Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

 Khi nói đến công bằng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gắn với bình đẳng xã hội, mà trước hết là “bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”; song, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ thực chất là công bằng về cơ hội phát triển. Với quan niệm như vậy, Người yêu cầu tất cả những người lao động ngày nay đều phải nhận thức rõ mình là người chủ nước nhà và đã có quyền hạn làm chủ, thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ - đó là cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, bình đẳng trước hết là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; đồng thời, việc thực hiện sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụ quyền lợi ấy lại chính là thực hiện công bằng về cơ hội phát triển. Việc thực hiện một chế độ phân phối công bằng, theo quan niệm của Người, chính là thực hiện nguyên tắc phân phối; trong đó, phần hưởng thụ ngang bằng với mức độ đóng góp, cống hiến của từng cá nhân, chứ hoàn toàn không phải là sự ngang bằng về hưởng thụ giữa các cá nhân, mà không tính đến sự cống hiến của từng người. Người cho rằng, trong chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc phân phối công bằng là: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng”(14). Đây là nguyên tắc phân phối công bằng và phù hợp với điều kiện nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là khi đất nước vừa thoát khỏi chế độ thực dân, phong kiến, còn rất nhiều khó khăn về kinh tế; vì thế, sự bình đẳng của những người lao động trong mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, mà cụ thể là sự ngang bằng về địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ tư liệu sản xuất, là những điều kiện cơ bản, quan trọng; là cơ hội do chế độ xã hội mới tạo ra, bảo đảm cho mỗi người đều có thể phát huy mọi khả năng của mình để cùng vươn tới một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng về cơ hội phát triển là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; là tiền đề quan trọng để hiện thực hóa những giá trị, lý tưởng nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, việc thực hiện công bằng xã hội là một yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội. Người chỉ rõ, yêu cầu quan trọng trong công tác lưu thông phân phối là: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”(15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, thực hiện công bằng về cơ hội phát triển với nguyên tắc ngang bằng giữa nghĩa vụ và quyền lợi; giữa cống hiến và hưởng thụ trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn về kinh tế, đời sống của nhân dân còn đói, nghèo; cho nên không được coi việc thực hiện công bằng xã hội như là một sự cào bằng trong nghèo khó. Người khẳng định: “Không phải chúng ta ham chuộng khổ hạnh và bần cùng. Trái lại, chúng ta phấn đấu hy sinh, vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai cũng ấm no, sung sướng”(16). Người nhấn mạnh, “chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, v.v., làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con. Thế ta đã đến đấy chưa? Chưa đến. Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần. Ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi tiến lên hợp tác xã, tiến lên nông trường”(17).

Để vượt qua hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân phát huy tinh thần đồng cam cộng khổ, đùm bọc, tương thân tương ái, đoàn kết, hợp tác vì mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; kiên quyết chống lại sự đồng nhất tinh thần đồng cam cộng khổ với chủ nghĩa bình quân. Người nói: “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng. Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết. Ví dụ như Bác yếu chỉ ăn ba bát cơm, chú khỏe cần nhiều hơn mà cũng ăn ba bát, chú lùn cũng đòi may áo dài, Bác cao hơn cũng mặc áo dài như chú. Bình quân chủ nghĩa là trái chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng”(18).

Như vậy, trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bằng xã hội với cốt lõi là công bằng về cơ hội phát triển, mà thực chất là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới. Mục tiêu của chế độ xã hội mới, là không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, là phấn đấu: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu/ Người khá giàu thì giàu thêm”(19). Những quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa cho thấy, việc thực hiện công bằng xã hội với cốt lõi ở việc thực hiện công bằng về cơ hội phát triển, mà thực chất là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, mang ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước; thông qua việc phát huy cao nhất khả năng, sức mạnh của mỗi người, cùng tham gia xây dựng một cuộc sống mới, từng bước vươn tới xã hội cộng sản - một xã hội trong đó “Mọi người làm hết tài năng; ai cần dùng gì có nấy”(20).

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, địa vị và vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân luôn được đề cao; đồng thời, Người cũng luôn đánh giá rất cao vai trò của thực hiện công bằng về cơ hội phát triển trong việc làm yên lòng dân, và nhờ “yên được lòng dân” mà xã hội được ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, những tư tưởng vô cùng quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, có tác dụng dẫn dắt, định hướng đối với Việt Nam không chỉ trong quan hệ lợi ích kinh tế, mà còn trong nhiều mối quan hệ xã hội khác.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét