Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm rất lớn đến việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, chuyển tiếp các thế hệ lãnh đạo, để bảo đảm luôn có đội ngũ cán bộ lãnh đạo đủ tài, đủ đức hoàn thành tốt các nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn; vì lợi ích lâu dài của cách mạng, vì sự trường tồn của Đảng, của chế độ và của dân tộc. Thấu hiểu quy luật tự nhiên, xã hội và toàn cục cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ việc chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo là một quy luật tất yếu “tre già măng mọc”. “Trong lãnh đạo cần có già, có trẻ. Công việc ngày càng mới. Càng về sau này, càng nhiều cái mới, càng ít cái cũ. Con người ta đẻ ra, ai cũng lớn lên, già đi, rồi chết”(2). Bởi vì, “công việc ngày càng nhiều, càng mới”(3), cho nên, Người khuyên các cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm rằng: “Đảng nói: Cần cán bộ già, đồng thời rất cần nhiều cán bộ trẻ. Các đồng chí già đánh Tây. Đánh Tây là dọn đường. Nhưng không thể nạnh kẹ: Chúng tôi vác cuốc, vác cào làm đường, già rồi mà chưa được đi xe, các anh mới lớn lên đã được đi xe. Thế là nạnh người đi xe. Có đúng không? Sau này đến chủ nghĩa cộng sản, bọn trẻ còn đi xe sướng hơn nữa kia. Già có việc già, trẻ có việc trẻ. Tục ngữ có câu: “Măng mọc quá pheo”. Măng mọc sau, mà tốt hơn tre đấy. Không lẽ ta ngồi nói: “Măng, sao mày mọc quá tao?”… Một mặt, Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học”(4).

Thế hệ cán bộ, đảng viên già là tấm gương về công tác và lối sống, tích lũy được nhiều kinh nghiệm nên cần phải có trách nhiệm dìu dắt, đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ độ lượng đối với cán bộ, đảng viên trẻ. Đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đảng viên, là tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Người nhấn mạnh: “Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ”(5). Mặt khác, không phải cái gì thế hệ già cũng giỏi hơn thế hệ trẻ mà ngược lại, có nhiều cái thế hệ trẻ phải giỏi hơn thì mới đúng quy luật. Bác nói: “Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ, kể cả ở Liên Xô, Trung Quốc thì chúng mình dốt lắm… Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt. Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Ta hiểu như thế, nhưng không có tư tưởng thụt lùi, nạnh kẹ: Tao làm cách mạng già đời không được gì. Nó mới vào mà Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Chủ nhiệm, v.v..”(6) . Bởi vì “Đảng rất quý, rất trọng các đồng chí già, nhưng Đảng cũng rất cần nhiều cán bộ trẻ để làm những việc mà đảng viên già không làm được”(7). Bác cũng phê phán bệnh công thần ở một số cán bộ lãnh đạo “cho rằng không ai giỏi bằng ta, không ai làm bằng ta”(8). “Cũng có một số đồng chí hoạt động không tích cực, nói mình già, yếu, mệt, nhưng lại trách Đảng, trách nhân dân, trách phong trào sao lại không đưa mình lên. Cái đó là không nên. Đó là mắc bệnh công thần. Mình mới làm nên một chút đã cho bằng trời rồi”(9). Để rồi “Đảng không đưa mình lên thì mình tìm cách dìm đảng viên trẻ mới đề bạt lên”(10). Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra hiện tượng: “Lối làm việc trong Đảng hiện nay mắc hai khuyết điểm: Cán bộ cũ làm việc theo lối thủ công nghiệp. Cán bộ mới làm việc theo lối khoa học nhưng lại quá trớn, không hợp với hoàn cảnh kháng chiến”(11). Người đã chỉ ra phương hướng khắc phục vấn đề khác biệt giữa các thế hệ cán bộ (khi ấy được gọi là cán bộ cũ, cán bộ mới hoặc cán bộ già, cán bộ trẻ) là: “Phải sửa chữa lối làm việc cho hợp lý, vừa với điều kiện của ta, đừng phạm vào hình thức, máy móc”(12).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, việc đào tạo một đội ngũ cán bộ có đủ tài, đức là một công việc công phu, lâu dài. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(13). Cần đào tạo họ thành những người tiếp tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bởi vì Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, cho nên cả hệ thống chính trị cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận một cách bài bản, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với năng lực, sở trường của mỗi cán bộ. Do đó, các thế hệ cán bộ và nhất là cán bộ cao tuổi cần nêu cao tinh thần cách mạng. Cán bộ già cần “Đào tạo thanh niên cho họ làm việc hơn mình, không nên nạnh kẹ. Mặt khác, thanh niên phải biết công lao các đồng chí già, phải thấy các đồng chí già đã trải qua phong ba bão táp, có kinh nghiệm, thanh niên phải học tập. Có số thanh niên tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay là trên trời rơi xuống, không biết sự gian nan, cực khổ cũ. Các đồng chí già phải kể lại cho họ nghe. Đó là một cách giáo dục thanh niên. Cố gắng mà dìu dắt thanh niên”(14). Bởi vì: “Có người nay còn lãnh đạo đó, nhưng sau này tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm… chớ không phải như ngày xưa mà tưởng rằng: “Sống lâu lên lão làng”(15).
Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận hiện nay, phải chú trọng đến tinh thần cách mạng, phẩm chất đạo đức chí công vô tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có đồng chí nói thế này: đưa lớp trẻ vào mới làm được việc. Nhưng thâm tâm lại mong muốn là con cháu của mình kia. Con cháu mình là ai? Con cháu mình là tất cả, là thanh niên Việt Nam. Chứ không phải như thời phong kiến: cha làm quan, con là cậu ấm. Con mình xấu thì đề bạt sao được. Đảng là Đảng của giai cấp, của nhân dân, của thế giới, chứ không riêng cho con cháu mình”(16). Bởi vì, “Không phải hễ cứ bố là cán bộ thì con là “cậu ấm”. Bố có việc của bố, con có việc của con. Cố nhiên, con của những đồng chí đã mất đi, Đảng phải lo. Nhưng nếu bố mẹ nó đang còn, nó xấu, mà đòi hỏi đặc biệt chú ý, thì chú ý cái gì?”(17). Đồng thời, Người nhấn mạnh: “Nhưng bất kỳ ai, có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phải dùng. Thí dụ: giữa hai đứa con của người trong Đảng và người ngoài Đảng, con của đồng chí mình thì kém, dốt hơn, con của người ngoài Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn. Vậy thì ta nên đưa ai đi? Con của người ngoài Đảng hay con của người trong Đảng? Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết. Đảng lo việc cho cả nước. Đó là chính sách cán bộ”(18).
Để xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp đủ đức, đủ tài, ngang tầm nhiệm vụ, các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ: “Mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi. Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gụi những người mình không ưa. Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ. Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt. Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gụi mình”(19).
Có thể khẳng định, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo là sự kết hợp và kế thừa tinh hoa "nghệ thuật" dùng người của cả hai nền văn hóa Đông, Tây và phát triển lên một tầm cao mới, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét