Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024
TÂM LÝ BẤT MÃN - TRẠNG THÁI NGUY HIỂM DỄ BỊ KẺ XẤU LỢI DỤNG!
chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay
ĐẦU TƯ TRỌNG TÂM, ĐƯA GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT RA THẾ GIỚI
Các sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam như thời trang, trò chơi điện tử, phim hoạt hình, truyện tranh ngày càng được bạn bè quốc tế biết đến và yêu thích. Điều đó cho thấy tài năng sáng tạo của người Việt Nam hoàn toàn có thể vươn ra “biển lớn”.
Phát triển công nghiệp văn hóa từ hạ tầng
Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa thu hút được ngày càng nhiều sự tham gia của các doanh nghiệp, người lao động, các nhà sáng tạo... Sự tham gia mạnh mẽ của các nhà đầu tư trong thực hiện các dự án, công trình văn hóa lớn đã bồi đắp bức tranh phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam với nhiều mảng màu tươi sáng. Sự xuất hiện của nhiều công trình văn hóa mới như các nhà hát, công viên văn hóa, trung tâm thể dục thể thao... hiện đại, có quy mô lớn, đa chức năng được thực hiện theo hình thức đối tác công - tư cho thấy đây là hướng đi đúng đắn.
Chia sẻ về tốc độ tăng trưởng của công nghiệp văn hóa, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng cho biết: Một trong những đóng góp quan trọng của các lĩnh vực này là việc quảng bá hình ảnh, bản sắc và gia tăng sức hấp dẫn, thuyết phục của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã 4 lần được vinh danh là Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới tại Lễ trao Giải thưởng du lịch thế giới năm 2023 sau các năm 2019, 2020, 2022. Điều đó cho thấy những giá trị nổi bật toàn cầu và sức hấp dẫn của du lịch văn hoá - một trong 12 ngành công nghiệp văn hoá đối với cộng đồng quốc tế.
Tuy vậy, việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động sáng tạo văn hóa, sản xuất các sản phẩm và dịch vụ văn hóa còn hạn chế, chưa có được nhiều nhà đầu tư quan tâm. Thực tế cho thấy, nguồn vốn chi cho đầu tư sáng tạo lớn nhưng khả năng thu hồi vốn chậm, nhỏ lẻ và tiềm ẩn nhiều rủi ro từ cơ chế, chính sách, phương pháp quản lý, đến ứng xử của cộng đồng, xã hội đối với từng sản phẩm công nghiệp văn hoá.
Theo đó, mục tiêu hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa trọng điểm tại các tỉnh, thành lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh từ hạ tầng cơ sở nhận được sự quan tâm. Để hình thành những trung tâm lớn, các thành phố này có được yếu tố quan trọng là những công trình văn hóa lớn cùng mạng lưới các doanh nghiệp sáng tạo, có thương hiệu, đủ sức cạnh tranh để tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa có chất lượng cao tham gia thị trường văn hóa trong nước và quốc tế.
Bà Ngô Thị Bích Hạnh, Tổng Giám đốc Công ty sản xuất, phát hành phim điện ảnh, truyền hình và công nghiệp sáng tạo nội dung video BHD cho rằng, để xây dựng được công nghiệp văn hóa thì phải xây dựng được cơ sở vật chất cho công nghiệp đó, ví dụ như rạp chiếu phim, phim trường để phát triển công nghiệp điện ảnh.
Đại diện của thương hiệu luôn tiên phong đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng văn hóa, bà Nguyễn Thái Hoài Anh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Sun Group chia sẻ: Cần coi nhiệm vụ quy hoạch công nghiệp văn hóa cũng như xây dựng kế hoạch triển khai quy hoạch công nghiệp văn hóa từng thời kỳ là nhiệm vụ tiên quyết, là định hướng chiến lược tổng thể cho ngành du lịch Việt Nam.
Chính vì lẽ đó, quy hoạch công nghiệp văn hóa cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, bài bản trong phạm vi cả nước, sau đó, phân chia tới từng vùng, tỉnh, đơn vị một cách đồng bộ và phù hợp.
Cần cơ chế ưu đãi đầu tư cho lĩnh vực văn hóa
Để tạo động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới, TS. Đoàn Thanh Nô, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho rằng: Sáng tạo tác phẩm là khâu đầu tiên, là chất liệu quan trọng trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa liên quan đến văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, tác phẩm văn học nghệ thuật tốt, hấp dẫn chưa đủ để đóng góp vào công nghiệp văn hóa. Văn nghệ sĩ không chỉ dồn tâm sức trí tuệ sáng tạo tác phẩm, mà còn phải tìm hiểu thị trường, nhu cầu của công chúng, trực tiếp tham gia vào chuỗi công nghiệp văn hóa.
Từ vị trí của các đơn vị tham gia vào phát triển công nghiệp điện ảnh, nhiều đại diện doanh nghiệp chia sẻ mối quan tâm đến các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp. Đơn cử như việc các rạp chiếu phim cần được giảm giá, hoặc những địa điểm xa trung tâm thì được miễn tiền thuê đất, giảm tiền thuê đất, giảm tiền điện, nước cho doanh nghiệp làm văn hóa.
Từ không gian sáng tạo trực tuyến Hanoi Grapevine, bà Trương Uyên Ly đưa ra ý kiến: Các không gian sáng tạo đang kết nối chặt chẽ các nghệ sĩ, truyền thông và đem các tác phẩm của nghệ sĩ đến với công chúng. Trên thực tế, nhiều không gian sáng tạo Việt Nam đang thu hút sự chú ý mạnh mẽ và hào hứng trải nghiệm, tham gia của công chúng.
Hiện nay, không gian sáng tạo đã và đang có những tác động tích cực như tạo việc làm mới, cải tạo cảnh quan của khu vực, giảm tình trạng ô nhiễm. Nhà máy bỏ hoang, bãi đất trống được biến thành địa điểm âm nhạc, quán café, tạo không gian cho giới trẻ.
Không gian sáng tạo cũng giúp giảm bớt ô nhiễm rác thải. Những không gian ô nhiễm được cải tạo thành không gian tươi mới, sạch đẹp. Tuy nhiên, các không gian sáng tạo gặp nhiều khó khăn, cản trở sự phát triển như: Thuế, hạn mức thuê... Có thể thấy, thách thức lớn trong phát triển không gian sáng tạo và công nghiệp văn hóa ở Việt Nam là thiếu sự liên kết, chưa đồng bộ, nhận thức về sức mạnh công nghiệp văn hóa chưa đồng đều.
Là người có nhiều kinh nghiệm với việc sản xuất các sản phẩm giải trí như đạo diễn các sân khấu cuộc thi hoa hậu, liên hoan phim, các chương trình truyền hình thực tế..., đạo diễn Hoàng Nhật Nam cho biết: Với tốc độ tăng trưởng gần đây, công nghiệp văn hóa đang được công nhận là ngành kinh tế có khả năng cạnh tranh ngày càng cao ở cả thị trường trong và ngoài nước, điều này cho thấy ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đang khai thác thành công của nguồn lực thông qua hoạt động và dần thu hẹp khoảng cách và năng lực cạnh tranh với các đối thủ trên toàn thế giới
SỨC MẠNH NHÂN DÂN
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân; trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn thể hiện tình cảm quý trọng nhân dân và chăm lo xây dựng lực lượng toàn dân tham gia vào các công việc của cách mạng. Thực tiễn cũng đã chứng minh, quy tụ được lòng dân, phát huy sức mạnh của nhân dân là nguyên nhân quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc quan điểm lấy dân làm gốc. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đúc rút bài học kinh nghiệm quý báu: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội.
Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
Tôi cho rằng, để phát huy những kết quả đã đạt được trong phát huy sức mạnh của nhân dân, các cấp ủy đảng, chính quyền, cả hệ thống chính trị cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện nhất quán quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tạo môi trường thuận lợi để nhân dân phát triển tài năng, sức sáng tạo, mang lại lợi ích cho đất nước.
Yếu tố đóng vai trò quan trọng là phải thực hành dân chủ rộng rãi, để làm sao thật sự dân là chủ, dân làm chủ, bảo đảm dân chủ từ trong Đảng đến dân chủ xã hội được thực hiện ở các cấp, các địa bàn, các lĩnh vực. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát huy quyền dân chủ, về mối quan hệ "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng", để nhân dân thực hiện tốt hơn quyền dân chủ trực tiếp cùng với quyền dân chủ gián tiếp thông qua đại diện của mình.
SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC
Trong sản xuất nông nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một trong những vật tư quan trọng góp phần bảo vệ, nâng cao năng suất cây trồng, quyết định giá trị và chất lượng nông sản. Tuy nhiên, việc lạm dụng, sử dụng thuốc BVTV không đúng cách sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe con người, môi trường cũng như chất lượng nông sản.
Trước thực trạng đó, thuốc BVTV sinh học được xem là giải pháp thay thế tối ưu. Ðây cũng là xu thế khách quan, tất yếu, hiện thực hóa chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững của Việt Nam.
Bài 1: Thời của thuốc bảo vệ thực vật sinh học
Nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế. Cùng với phân bón hữu cơ, thuốc BVTV sinh học là yếu tố nền tảng của ngành trồng trọt, là chìa khóa mở ra nền sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững.
Thuốc BVTV sinh học an toàn và ít độc hại đối với sức khỏe con người, sinh vật có ích và môi trường, nhanh phân hủy trong tự nhiên, thời gian cách ly ngắn, ít để lại dư lượng trong nông sản.
Những cánh đồng tiên phong
Gia đình ông Nguyễn Phát Ðạt, xã Thạnh Phú, huyện Cờ Ðỏ, thành phố Cần Thơ sản xuất lúa theo mô hình “sức mạnh sinh học” từ khoảng 10 năm nay. Ông Ðạt cho biết, mỗi vụ, nhà ông canh tác khoảng 20 ha lúa. Canh tác theo phương thức này, họ không đợi có bệnh mới trị mà chủ động “chích ngừa” phòng bệnh trước cho cây. Cả vụ chỉ cần phun từ 4 đến 5 cữ thuốc BVTV sinh học. Phun thuốc phòng lần đầu khi cây lúa cấy dặm được 25 ngày, 20-25 ngày sau phun lần 2. Lần 3, 4 là lúc trước trổ và sau khi cây lúa trổ đều.
Suốt cả vụ cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, hầu như không có sâu bệnh, cho năng suất cao. Trong khi đó, với cách làm truyền thống, nông dân đợi cây có bệnh mới phun thuốc BVTV hóa học để trị, đề kháng của cây yếu cho nên thường xuyên bị bệnh, số lần phun thuốc khá nhiều, có khi cách 10 ngày phải phun một lần. Giá thuốc BVTV sinh học cao nhưng vì số lần phun ít, so với thuốc BVTV hóa học, chi phí sử dụng thuốc BVTV sinh học chỉ tương đương.
Theo ông Ðạt, canh tác theo “sức mạnh sinh học”, người dân phải kiên trì, thuốc BVTV sinh học không đem lại hiệu quả tức thì như thuốc hóa học nhưng có tính bền vững. Mùa vụ đầu tiên chưa có kết quả như mong đợi nhưng ở những vụ sau cây phát triển tốt dần lên, ít sâu bệnh, năng suất lợi nhuận tăng lên, hiệu quả sẽ thể hiện rõ rệt. Quan trọng nhất, các sản phẩm thuốc BVTV sinh học thân thiện, không phát thải dư lượng thuốc ra môi trường, an toàn cho người sản xuất và sử dụng nông sản.
Cánh đồng nhà ông Ðạt là một trong hàng nghìn những cánh đồng sử dụng “sức mạnh sinh học” do Công ty TNHH Thương mại Tân Thành khởi xướng.
Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Tân Thành Nguyễn Xuân Khoa cho biết, từ năm 2010, nhận thấy sự cần thiết của các sản phẩm sinh học tạo ra nông sản an toàn, giá trị cao, Công ty TNHH Thương mại Tân Thành đã bắt đầu phát triển quy trình “sức mạnh sinh học” trên cây lúa và giới thiệu đến nhà nông tại khắp các tỉnh, thành phố thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Ðông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Sau nhiều năm triển khai, đến nay, mỗi mùa vụ có hơn 4.000 nông dân tham gia áp dụng quy trình “sức mạnh sinh học” với diện tích thực hiện mỗi vụ hơn 22.000 ha. Với tên gọi “sức mạnh sinh học”, mô hình áp dụng các sản phẩm thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học để giúp phát huy cao nhất sức mạnh nội tại cây trồng, tăng cường khả năng đề kháng tự nhiên cho cây, tối ưu năng suất và chất lượng nông sản.
Cũng theo ông Khoa, các sản phẩm sinh học có nhiều đặc tính nổi trội. Vì được chiết xuất từ thiên nhiên cho nên sản phẩm an toàn với người sản xuất cũng như người tiêu dùng sản phẩm và thân thiện với môi trường. Ghi nhận từ thực tế, các mô hình áp dụng quy trình canh tác theo “sức mạnh sinh học” cho năng suất, sản lượng cao, tiết kiệm chi phí đầu vào so với cách canh tác truyền thống. Ðặc biệt, nông sản canh tác theo quy trình sinh học được đánh giá an toàn, có tính cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
GS, TS Nguyễn Văn Sánh-nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long cho biết, sản xuất lúa theo hướng hữu cơ, lúa chất lượng cao là xu thế tất yếu hiện nay. Ðể góp phần thực hiện các mục tiêu, việc giảm thuốc BVTV hóa học, tăng tỷ lệ sử dụng thuốc BVTV sinh học là nhiệm vụ cấp bách. Những cánh đồng sử dụng “sức mạnh sinh học” sẽ góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của Chính phủ, của ngành nông nghiệp đã đề ra.
Nền tảng nâng cao chất lượng, giá trị nông sản
Cục Bảo vệ thực vật cho biết, cùng với cây lúa, thời gian qua Cục đã phối hợp các doanh nghiệp xây dựng nhiều mô hình sử dụng thuốc BVTV sinh học trên các loại rau, quả chủ lực. Trong đó, phải kể đến mô hình sử dụng thuốc sinh học Takare 2EC phòng trừ nhện đỏ và Bonny 4SL phòng trừ bệnh loét trên cam sành tại tỉnh Vĩnh Long. Bước đầu, mô hình cho kết quả tốt, đạt hiệu quả kinh tế cao, tăng 30% tổng sản lượng cam thương phẩm so với cách làm trước đây.
Hay mô hình “sử dụng thuốc trừ bệnh hữu cơ sinh học Amtech 100 EW trên cây thanh long, cây vải và cây xoài” với tổng diện tích 15 ha tại các tỉnh Long An, Hải Dương, Bắc Giang và Sơn La. Cụ thể, tại xã Long Trì, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, cơ quan chức năng hướng dẫn người dân sử dụng thuốc hữu cơ sinh học Amtech 100 EW (dịch chiết từ vỏ lụa hạt điều) để điều trị bệnh trên cây thanh long ruột đỏ.
Theo chủ vườn, vào giai đoạn thanh long rút râu, khi cây bị sâu bệnh nhà vườn đã dùng thuốc Amtech 100EW trị bệnh cho cây. Mặc dù hiệu quả trừ bệnh hại của thuốc thấp hơn so với việc sử dụng thuốc hóa học nhưng năng suất của vườn cây vẫn ổn định và quan trọng nhất là chất lượng bảo đảm. Hầu hết sản lượng thanh long của vườn phục vụ cho xuất khẩu, các lô hàng đều bảo đảm chất lượng, không để lại dư lượng thuốc BVTV.
Sản phẩm được sản xuất từ cuối năm 2019, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép đăng ký trên nhiều loại cây trồng có giá trị xuất khẩu cao đòi hỏi dư lượng tồn dư trong nông sản thấp như: Bắp cải, cải thảo, cà tím, dưa leo, cà chua, dâu tây, chè… Trong những năm qua, việc sử dụng thuốc BVTV sinh học của nông dân có sự tăng lên đáng kể, đặc biệt đối với những cây trồng chủ lực như các loại cây ăn quả, rau màu. Ðối với sản phẩm thuốc trừ bệnh hữu cơ sinh học Amtech 100EW, trong ba năm gần đây, lượng tiêu thụ của nông dân tăng từ 30 đến 50%.
Ngoài các mô hình nêu trên, ở các địa phương hiện nay cũng đang xây dựng nhiều mô hình sản xuất cây ăn quả, rau màu sử dụng thuốc BVTV sinh học. Chẳng hạn như mô hình sử dụng thuốc BVTV sinh học Manecer 200WP phòng trừ tuyến trùng gây hại cây thanh long với diện tích 0,5 ha tại ấp Long Thạnh, xã Quơn Long, huyện Chợ Gạo (Tiền Giang). Kết quả bước đầu cho thấy, thuốc kiểm soát tốt tuyến trùng, tối ưu năng suất, chất lượng và lợi nhuận cao hơn vụ trước khoảng 20%.
Hay mô hình quản lý sâu đục cuống quả vải và dư lượng bằng thuốc BVTV sinh học Proclaim 5WG với diện tích 0,2 ha tại huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Kết quả hiệu lực phòng trừ sâu đục quả vải khá cao, đạt hơn 83%, không có sự khác biệt lớn so với việc sử dụng thuốc hóa học, bảo đảm yêu cầu về dư lượng thuốc BVTV trên quả vải phục vụ cho việc xuất khẩu sang một số nước như: Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Âu.
Nhìn vào những con số nêu trên có thể thấy, mặc dù diện tích thực hiện các mô hình sử dụng thuốc BVTV sinh học trên cây ăn quả, rau màu chưa nhiều nhưng đây là những tiền đề quan trọng để xây dựng những cánh đồng rau màu, những vựa trái cây chủ lực, chất lượng cao về sau.
MỞ CỬA TRÒ CHUYỆN – CÙNG NHAU XÓA BỎ SỰ NGẦN NGẠI TRONG VIỆC TRÒ CHUYỆN VỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
Một số người trong giới trẻ vẫn cảm thấy ngại ngùng khi đặt ra, thảo luận và chia sẻ quan điểm về các vấn đề xã hội quan trọng. Nhưng tại sao lại có sự ngần ngại này? Và chúng ta có thể vượt qua để tạo ra một không gian trò chuyện mở và thoải mái hơn không?
🔍 Xác định nguyên nhân “Tại sao chúng ta ngại ngùng?”: Đôi khi, sự ngần ngại đến từ việc thiếu thông tin, sợ sệt hoặc lo lắng về phản ứng của người khác. Hãy cùng nhau tìm hiểu và thấu hiểu nguyên nhân cụ thể mà chúng ta cảm thấy khó nói về các vấn đề xã hội.
🗣️ Tạo ra môi trường an toàn - nơi mọi người được lắng nghe: Chúng ta có thể tạo ra một môi trường thoải mái, nơi mà mọi người cảm thấy tự do và an toàn khi chia sẻ quan điểm của mình. Hãy cùng nhau xây dựng không gian trò chuyện mở, không đánh giá và lắng nghe nhau.
🤝 Đối mặt và tôn trọng sự khác biệt - chấp nhận sự đa dạng ý kiến: Mỗi người có quan điểm và kinh nghiệm cá nhân riêng. Hãy tôn trọng và đối mặt với sự đa dạng của quan điểm xã hội, không phải mục tiêu làm cho tất cả đồng ý, mà là để hiểu biết và kích thích suy nghĩ.
💬 Khơi dậy cuộc trò chuyện - mở lời và bắt đầu: Một cuộc trò chuyện không bắt buộc phải bắt đầu từ những vấn đề lớn, mà có thể từ những chủ đề nhỏ, những câu hỏi tò mò. Hãy dành thời gian cho những cuộc trò chuyện nhỏ, từ đó chúng ta có thể dần dần mở rộng để nói về các vấn đề quan trọng hơn.
Chúng ta cùng nhau làm việc để vượt qua sự ngần ngại, xây dựng một không gian đối thoại mở và thoải mái hơn về các vấn đề xã hội. Hãy cùng tham gia và chia sẻ cảm nghĩ của bạn dưới phần bình luận. Mỗi ý kiến của bạn đều rất quan trọng trong việc mở cánh cửa cho cuộc trò chuyện chân thành và có ý nghĩa hơn!
SỚM PHÁT ĐỘNG CUỘC VẬN ĐỘNG SÁNG TÁC CA KHÚC VỀ ĐỀ TÀI QUỐC HỘI VÀ CƠ QUAN DÂN CỬ
Chiều 10/1, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ có cuộc làm việc với các cơ quan về công tác chuẩn bị tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946-6/1/2026).
Kết luận cuộc làm việc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt quan trọng của sự kiện kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam; đề nghị Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức triển khai Đề án tổ chức kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam theo đúng tinh thần chỉ đạo của Ban Bí thư. Đồng thời, khẩn trương thành lập các tiểu ban để triển khai thực hiện các nhiệm vụ; trong đó, có tiểu ban về văn hóa, nghệ thuật do Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương làm Trưởng Tiểu ban để chỉ đạo triển khai các hoạt động cụ thể.
Chủ tịch Quốc hội nhất trí sẽ tổ chức Cuộc vận động sáng tác ca khúc về đề tài Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Qua đó, tạo sức lan tỏa rộng khắp, mở rộng thành phần, phạm vi để thu hút được đông đảo các nhạc sĩ cả chuyên nghiệp và không chuyên, khuyến khích các nhạc sĩ trẻ tham gia.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị Văn phòng Quốc hội phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng để sớm ban hành điều lệ Cuộc vận động, xây dựng kế hoạch triển khai, thành lập hội đồng thẩm định và tổ chức Lễ phát động Cuộc vận động trong tháng 1/2024.
Bày tỏ nhất trí đề xuất của các đại biểu, các nhạc sĩ về việc tạo điều kiện để các nhạc sĩ được trải nghiệm thực tế các hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Quốc hội đã chia sẻ một số dấu ấn nổi bật của Quốc hội từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nhất là những câu chuyện mang tính chất "bếp núc", "hậu trường" tại các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội để chuẩn bị các nội dung, trình Quốc hội xem xét, quyết định, hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, rất khó từ đầu nhiệm kỳ khoá XV đến nay; sự gắn kết chặt chẽ giữa Quốc hội và Hội đồng nhân dân, "luồng gió mới" trong hoạt động của cơ quan dân cử từ Trung ương đến địa phương...
Chủ tịch Quốc hội giao Văn phòng Quốc hội tổ chức các hoạt động trải nghiệm để các nhạc sĩ hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Từ đó, tạo nguồn cảm hứng để có những ca khúc hay, ý nghĩa về Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
Cùng dự cuộc làm việc có Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Trần Quang Phương; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ tịch Công đoàn cơ quan Văn phòng Quốc hội Vũ Minh Tuấn và đại diện lãnh đạo các cơ quan hữu quan.
Báo cáo tại cuộc làm việc, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Minh Tuấn cho biết, trên cơ sở báo cáo của Văn phòng Quốc hội, ngày 25/12/2023, Văn phòng Trung ương Đảng có văn bản thông báo ý kiến của Ban Bí thư đánh giá cao công tác chuẩn bị tổ chức kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam.
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng cho hay, triển khai Đề án của Ban Chỉ đạo về tổ chức kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Việt Nam, thời gian qua, Văn phòng Quốc hội đã chỉ đạo sát sao các đơn vị chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan triển khai nhiệm vụ tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật hướng tới lễ kỷ niệm.
Tại cuộc làm việc, đại diện các cơ quan đã góp ý kiến chi tiết về việc tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam, trọng tâm là việc tổ chức cuộc thi sáng tác hoặc cuộc vận động sáng tác ca khúc về Quốc hội Việt Nam, việc tổ chức Liên hoan tiếng hát truyền hình Quốc hội Việt Nam, Chương trình nghệ thuật Vinh quang Quốc hội Việt Nam.
Phi công lái máy bay chiến đấu - nghề đặc biệt nguy hiểm
Nguy hiểm bởi lẽ việc điều khiển khối sắt thép nặng hàng chục tấn bay lượn giữa không trung, có lúc nhẹ nhàng mềm mại như cánh hải âu, có lúc như chim cắt dũng mãnh lao thẳng vào kẻ thù là việc làm không hề đơn giản.
Trạng thái máy bay thường xuyên thay đổi theo ba trục của không gian, tốc độ thay đổi đột ngột có lúc còn vọt nhanh hơn cả tốc độ âm thanh. Những chuyển động của máy bay tạo ra các quá tải dọc, ngang, đứng tác động lên máy bay và phi công, đôi khi gần chạm ngưỡng quá tải tới hạn (người và máy bay đều có một giới hạn nhất định về quá tải mà vượt qua đó máy bay sẽ bị phá hủy và con người không thể chịu đựng được). Những ảnh hưởng đó tác động lên cơ thể của phi công, đặc biệt là những cơ quan liên quan đến điều khiển máy bay như tai, mắt, độ nhạy cảm của thần kinh, tâm lý, cơ bắp, thậm chí còn xảy ra cả tình trạng thiếu máu não (khi phải chịu quá tải đứng lớn). Trong mọi điều kiện đòi hỏi phi công phải luôn tỉnh táo, phối hợp mọi giác quan, bộ phận để điều khiển máy bay theo đúng ý định, đồng thời còn phải tương tác giữa phi công buồng trước, buồng sau, với các phi công trong biên đội, với các máy bay khác và với chỉ huy bay. Bất cứ một sơ suất nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả khôn lường.
Nguy hiểm bởi lẽ như một võ sĩ giác đấu, phi công lái máy bay chiến đấu phải rèn luyện để có đủ khả năng sẵn sàng đối mặt với kẻ thù đến từ mọi hướng trong không gian bao la. Phải phát hiện được địch, tránh được các đòn đánh của kẻ thù (pháo, tên lửa) và phải tiến công tiêu diệt được địch nếu không muốn làm mồi cho chúng. Điều đó đòi hỏi phải có sự hiểu biết về máy bay, trang bị vũ khí của địch, sự thành thạo trong sử dụng trang bị vũ khí trên máy bay của ta cùng với sự luyện tập gian khổ để hình thành các kỹ năng điều khiển máy bay thực hiện các động tác phức tạp, nguy hiểm mà quá trình huấn luyện và rèn luyện đôi khi phải vượt qua sự chịu đựng về sức khỏe, tâm lý của người bình thường, thậm chí phải vượt qua cả sự sợ hãi. Khi đó mới hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần có của một phi công lái máy bay chiến đấu. Mọi sơ suất đều có thể phải trả giá bằng cả tính mạng của mình.
Nguy hiểm bởi lẽ trong quá trình bay, phi công phải sẵn sàng đối phó với muôn vàn bất trắc có thể xảy ra như va chạm với các máy bay, vật thể bay, thậm chí cả chim và các công trình nhân tạo, thiên tạo (khi bay thấp), thời tiết đột ngột xấu, lạc đường, hỏng hóc phát sinh, trạng thái sức khỏe, thần kinh tâm lý (có những trường hợp mất cả ý thức về trạng thái không gian, tự điều khiển máy bay lao xuống đất) và trong chiến đấu thì sự nguy hiểm còn đến từ hòn tên, mũi đạn của kẻ thù… tất cả đều có thể dẫn đến các hiểm họa khủng khiếp.
![]() |
| Giáo viên và học viên Trường Sĩ quan Không quân trao đổi trước chuyến bay. Ảnh minh họa: qdnd.vn |
Có người cho rằng dù sao trên máy bay cũng trang bị hệ thống phóng ghế có thể bảo toàn tính mạng cho phi công. Nhưng họ không hề biết rằng, bất cứ phi công chiến đấu nào cũng rất khó khăn để đưa ra quyết định nhảy dù thoát ly khỏi máy bay. Mặc dù, các điều kiện cho phép nhảy dù, trình tự, kỹ thuật động tác nhảy dù là một trong những bài học đầu tiên của các phi công. Và, bài học đó thường được các phi công nhẩm đi nhẩm lại trước các chuyến bay đến mức trong tình trạng cực kỳ nguy cấp thì các phi công đều có phản xạ tóm cần dù và giật dù để thoát khỏi máy bay. Nhưng mọi người cũng không hề biết rằng, trong suy nghĩ hằng ngày, phi công rất ít khi tính tới việc nhảy dù. Bởi lẽ, nhảy dù đồng nghĩa với việc vứt máy bay - một tài sản lớn của Nhà nước, Quân đội trao cho mình (mỗi chiếc máy bay chiến đấu hiện có của Không quân nhân dân Việt Nam có giá từ vài chục triệu đến cả trăm triệu USD). Nhảy dù rồi máy bay rơi vào đâu? (nhà trẻ, trường học, bệnh viện, làng xóm, phố xá hay các công trình mặt đất, hay sông biển…). Nhảy dù ra có chắc an toàn không? Vì hệ thống phóng ghế gồm một loạt các thiết bị, trong đó bộ phận quan trọng nhất là khối thuốc phóng cực mạnh bảo đảm trong thời gian khoảng 0,5 giây phải bắn ghế và phi công lên 1 độ cao nhất định để thoát ra khỏi máy bay (với MiG-21 là 45m, với các loại Su- 22, Su- 27, Su- 30 thông thường là 86m) phi công phải chịu lực đẩy của động cơ tên lửa tác động lên cơ thể với một lực xấp xỉ bằng 20 lần trọng lượng cơ thể (nếu phi công nặng 80kg anh ta phải chịu đựng một lực tác động theo chiều dọc cơ thể khoảng 1.600kg). Hầu hết trong thời gian ngắn các phi công đều bị ngất, các đốt sống có thể bị xẹp, nếu tư thế nhảy dù không tốt có thể dẫn đến gãy cổ, tử vong. Trên thực tế, nhiều trường hợp nhảy dù ra đã tử vong ngay, nên hầu hết đều cố gắng điều máy bay tiếp đất an toàn, thậm chí nhiều khi cố gắng đến lúc quá muộn không thể thoát khỏi máy bay dẫn đến hy sinh. Chưa kể các tác động đến tâm lý, tinh thần của phi công sau nhảy dù. Bên cạnh đó, người chỉ huy bay - người ra lệnh cho phi công nhảy dù cần phải có sự hiểu biết sâu sắc về kỹ thuật bay và kỹ thuật hàng không, phải phán đoán chính xác tình huống khó khăn mà phi công đang gặp phải, để giúp họ giải quyết khó khăn hoặc quyết định ra lệnh cho phi công nhảy dù. Đồng thời chỉ huy bay cũng là người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về các vấn đề xảy ra đối với phi công và máy bay, do đó trên thực tế để ra quyết định chính xác người chỉ huy phải rất có trình độ, bản lĩnh và quyết đoán.
Trong thuật ngữ xử lý bất trắc của phi công chiến đấu có cụm từ "NHẢY DÙ THÀNH CÔNG" đó là biểu hiện cho sự an toàn cho cả phi công và mặt đất. Ban bay ngày 9-1-2024 của Trung đoàn 929, Sư đoàn 372, Quân chủng PK-KQ, phi công Đỗ Tiến Đức và kíp chỉ huy bay gồm đồng chí Lê Tuấn Nghĩa và đồng chí Bùi Văn Đài đã hành động chính xác và đã "NHẢY DÙ THÀNH CÔNG".
Trưa 9-1, trong chuyến bay thứ 2 của mình, Đại úy Đỗ Tiến Đức - Phi đội trưởng Phi đội 1 bay trên máy bay Su-22 số hiệu 5880 dẫn phi công số 2 là Trung úy Đào Ngọc Trìu bay trên máy bay số hiệu 5878 thực hiện bài 38 sát hạch đường dài độ cao trung bình công kích trực tiếp mục tiêu mặt đất. Kết thúc nhiệm vụ, theo lệnh chỉ huy bay, biên đội về sân bay hạ cánh. Khi cách sân bay khoảng 36km, chỉ huy ra lệnh cho biên đội kéo dài cự ly, hạ cánh trực tiếp. Vào đến cự ly 26km, phi công Đức báo cáo: "Vòng quay động cơ bị treo tại 70% và không thể điều khiển được" -(tương đương với chế độ làm việc nhỏ nhất của máy bay). Lúc này, độ cao chỉ còn 500m, tốc độ giảm nhanh xuống dưới 400km/h. Chỉ huy bay ra các khẩu lệnh để phi công kiểm tra sự làm việc của động cơ và giữ trạng thái máy bay. Biết khó có thể đưa máy bay về hạ cánh được, vì độ cao rất thấp nên Đức có thể nhìn thấy phía dưới là khu dân cư đông đúc. Đức chủ động báo cáo "xin phép đưa máy bay về hướng Tây" và khẽ nghiêng máy bay sang trái, khi thấy phía trước là khoảng trống có cây xanh. Cùng lúc, chỉ huy bay ra lệnh "nhảy dù 24", Đức giật vòng dù với một động tác đã được luyện tập thuần thục. Do chủ động và chuẩn bị tốt tư thế nên khi ghế phóng ra Đức hoàn toàn tỉnh táo. Dù và người nhẹ nhàng tiếp đất, vòm dù còn mắc trên ngọn dừa. Gần như ngay lập tức một đồng chí công an phường Điện Nam Trung cùng khoảng chục người dân kéo đến. Đức nhờ đồng chí công an và mọi người giúp gỡ dù bị mắc trên cây và bảo vệ hiện trường. Đồng chí công an nhanh chóng đưa Đức về trụ sở phường, lúc này người dân kéo đến mỗi lúc một đông. Đức lo lắng hỏi đồng chí công an: "Anh ơi, máy bay rơi có ai bị sao không?" Cả đồng chí công an và đồng chí chủ tịch phường đều nói: "Qua nắm bắt nhanh hiện tại không có ai bị sao cả", Đức thở phào nhẹ nhõm, lúc này xe của đơn vị vừa kịp đến đưa Đức về Viện Quân y 17.
Có thể nói, đây là vụ việc rất đáng tiếc vì kỹ thuật hàng không phát sinh hỏng hóc dẫn đến phi công phải rời máy bay, xong qua vụ việc này cũng khẳng định sự thành công của công tác huấn luyện Không quân khi đã rèn luyện nên những đồng chí phi công và chỉ huy bay có trình độ, bản lĩnh, bình tĩnh, tỉnh táo, quyết đoán, đặc biệt hành động của phi công trong giây phút hiểm nguy vẫn cố gắng đưa máy bay ra khỏi khu đông dân cư rồi mới thoát ly khỏi máy bay (theo số liệu giải mã của hộp đen thời điểm nhảy dù tốc độ chỉ còn 307km/h, độ cao còn 272m-những tham số cực kỳ nguy hiểm của trạng thái bay). Sự cố gắng của phi công Đỗ Tiến Đức đã làm giảm thiểu những thiệt hại ở mặt đất (trên thực tế chỉ có một người đàn ông bị mảnh ngói bay vào đầu và một bà cụ bị ngất do sóng kích của tiếng động gây nên. Thời điểm viết bài này, sức khỏe của hai người đã trở lại bình thường).
Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN ĐỘI ĐÃ GIẢI THỂ, SÁT NHẬP, TỔ CHỨC LẠI TRÊN 1.400 TỔ CHỨC!
Để bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới
Một là, trong việc chuyển tiếp nhiệm vụ cách mạng giữa hai thế hệ, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cần có sự kế thừa và phát triển, đan xen những ưu điểm, đặc tính tốt đẹp của thế hệ trước với những phẩm chất nổi trội, đổi mới, sáng tạo của thế hệ lãnh đạo trẻ hiện nay. “Vì vậy, cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới. Cố nhiên cán bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn. Vì vậy, hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau”(25).
Hai là, bổ sung, hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ và chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo có chiến lược và bài bản, tránh tình trạng “cầm đuốc soi tìm cán bộ”, bị động trong chuẩn bị và chuyển tiếp. Chuyển tiếp nhiệm vụ cách mạng giữa các thế hệ trên cơ sở thực hiện đầy đủ quy trình đánh giá, lựa chọn, đề bạt cán bộ một cách dân chủ, công khai, minh bạch. “Hoàn thiện thể chế, quy định về công tác cán bộ, tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ… Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ”(26).
Ba là, kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, cơ hội, thực dụng, những người “chạy chức”, “chạy quyền” vào đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược. Chống lợi dụng thân quen, “cánh hẩu”, “cục bộ địa phương” trong quá trình chuẩn bị, lựa chọn nhân sự. Thực hiện nghiêm các quy định về chế độ kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực công tác cán bộ theo Quy định số 179-QĐ/TW, ngày 25-2-2019, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, “Về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ”. Đồng thời “Xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”(27). Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất, theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cán bộ sai phạm, không có “vùng cấm”.
Bốn là, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong công tác cán bộ. Trong đó, cần mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp. Nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận và xử lý những ý kiến phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về cán bộ với các hình thức phù hợp, hiệu quả.
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm” gắn với việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, tạo cơ sở cho việc chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo một cách vững vàng, bài bản./.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ lãnh đạo trong thực tiễn cách mạng Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt coi trọng việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và chuyển tiếp các thế hệ lãnh đạo. Thực tiễn đấu tranh cách mạng đầy gian khổ trước đây cũng như thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay với những mục tiêu lớn, nhiệm vụ nặng nề là “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, thước đo chính xác nhất, cụ thể nhất để đánh giá, sàng lọc, thay thế kịp thời hoặc tuyển chọn người lãnh đạo. Mỗi thế hệ lãnh đạo có những tiêu chuẩn, nguyên tắc lựa chọn, mang dấu ấn riêng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Thứ nhất, thế hệ lãnh đạo thời kỳ hoạt động bí mật, đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945).
Đây là thế hệ lãnh đạo đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp hoặc gián tiếp tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, dìu dắt. Thế hệ lãnh đạo này được lựa chọn từ phong trào yêu nước những người ưu tú để đào tạo, bồi dưỡng từ chủ nghĩa yêu nước đến lập trường chủ nghĩa cộng sản thông qua các lớp học do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức ở Quảng Châu, Trung Quốc hoặc gửi đi đào tạo ở Liên Xô. Tiêu chuẩn cơ bản của người lãnh đạo là “tư cách của người cách mệnh”, đó là lòng yêu nước, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các nguyên tắc của Đảng. Thành phần tuyển chọn bao gồm: Nhóm tinh hoa có trình độ học vấn nhất định, kể cả xuất thân từ địa chủ, tư sản, trí thức..., được đào tạo, bồi dưỡng lập trường giai cấp công nhân, thông qua rèn luyện thực tiễn để thử thách và trưởng thành; những người xuất thân từ công nhân, nông dân, người lao động được đào tạo, bồi dưỡng, thử thách qua thực tiễn cách mạng trở thành lãnh đạo. Môi trường thử thách, rèn luyện, đào thải và lựa chọn cán bộ chính là thực tiễn cách mạng khắc nghiệt; là năng lực hoạt động bí mật, đấu tranh cách mạng khôn ngoan để vượt qua mọi thủ đoạn đàn áp, khủng bố tàn bạo, nham hiểm của kẻ thù, nhờ đó duy trì sự sống còn của tổ chức đảng; là khả năng biến nhà tù thành trường học, tôi luyện cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thời kỳ cách mạng bí mật, thời kỳ kháng chiến, có nhiều đồng chí hy sinh cực kỳ anh dũng. Có đồng chí phải xa nhà xa cửa, xa vợ xa con, bị địch bắt, ít ra cũng bị tù đày, thường bị xử tử là khác. Có đồng chí theo đuổi cách mạng hoạt động từ đầu đến cuối, khi Đảng giao việc gì, bảo việc gì đều làm nấy, không kể sang hèn, địa vị cao thấp; không có việc gì khó Đảng giao mà không làm. Đó là những anh hùng… Có đồng chí từ năm 1930 đến nay vẫn cứ đeo đuổi cách mạng, không đòi hỏi gì cho gia đình và cho cá nhân cả. Đó là những người con ưu tú của Đảng, của cách mạng”(20). Có thể nói, thế hệ lãnh đạo thời kỳ hoạt động bí mật được trui rèn, sàng lọc qua thực tiễn đấu tranh cách mạng đầy khắc nghiệt, đã lựa chọn được những cán bộ bản lĩnh, can trường, hội đủ năng lực, tố chất, phẩm chất để gánh vác sự nghiệp giải phóng dân tộc
Thứ hai, thế hệ lãnh đạo khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc (1945 - 1975).
Thời kỳ này vẫn do thế hệ lãnh đạo thứ nhất đảm nhiệm, tiếp nối những nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng trước, nhưng trong điều kiện đã có chính quyền và phải tiến hành chiến tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Đảng trở thành đảng cầm quyền, nên cán bộ lãnh đạo bao gồm cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Phương thức lựa chọn thế hệ cán bộ lãnh đạo thời kỳ này dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng vận dụng vào hoàn cảnh chiến tranh, bao gồm thông qua bầu cử trong Đảng và bầu cử của Nhà nước. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng ngày càng cơ bản hơn, bao gồm cả đào tạo trong nước và gửi đi đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa; rèn luyện qua thực tiễn được xem là thước đo quan trọng làm cơ sở cho sàng lọc và tuyển chọn cán bộ. Đánh giá cán bộ để tuyển chọn vẫn chủ yếu là qua năng lực thực tế, chưa bị tiêu chuẩn bằng cấp giới hạn. Có thể khẳng định, việc chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, đã giành được chính quyền, bắt đầu đặt nền móng cho định hình đội ngũ cán bộ lãnh đạo của cả hệ thống chính trị, hình thành nên một thế hệ lãnh đạo đủ năng lực, phẩm chất để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi trên cả hai miền Nam - Bắc, được nhân dân tin yêu, khẳng định dấu ấn lãnh đạo của Đảng trong lòng dân tộc.
Thứ ba, thế hệ lãnh đạo thời kỳ từ khi đất nước thống nhất đến trước đổi mới (1975 - 1986).
Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài tới 30 năm, hầu hết những nhà lãnh đạo cao cấp đều là những chiến sĩ cách mạng trưởng thành, trải qua một quá trình đấu tranh gian khổ, phức tạp, lâu dài. Đất nước hòa bình, thống nhất, non sông liền một dải, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thế hệ lãnh đạo bao gồm cán bộ trưởng thành từ chiến trường và một số được đào tạo cơ bản, có bằng cấp, học hàm, học vị, nhưng chủ yếu vẫn là thế hệ cán bộ trưởng thành từ 2 cuộc kháng chiến. Thế hệ lãnh đạo trưởng thành từ chiến tranh có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhưng lại thiếu kiến thức và kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kinh tế. Điều này để lại bài học lớn trong công tác cán bộ về sự kết hợp, gối đầu giữa các thế hệ lãnh đạo, giữa các nguồn cán bộ không chỉ về độ tuổi mà cả về chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn.
Thứ tư, thế hệ lãnh đạo thời kỳ đổi mới đến nay.
Bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng ta nhận thức rằng không xây dựng tiêu chuẩn cán bộ cụ thể sẽ thiếu cơ sở cho đào tạo, tuyển chọn, đánh giá, bố trí, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; không tạo được một đội ngũ lãnh đạo, quản lý kế cận đủ sức, đủ tài, ngang tầm nhiệm vụ để chuyển giao nhiệm vụ cách mạng. Đại hội VI xác định đổi mới cán bộ lãnh đạo là mắt xích quan trọng nhất, “then chốt của then chốt” và cần phải “xác định tiêu chuẩn cụ thể” làm cơ sở cho đánh giá, sắp xếp, kiện toàn các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị, các chức vụ chủ chốt; đào tạo, bồi dưỡng để cán bộ có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm vụ. Phải lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực, lấy nhu cầu nhiệm vụ làm căn cứ để bố trí cán bộ, chuyển giao nhiệm vụ. Đại hội VII của Đảng và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đều nhấn mạnh, phải sớm xây dựng tiêu chuẩn cán bộ. Tuy vậy, phải đến Đại hội VIII mới xác định cụ thể hơn các tiêu chuẩn của cán bộ, được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đây là lần đầu tiên Đảng ta đề ra các tiêu chuẩn cán bộ từ tiêu chuẩn chung đến tiêu chuẩn riêng đối với cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân. Tiếp sau đó là các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương từ khóa IX đến khóa XIII được ban hành về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; phân cấp quản lý cán bộ; quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử; công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; tập trung xây dựng đội ngũ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung… là hệ thống những định hướng, căn cứ, giải pháp căn cơ đối với công tác cán bộ, qua đó thúc đẩy sự phát triển đất nước(21).
Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, việc chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo được thực hiện một cách chủ động, bài bản, nhằm giữ được sự kế thừa, ổn định, phát triển. Đó là sự chuyển tiếp được chuẩn bị từ sớm, bài bản, công phu, lựa chọn được đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược, thực sự có tố chất, có tâm, có tầm, có bản lĩnh, vì lợi ích của quốc gia. Đó là sự chuyển tiếp chủ động, mang tính kế thừa, bảo đảm ổn định và phát triển, không chỉ là chuyển tiếp quyền lực chính trị đơn thuần mà còn là sự gửi gắm niềm tin và khát vọng cống hiến của thế hệ đi trước cho thế hệ sau, là chuyển tiếp mục tiêu, lý tưởng, cách thức, con đường đi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, đội ngũ cán bộ các cấp ở nước ta có bước trưởng thành, phát triển về mọi mặt. “Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt” có nhiều đổi mới, đạt một số kết quả quan trọng. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng”(22). Công tác chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo đã có một số tìm tòi, cải tiến, đổi mới quy trình, nội dung, phương thức. Đó là chuyển tiếp mục tiêu, lý tưởng, khát vọng chung gắn với chuyển giao những nhiệm vụ cụ thể. Chuyển tiếp mang tính kế thừa, ổn định, phát triển. Chuyển tiếp một cách chủ động giữa bên chuyển tiếp và bên nhận chuyển tiếp. Thực hiện chặt chẽ quy trình, hướng dẫn của Đảng về công tác cán bộ trước các kỳ đại hội đảng bộ các cấp và toàn quốc. Theo đó, Đảng ta đã ban hành và thực hiện các quy trình quy hoạch, thi tuyển, bổ nhiệm, luân chuyển, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ đạt được một số kết quả nhất định. Tiêu chuẩn cán bộ, lãnh đạo, quản lý được xây dựng ngày càng cụ thể hơn, kể cả đối với cán bộ cấp chiến lược. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngày càng hoàn thiện các loại hình, phương thức, cách làm bài bản, nhất là mở các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp, bồi dưỡng cán bộ dự nguồn cấp tỉnh. “Tính từ đầu nhiệm kỳ đến ngày 3-9-2020, Trung ương đã tổ chức 3 lớp cập nhật kiến thức mới cho các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, 5 lớp bồi dưỡng cho 222 đồng chí diện quy hoạch cán bộ cấp chiến lược khóa XIII và có nhiều đổi mới so với nhiệm kỳ trước; tổ chức 258 đoàn với 5.570 cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài”(23). Đội ngũ cán bộ ngày càng năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác chuyển tiếp, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ lãnh đạo còn không ít hạn chế, lúng túng, chưa thực sự có đột phá. “Việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm, có nội dung chưa thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước và quy định của Đảng; chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc”(24). Chưa có cơ chế cụ thể, chính sách thu hút người tài trong Đảng và người tài ngoài Đảng. Tình trạng dân chủ hình thức hoặc hình thức hóa các quy trình trong công tác cán bộ vẫn còn tồn tại ở một số đơn vị, địa phương...
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ lãnh đạo
Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm rất lớn đến việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, chuyển tiếp các thế hệ lãnh đạo, để bảo đảm luôn có đội ngũ cán bộ lãnh đạo đủ tài, đủ đức hoàn thành tốt các nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn; vì lợi ích lâu dài của cách mạng, vì sự trường tồn của Đảng, của chế độ và của dân tộc. Thấu hiểu quy luật tự nhiên, xã hội và toàn cục cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ việc chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo là một quy luật tất yếu “tre già măng mọc”. “Trong lãnh đạo cần có già, có trẻ. Công việc ngày càng mới. Càng về sau này, càng nhiều cái mới, càng ít cái cũ. Con người ta đẻ ra, ai cũng lớn lên, già đi, rồi chết”(2). Bởi vì, “công việc ngày càng nhiều, càng mới”(3), cho nên, Người khuyên các cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm rằng: “Đảng nói: Cần cán bộ già, đồng thời rất cần nhiều cán bộ trẻ. Các đồng chí già đánh Tây. Đánh Tây là dọn đường. Nhưng không thể nạnh kẹ: Chúng tôi vác cuốc, vác cào làm đường, già rồi mà chưa được đi xe, các anh mới lớn lên đã được đi xe. Thế là nạnh người đi xe. Có đúng không? Sau này đến chủ nghĩa cộng sản, bọn trẻ còn đi xe sướng hơn nữa kia. Già có việc già, trẻ có việc trẻ. Tục ngữ có câu: “Măng mọc quá pheo”. Măng mọc sau, mà tốt hơn tre đấy. Không lẽ ta ngồi nói: “Măng, sao mày mọc quá tao?”… Một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học”(4).

Thế hệ cán bộ, đảng viên già là tấm gương về công tác và lối sống, tích lũy được nhiều kinh nghiệm nên cần phải có trách nhiệm dìu dắt, đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ độ lượng đối với cán bộ, đảng viên trẻ. Đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đảng viên, là tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Người nhấn mạnh: “Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ”(5). Mặt khác, không phải cái gì thế hệ già cũng giỏi hơn thế hệ trẻ mà ngược lại, có nhiều cái thế hệ trẻ phải giỏi hơn thì mới đúng quy luật. Bác nói: “Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ, kể cả ở Liên Xô, Trung Quốc thì chúng mình dốt lắm… Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt. Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Ta hiểu như thế, nhưng không có tư tưởng thụt lùi, nạnh kẹ: Tao làm cách mạng già đời không được gì. Nó mới vào mà Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Chủ nhiệm, v.v..”(6) . Bởi vì “Đảng rất quý, rất trọng các đồng chí già, nhưng Đảng cũng rất cần nhiều cán bộ trẻ để làm những việc mà đảng viên già không làm được”(7). Bác cũng phê phán bệnh công thần ở một số cán bộ lãnh đạo “cho rằng không ai giỏi bằng ta, không ai làm bằng ta”(8). “Cũng có một số đồng chí hoạt động không tích cực, nói mình già, yếu, mệt, nhưng lại trách Đảng, trách nhân dân, trách phong trào sao lại không đưa mình lên. Cái đó là không nên. Đó là mắc bệnh công thần. Mình mới làm nên một chút đã cho bằng trời rồi”(9). Để rồi “Đảng không đưa mình lên thì mình tìm cách dìm đảng viên trẻ mới đề bạt lên”(10). Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra hiện tượng: “Lối làm việc trong Đảng hiện nay mắc hai khuyết điểm: Cán bộ cũ làm việc theo lối thủ công nghiệp. Cán bộ mới làm việc theo lối khoa học nhưng lại quá trớn, không hợp với hoàn cảnh kháng chiến”(11). Người đã chỉ ra phương hướng khắc phục vấn đề khác biệt giữa các thế hệ cán bộ (khi ấy được gọi là cán bộ cũ, cán bộ mới hoặc cán bộ già, cán bộ trẻ) là: “Phải sửa chữa lối làm việc cho hợp lý, vừa với điều kiện của ta, đừng phạm vào hình thức, máy móc”(12).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, việc đào tạo một đội ngũ cán bộ có đủ tài, đức là một công việc công phu, lâu dài. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(13). Cần đào tạo họ thành những người tiếp tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bởi vì Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, cho nên cả hệ thống chính trị cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận một cách bài bản, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với năng lực, sở trường của mỗi cán bộ. Do đó, các thế hệ cán bộ và nhất là cán bộ cao tuổi cần nêu cao tinh thần cách mạng. Cán bộ già cần “Đào tạo thanh niên cho họ làm việc hơn mình, không nên nạnh kẹ. Mặt khác, thanh niên phải biết công lao các đồng chí già, phải thấy các đồng chí già đã trải qua phong ba bão táp, có kinh nghiệm, thanh niên phải học tập. Có số thanh niên tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay là trên trời rơi xuống, không biết sự gian nan, cực khổ cũ. Các đồng chí già phải kể lại cho họ nghe. Đó là một cách giáo dục thanh niên. Cố gắng mà dìu dắt thanh niên”(14). Bởi vì: “Có người nay còn lãnh đạo đó, nhưng sau này tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm… chớ không phải như ngày xưa mà tưởng rằng: “Sống lâu lên lão làng”(15).
Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận hiện nay, phải chú trọng đến tinh thần cách mạng, phẩm chất đạo đức chí công vô tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có đồng chí nói thế này: đưa lớp trẻ vào mới làm được việc. Nhưng thâm tâm lại mong muốn là con cháu của mình kia. Con cháu mình là ai? Con cháu mình là tất cả, là thanh niên Việt Nam. Chứ không phải như thời phong kiến: cha làm quan, con là cậu ấm. Con mình xấu thì đề bạt sao được. Đảng là Đảng của giai cấp, của nhân dân, của thế giới, chứ không riêng cho con cháu mình”(16). Bởi vì, “Không phải hễ cứ bố là cán bộ thì con là “cậu ấm”. Bố có việc của bố, con có việc của con. Cố nhiên, con của những đồng chí đã mất đi, Đảng phải lo. Nhưng nếu bố mẹ nó đang còn, nó xấu, mà đòi hỏi đặc biệt chú ý, thì chú ý cái gì?”(17). Đồng thời, Người nhấn mạnh: “Nhưng bất kỳ ai, có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phải dùng. Thí dụ: giữa hai đứa con của người trong Đảng và người ngoài Đảng, con của đồng chí mình thì kém, dốt hơn, con của người ngoài Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn. Vậy thì ta nên đưa ai đi? Con của người ngoài Đảng hay con của người trong Đảng? Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết. Đảng lo việc cho cả nước. Đó là chính sách cán bộ”(18).
Để xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp đủ đức, đủ tài, ngang tầm nhiệm vụ, các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ: “Mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi. Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gụi những người mình không ưa. Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt. Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gụi mình”(19).
Có thể khẳng định, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo là sự kết hợp và kế thừa tinh hoa "nghệ thuật" dùng người của cả hai nền văn hóa Đông, Tây và phát triển lên một tầm cao mới, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ lãnh đạo và việc vận dụng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam
Công việc bồi dưỡng, lựa chọn và chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ lãnh đạo ở bất cứ thời đại nào, thể chế chính trị nào cũng đều có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự thịnh suy của một quốc gia, dân tộc. Thực tiễn chứng minh, lựa chọn cán bộ lãnh đạo đúng đắn thì quốc gia đó phát triển, thịnh vượng, ngược lại, nếu lựa chọn sai lầm thì phải trả giá rất đắt, thậm chí là sụp đổ cả một thể chế chính trị và phải mất rất nhiều thời gian sau đó để sửa chữa. Vì thế, trong từng giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng, lựa chọn, chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ lãnh đạo với những tiêu chuẩn cụ thể, bảo đảm đất nước luôn phát triển đi lên.

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo để tạo nên một thế hệ lãnh đạo và việc chuyển giao giữa các thế hệ lãnh đạo là quy luật tất yếu của tất cả các đảng cầm quyền trên thế giới. Ở các thể chế chính trị khác nhau thì mục tiêu, phương thức, tiêu chuẩn, cách thức tiến hành chuyển giao thế hệ lãnh đạo sẽ khác nhau. Trải qua hơn 91 năm lãnh đạo, trong đó có hơn 76 năm cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng, lựa chọn đội ngũ lãnh đạo, chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo theo hướng bảo đảm sự kế thừa và phát triển, để luôn có đội ngũ cán bộ kế tiếp đủ tâm, đủ tầm gánh vác sứ mệnh lịch sử mà nhân dân giao phó. Đó không chỉ là sự chuyển tiếp đơn thuần về độ tuổi mà là sự chuyển tiếp tầm nhìn, mục tiêu, khát vọng, nhiệm vụ cách mạng của thế hệ trước cho thế hệ sau. Đó còn là sự gửi gắm niềm tin, khát vọng vào tương lai của dân tộc. Nhiều tầm nhìn, khát vọng kéo dài mấy chục năm hoặc hàng trăm năm mới trở thành hiện thực. Vì vậy, chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo là một quá trình cần sự ổn định, lâu dài, biết kế thừa, xây đắp những truyền thống, kinh nghiệm, tinh hoa của thế hệ lãnh đạo đi trước cùng với sự sáng tạo, linh hoạt, sức bật của thế hệ đi sau trong bối cảnh mới, bảo đảm sự ổn định chính trị và phát triển bền vững đất nước. Lựa chọn và chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo cao cấp đủ tầm, đủ tâm trong điều kiện một đảng cầm quyền đóng vai trò quyết định đối với duy trì chế độ chính trị ổn định và phát triển, bảo đảm đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, trên dưới đồng thuận, nhân dân tin tưởng. Đó là điều mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.
Qua các thời kỳ cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, quyết định, quy định, kết luận quan trọng liên quan đến vấn đề cán bộ nói chung và vấn đề cán bộ, công tác cán bộ cấp cao của đất nước, của một số ngành, cơ quan, lĩnh vực cụ thể nói riêng. Mỗi một thế hệ lãnh đạo thường mang những dấu ấn của điều kiện lịch sử cụ thể với phương thức, tố chất, điều kiện, phong cách lãnh đạo khác nhau. Sự chuyển tiếp giữa thế hệ lãnh đạo này sang thế hệ lãnh đạo khác là một đòi hỏi khách quan. Hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối, các giải pháp về công tác cán bộ và các khâu: đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ, luôn được đổi mới về nội dung, phương pháp và cách làm. Trên thực tế đã xuất hiện nhiều thế hệ lãnh đạo ưu tú, dẫn dắt nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đó là sự chuyển tiếp từ thế hệ lãnh đạo trưởng thành, tôi luyện từ thực tiễn đấu tranh gian khổ, không tiếc máu xương để giành độc lập cho dân tộc; “lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong những năm tháng kháng chiến, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau”(1).





