trò cầu nối, thông qua các hoạt động văn hóa, du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Trước sự phát triển của cộng đồng người Việt Nam tại một số địa bàn, như Hàn Quốc, Cộng hòa Séc, Xlô-va-ki-a, Đài Loan (Trung Quốc), chính quyền sở tại đã cho phép đưa tiếng Việt vào giảng dạy như một ngôn ngữ thứ hai, góp phần không nhỏ vào duy trì, quảng bá bản sắc văn hóa tiếng Việt. Bên cạnh đó, cộng đồng NVNONN còn có đóng góp quan trọng trong kết nối, tăng cường quan hệ đối ngoại, giao lưu nhân dân, trao đổi văn hóa giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Tháng 6-2023, cộng đồng người Việt Nam ở Xlô-va-ki-a được chính quyền nước sở tại công nhận là dân tộc thiểu số thứ 14 tại quốc gia này. Đây là sự ghi nhận, tôn trọng của Chính phủ Xlô-va-ki-a đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại. Tại Ma-rốc, hiện nay chỉ có khoảng 350 người gốc Việt, chủ yếu thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba, nhưng đã đồng lòng, chung tay xây dựng công trình Cổng chào Việt Nam tại Ma-rốc (hoàn thành vào tháng 11-2022) nhân dịp Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập quan hệ Việt Nam - Ma-rốc. Công trình này đã trở thành một trong những biểu tượng của quan hệ hữu nghị Việt Nam - Ma-rốc, giúp các thế hệ  NVNONN nơi đây luôn nhớ về cội nguồn dân tộc. Tại thành phố U-đôn Tha-ni (Thái Lan), cộng đồng người Việt Nam đã xây dựng Phố Việt Nam (Vietnam Town) với mong muốn nơi đây sẽ trở thành trung tâm văn hóa, địa điểm thu hút du lịch không chỉ của người Việt Nam ở vùng Đông Bắc Thái Lan, mà còn của cộng đồng người Thái gốc Việt tại Thái Lan.

Thứ tư, nguồn lực hỗ trợ các hoạt động từ thiện, nhân đạo.

Từ nhiều năm nay, cộng đồng NVNONN tích cực tham gia các chương trình từ thiện, nhân đạo ở trong nước. Trong khuôn khổ các dự án thiện nguyện, cộng đồng NVNONN đã tới những vùng, miền xa xôi của Tổ quốc, để trực tiếp hỗ trợ, trao quà tặng góp phần cải thiện đời sống khó khăn của đồng bào, đóng góp quan trọng vào thành tựu xóa đói, giảm nghèo của đất nước.

Trong giai đoạn đại dịch COVID-19 bùng phát tại Việt Nam, cộng đồng NVNONN cho dù gặp khó khăn, nhưng vẫn đồng hành, chia sẻ bằng vật chất, tinh thần và đóng góp ý kiến tâm huyết để tham mưu với Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống, giảm nhẹ tác hại của dịch bệnh. Cộng đồng NVNONN đã quyên góp ủng hộ 80 tỷ đồng cùng nhiều trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng, chống đại dịch COVID-19. Người Việt Nam ở nước ngoài tích cực phối hợp với các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tham gia triển khai công tác ngoại giao vắc-xin, vận động nước sở tại hỗ trợ vắc-xin và vật phẩm y tế cho Việt Nam. Với tấm lòng hướng về quê hương, gần 30 tổ chức, hội đoàn người Việt Nam ở các nước đã phát động các chiến dịch ủng hộ, như “Chung tay vì Việt Nam”, “10 nghìn liều vắc-xin cho Việt Nam”...

Nhiều NVNONN là trưởng đại diện hoặc người điều hành các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, đã và đang triển khai các hoạt động hỗ trợ nhân đạo tại Việt Nam, đóng góp vào công tác giảm nghèo, thúc đẩy phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Trong tổng số 388 tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, có 44 tổ chức mà người sáng lập, chủ tịch, trưởng đại diện, người chịu trách nhiệm hoạt động là NVNONN, đã viện trợ trung bình khoảng 8,4 triệu USD/năm cho Việt Nam.

Phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

 Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc phát huy hiệu quả nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) phục vụ mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh tình hình khu vực, thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, cơ hội và thách thức đan xen, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng lòng, quyết tâm và tập trung nguồn lực ở cả trong và ngoài nước là yếu tố hết sức quan trọng để đưa đất nước tiếp tục tiến lên mạnh mẽ và đạt được những mục tiêu phát triển đã đề ra.

Tiếp nối chủ trương lớn của Đảng về công tác đối với cộng đồng NVNONN, trong đó tinh thần chỉ đạo xuyên suốt đã được khẳng định tại Nghị quyết số 36/NQ-TW, ngày 26-3-2004, của Bộ Chính trị, “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” coi “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”; Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 19-5-2015, của Bộ Chính trị, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới” và Kết luận số 12-KL/TW, ngày 12-8-2021, của Bộ Chính trị, “Về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới” xác định cộng đồng NVNONN là “nguồn lực quan trọng”, yêu cầu “khuyến khích và tạo điều kiện để đồng bào Việt Nam ở nước ngoài tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn: “Đi đâu thì cũng phải nghĩ ta là “con Lạc cháu Hồng”, làm gì thì cũng phải nghĩ mình là người Việt Nam... Con người sống với nhau có tình, có nghĩa, nhân ái, đoàn kết và góp phần quảng bá Việt Nam, con người, văn hóa Việt Nam ra nước ngoài...”(1).

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Italia_Ảnh: TTXVN