Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt coi trọng việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và chuyển tiếp các thế hệ lãnh đạo. Thực tiễn đấu tranh cách mạng đầy gian khổ trước đây cũng như thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay với những mục tiêu lớn, nhiệm vụ nặng nề là “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, thước đo chính xác nhất, cụ thể nhất để đánh giá, sàng lọc, thay thế kịp thời hoặc tuyển chọn người lãnh đạo. Mỗi thế hệ lãnh đạo có những tiêu chuẩn, nguyên tắc lựa chọn, mang dấu ấn riêng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Thứ nhất, thế hệ lãnh đạo thời kỳ hoạt động bí mật, đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945).
Đây là thế hệ lãnh đạo đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp hoặc gián tiếp tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, dìu dắt. Thế hệ lãnh đạo này được lựa chọn từ phong trào yêu nước những người ưu tú để đào tạo, bồi dưỡng từ chủ nghĩa yêu nước đến lập trường chủ nghĩa cộng sản thông qua các lớp học do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức ở Quảng Châu, Trung Quốc hoặc gửi đi đào tạo ở Liên Xô. Tiêu chuẩn cơ bản của người lãnh đạo là “tư cách của người cách mệnh”, đó là lòng yêu nước, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các nguyên tắc của Đảng. Thành phần tuyển chọn bao gồm: Nhóm tinh hoa có trình độ học vấn nhất định, kể cả xuất thân từ địa chủ, tư sản, trí thức..., được đào tạo, bồi dưỡng lập trường giai cấp công nhân, thông qua rèn luyện thực tiễn để thử thách và trưởng thành; những người xuất thân từ công nhân, nông dân, người lao động được đào tạo, bồi dưỡng, thử thách qua thực tiễn cách mạng trở thành lãnh đạo. Môi trường thử thách, rèn luyện, đào thải và lựa chọn cán bộ chính là thực tiễn cách mạng khắc nghiệt; là năng lực hoạt động bí mật, đấu tranh cách mạng khôn ngoan để vượt qua mọi thủ đoạn đàn áp, khủng bố tàn bạo, nham hiểm của kẻ thù, nhờ đó duy trì sự sống còn của tổ chức đảng; là khả năng biến nhà tù thành trường học, tôi luyện cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thời kỳ cách mạng bí mật, thời kỳ kháng chiến, có nhiều đồng chí hy sinh cực kỳ anh dũng. Có đồng chí phải xa nhà xa cửa, xa vợ xa con, bị địch bắt, ít ra cũng bị tù đày, thường bị xử tử là khác. Có đồng chí theo đuổi cách mạng hoạt động từ đầu đến cuối, khi Đảng giao việc gì, bảo việc gì đều làm nấy, không kể sang hèn, địa vị cao thấp; không có việc gì khó Đảng giao mà không làm. Đó là những anh hùng… Có đồng chí từ năm 1930 đến nay vẫn cứ đeo đuổi cách mạng, không đòi hỏi gì cho gia đình và cho cá nhân cả. Đó là những người con ưu tú của Đảng, của cách mạng”(20). Có thể nói, thế hệ lãnh đạo thời kỳ hoạt động bí mật được trui rèn, sàng lọc qua thực tiễn đấu tranh cách mạng đầy khắc nghiệt, đã lựa chọn được những cán bộ bản lĩnh, can trường, hội đủ năng lực, tố chất, phẩm chất để gánh vác sự nghiệp giải phóng dân tộc
Thứ hai, thế hệ lãnh đạo khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc (1945 - 1975).
Thời kỳ này vẫn do thế hệ lãnh đạo thứ nhất đảm nhiệm, tiếp nối những nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng trước, nhưng trong điều kiện đã có chính quyền và phải tiến hành chiến tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Đảng trở thành đảng cầm quyền, nên cán bộ lãnh đạo bao gồm cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Phương thức lựa chọn thế hệ cán bộ lãnh đạo thời kỳ này dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng vận dụng vào hoàn cảnh chiến tranh, bao gồm thông qua bầu cử trong Đảng và bầu cử của Nhà nước. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng ngày càng cơ bản hơn, bao gồm cả đào tạo trong nước và gửi đi đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa; rèn luyện qua thực tiễn được xem là thước đo quan trọng làm cơ sở cho sàng lọc và tuyển chọn cán bộ. Đánh giá cán bộ để tuyển chọn vẫn chủ yếu là qua năng lực thực tế, chưa bị tiêu chuẩn bằng cấp giới hạn. Có thể khẳng định, việc chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, đã giành được chính quyền, bắt đầu đặt nền móng cho định hình đội ngũ cán bộ lãnh đạo của cả hệ thống chính trị, hình thành nên một thế hệ lãnh đạo đủ năng lực, phẩm chất để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thắng lợi trên cả hai miền Nam - Bắc, được nhân dân tin yêu, khẳng định dấu ấn lãnh đạo của Đảng trong lòng dân tộc.
Thứ ba, thế hệ lãnh đạo thời kỳ từ khi đất nước thống nhất đến trước đổi mới (1975 - 1986).
Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài tới 30 năm, hầu hết những nhà lãnh đạo cao cấp đều là những chiến sĩ cách mạng trưởng thành, trải qua một quá trình đấu tranh gian khổ, phức tạp, lâu dài. Đất nước hòa bình, thống nhất, non sông liền một dải, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thế hệ lãnh đạo bao gồm cán bộ trưởng thành từ chiến trường và một số được đào tạo cơ bản, có bằng cấp, học hàm, học vị, nhưng chủ yếu vẫn là thế hệ cán bộ trưởng thành từ 2 cuộc kháng chiến. Thế hệ lãnh đạo trưởng thành từ chiến tranh có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhưng lại thiếu kiến thức và kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực kinh tế. Điều này để lại bài học lớn trong công tác cán bộ về sự kết hợp, gối đầu giữa các thế hệ lãnh đạo, giữa các nguồn cán bộ không chỉ về độ tuổi mà cả về chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn.
Thứ tư, thế hệ lãnh đạo thời kỳ đổi mới đến nay.
Bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng ta nhận thức rằng không xây dựng tiêu chuẩn cán bộ cụ thể sẽ thiếu cơ sở cho đào tạo, tuyển chọn, đánh giá, bố trí, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; không tạo được một đội ngũ lãnh đạo, quản lý kế cận đủ sức, đủ tài, ngang tầm nhiệm vụ để chuyển giao nhiệm vụ cách mạng. Đại hội VI xác định đổi mới cán bộ lãnh đạo là mắt xích quan trọng nhất, “then chốt của then chốt” và cần phải “xác định tiêu chuẩn cụ thể” làm cơ sở cho đánh giá, sắp xếp, kiện toàn các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị, các chức vụ chủ chốt; đào tạo, bồi dưỡng để cán bộ có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm vụ. Phải lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực, lấy nhu cầu nhiệm vụ làm căn cứ để bố trí cán bộ, chuyển giao nhiệm vụ. Đại hội VII của Đảng và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đều nhấn mạnh, phải sớm xây dựng tiêu chuẩn cán bộ. Tuy vậy, phải đến Đại hội VIII mới xác định cụ thể hơn các tiêu chuẩn của cán bộ, được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đây là lần đầu tiên Đảng ta đề ra các tiêu chuẩn cán bộ từ tiêu chuẩn chung đến tiêu chuẩn riêng đối với cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân. Tiếp sau đó là các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương từ khóa IX đến khóa XIII được ban hành về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; phân cấp quản lý cán bộ; quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử; công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; tập trung xây dựng đội ngũ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung… là hệ thống những định hướng, căn cứ, giải pháp căn cơ đối với công tác cán bộ, qua đó thúc đẩy sự phát triển đất nước(21).
Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, việc chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo được thực hiện một cách chủ động, bài bản, nhằm giữ được sự kế thừa, ổn định, phát triển. Đó là sự chuyển tiếp được chuẩn bị từ sớm, bài bản, công phu, lựa chọn được đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược, thực sự có tố chất, có tâm, có tầm, có bản lĩnh, vì lợi ích của quốc gia. Đó là sự chuyển tiếp chủ động, mang tính kế thừa, bảo đảm ổn định và phát triển, không chỉ là chuyển tiếp quyền lực chính trị đơn thuần mà còn là sự gửi gắm niềm tin và khát vọng cống hiến của thế hệ đi trước cho thế hệ sau, là chuyển tiếp mục tiêu, lý tưởng, cách thức, con đường đi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, đội ngũ cán bộ các cấp ở nước ta có bước trưởng thành, phát triển về mọi mặt. “Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt” có nhiều đổi mới, đạt một số kết quả quan trọng. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng”(22). Công tác chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo đã có một số tìm tòi, cải tiến, đổi mới quy trình, nội dung, phương thức. Đó là chuyển tiếp mục tiêu, lý tưởng, khát vọng chung gắn với chuyển giao những nhiệm vụ cụ thể. Chuyển tiếp mang tính kế thừa, ổn định, phát triển. Chuyển tiếp một cách chủ động giữa bên chuyển tiếp và bên nhận chuyển tiếp. Thực hiện chặt chẽ quy trình, hướng dẫn của Đảng về công tác cán bộ trước các kỳ đại hội đảng bộ các cấp và toàn quốc. Theo đó, Đảng ta đã ban hành và thực hiện các quy trình quy hoạch, thi tuyển, bổ nhiệm, luân chuyển, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ đạt được một số kết quả nhất định. Tiêu chuẩn cán bộ, lãnh đạo, quản lý được xây dựng ngày càng cụ thể hơn, kể cả đối với cán bộ cấp chiến lược. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngày càng hoàn thiện các loại hình, phương thức, cách làm bài bản, nhất là mở các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp, bồi dưỡng cán bộ dự nguồn cấp tỉnh. “Tính từ đầu nhiệm kỳ đến ngày 3-9-2020, Trung ương đã tổ chức 3 lớp cập nhật kiến thức mới cho các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, 5 lớp bồi dưỡng cho 222 đồng chí diện quy hoạch cán bộ cấp chiến lược khóa XIII và có nhiều đổi mới so với nhiệm kỳ trước; tổ chức 258 đoàn với 5.570 cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài”(23). Đội ngũ cán bộ ngày càng năng động, sáng tạo, thích ứng với xu thế hội nhập, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác chuyển tiếp, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ lãnh đạo còn không ít hạn chế, lúng túng, chưa thực sự có đột phá. “Việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm, có nội dung chưa thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước và quy định của Đảng; chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc”(24). Chưa có cơ chế cụ thể, chính sách thu hút người tài trong Đảng và người tài ngoài Đảng. Tình trạng dân chủ hình thức hoặc hình thức hóa các quy trình trong công tác cán bộ vẫn còn tồn tại ở một số đơn vị, địa phương...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét