Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2024

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời và việc vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay



Việc thường xuyên học tập để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với người cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời vẫn còn vẹn nguyên giá trị và là kim chỉ nam cho mỗi cá nhân, đơn vị thường xuyên thực hiện để không ngừng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao tặng bò cho người dân nghèo, có hoàn cảnh khó khăn tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế_Ảnh: TTXVN

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời đối với người cán bộ cách mạng

Học tập là nhiệm vụ quan trọng của mỗi người cán bộ cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, muốn xây dựng được chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là, xã hội mới cần phải có những cán bộ với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và trực tiếp thực thi các khâu trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó có cả việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng những con người xã hội chủ nghĩa.

Vì thế, với người cán bộ cách mạng, yêu cầu trước hết là học để “làm người”, “làm việc” và sau đó mới để “làm cán bộ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra lời khuyên này cho mỗi cán bộ cách mạng vào tháng 9-1949, nhân dịp Người đến dự lễ khai giảng khóa đào tạo của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Đây chính là yêu cầu đối với người cán bộ cách mạng. Nó chỉ rõ sự khác biệt cơ bản về mục đích của việc học trong chế độ cũ và chế độ mới. Trong khi dưới chế độ cũ, đi học là đặc quyền của một số người và học là để “vinh thân, phì gia” - đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình; thì dưới chế độ mới, đi học là quyền lợi của toàn dân; học là để phụng sự, để cống hiến cho Tổ quốc, cho dân tộc.

Người cán bộ cách mạng đi học để làm sao trở thành những “công bộc” của nhân dân mới đúng nghĩa “làm người”, có nghĩa là gột rửa hết được những tàn dư do xã hội cũ để lại. Điều này rất quan trọng, bởi nếu vẫn còn chịu tác động bởi lối suy nghĩ của xã hội cũ thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, nặng nề đến hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng xã hội mới. Học để làm việc có nghĩa là học làm sao để có thể hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó. Muốn làm cán bộ thì bắt buộc phải học tập, không chỉ học về kiến thức, mà quan trọng hơn cả là học về tư cách người cán bộ cách mạng, để làm sao “phụng sự Đoàn thể,/ phụng sự giai cấp và nhân dân,/ phụng sự Tổ quốc và nhân loại” một cách tốt nhất.

Việc “tự học” đối với người cán bộ

Một mặt, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đa dạng và ngày càng nặng nề của sự nghiệp cách mạng, mỗi người cán bộ phải hiểu rõ mình còn thiếu kiến thức gì trong khi thực hiện nhiệm vụ, để bổ sung kịp thời; mặt khác, vì đòi hỏi của thực tế công việc, nên không phải bất cứ lúc nào người cán bộ có nhu cầu học tập cũng có thể tham gia những lớp học bổ sung kiến thức do đoàn thể đứng ra tổ chức. Vì vậy, phải “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”. Ngoài cách truyền thống theo học trường lớp bài bản, chính quy, người cán bộ còn rất nhiều cách học vừa phù hợp với hoàn cảnh cá nhân và thực tiễn cách mạng phong phú, vừa đáp ứng đòi hỏi và nhu cầu chính đáng là thu nhận kiến thức cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chính trị ngày càng tốt hơn. Đó chính là, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dânHọc ở sách vở là cách tự học phổ biến nhất, giải quyết được khó khăn về thời gian của người học, khi không có điều kiện đến trường lớp chính quy. Yêu cầu cao nhất của người tự học chính là cách thức học sao cho có hiệu quả thiết thực, cùng với sự đòi hỏi cao về nghị lực. Người cán bộ có thể giúp cho quá trình tự học của đồng nghiệp, người khác có kết quả, bằng cách “tùy theo hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác, để cho họ phát triển năng lực và sáng kiến của họ, đúng với đường lối của Đảng”. Đây chính là cách học từ công việc hằng ngày, học bằng cách tìm tòi kiến thức xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ thường xuyên.

Học lẫn nhau là sự học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân có cùng chung mục đích học tập, có sự liên quan với nhau về kiến thức... Việc học hỏi lẫn nhau đòi hỏi cao về đức tính khiêm tốn, ham học hỏi của cá nhân người tự học. Phải có đức tính khiêm tốn thì mới thấy mình còn thiếu điều gì so với đồng nghiệp, để thực tâm mong học hỏi; đồng thời, cũng phải có sự ham học hỏi cao mới có thể giúp người học dẹp bỏ được tự ái cá nhân để thu nhận kiến thức từ đồng nghiệp. Vì thế, khi thành tâm học lẫn nhau, người cán bộ không những tu dưỡng, rèn luyện có hiệu quả đạo đức cách mạng là khiêm tốn, ham học hỏi, cầu thị trong công việc, hạn chế nguy cơ nảy sinh căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, mà còn thắt chặt tình đoàn kết trong tập thể - yếu tố quan trọng tạo thành sức mạnh để hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh, với người tự học nói riêng, người cán bộ cách mạng nói chung không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn. Nói về vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng vô sản, V.I. Lê-nin đã khẳng định, so với quảng đại quần chúng nhân dân, những người cộng sản chỉ là giọt nước trong đại dương mênh mông. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, nhân dân biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra. Theo Người, việc tự học của người cán bộ cách mạng muốn thu được kết quả tốt, không thể tách rời thực tiễn phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân. Chính trong phong trào đó, nhờ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, người cán bộ cách mạng mới học hỏi được những kiến thức mà chưa có bất cứ nhà trường nào truyền dạy; học hỏi nhân dân từ những vấn đề thực tế hằng ngày, từ đó đúc kết thành những tri thức lý luận để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Vì thế, muốn tự học có kết quả, người cán bộ phải gắn bó mật thiết với nhân dân, thực tâm không ngừng học hỏi nhân dân.

Việc “thực học” đối với người cán bộ

Mục đích học tập của người cán bộ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là để phụng sự Đoàn thể,/ phụng sự giai cấp và nhân dân,/ phụng sự Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta không biết, thì chúng ta phải học, chúng ta không có quyền giấu dốt. Chúng ta phải học cho kỳ được, vì... chúng ta phải thực hiện dân chủ mới để chuẩn bị đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Những công việc thiết thực đó, không phải chỉ chính trị suông mà làm được”. Vì thế, theo Người, mỗi đảng viên phải nắm vững, học thạo một nghề chuyên môn, thuộc mọi ngành, nghề trong xã hội, để có thể lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện công việc trên mọi lĩnh vực, theo sự phân công của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích. Vì vậy huấn luyện phải thiết thực, sao cho... về địa phương họ có thể thực hành ngay”. Muốn thực học có kết quả, Người yêu cầu người học “phải hiểu, phải nhớ, phải thực hành” những điều mình học. Người cũng phê bình cán bộ mắc “bệnh lý luận suông”, đó là những người thuộc nhiều sách vở, nói chuyện lúc nào cũng dẫn sách nọ, quyển kia, nhưng lại kém trong giải quyết công việc thực tế. Đòi hỏi của người cán bộ cách mạng là không chỉ biết nhiều kiến thức, mà còn phải biết “ra sức thực hành mới thành người biết lý luận”. Kết luận lại, Người yêu cầu cán bộ cách mạng “phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”.

“Học tập suốt đời” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Học tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là thể hiện thái độ trách nhiệm của tổ chức đảng, cấp ủy các cấp cũng như của mỗi đảng viên đối với việc học tập. Lúc này, học tập là nhiệm vụ của người cách mạng chứ không phải là quyền lợi và sở thích cá nhân nữa. Có nghĩa là, học để phục vụ sự nghiệp cách mạng nên trở thành nhiệm vụ; đồng thời, sự nghiệp đó là vô cùng lâu dài, gian khổ, nên học tập cũng là trách nhiệm phải thực hiện suốt cuộc đời của người cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao.

Đối với một số hạn chế, yếu kém trong thực hiện trách nhiệm này, về phía tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thế mà cứ kêu là thiếu cán bộ. Vì sao? Vì việc huấn luyện còn hữu danh vô thực, làm chỉ cốt nhiều mà không thiết thực chu đáo”. Qua đó, có thể thấy, Người nghiêm khắc phê bình việc học tập, huấn luyện không thiết thực. Điều này không chỉ gây ra sự lãng phí cho tập thể về thời gian, mà xa hơn còn gây ra hậu quả xấu cho phong trào cách mạng, do việc đào tạo không chất lượng, nên người cán bộ không được trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết, vì thế, khi thực hiện nhiệm vụ sẽ không đạt yêu cầu đề ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một biểu hiện không tốt trong đội ngũ cán bộ, đó là “bệnh khinh lý luận”. Biểu hiện của căn bệnh này chính là đề cao kinh nghiệm bản thân, không chịu học hỏi, mà quên rằng “kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi”; vì thế, Người chỉ rõ, họ “cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”. Người mắc phải “bệnh khinh lý luận” là những người ngại học hỏi, tìm tòi cái mới, bằng lòng với cái đang có, vì thế, không bao giờ thực hiện được yêu cầu phải học tập suốt đời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra. Do đó, để thực hiện được yêu cầu học tập suốt đời, cần phải chống lại “bệnh khinh lý luận”. Điều này không có gì mâu thuẫn với việc tự học, thực học theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi khi tập thể yêu cầu, khi nhiệm vụ đòi hỏi, người cán bộ cần tham gia học tập nghiêm túc ở trường lớp để thu nhận kiến thức một cách hệ thống, bài bản. Ở đó, người cán bộ được trang bị kiến thức lý luận chuyên sâu, cũng là để khắc phục căn bệnh coi khinh lý luận; đồng thời, quá trình này là sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc tự học với việc học tập suốt đời thông qua hình thức đào tạo tập trung.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện ra “bệnh kém tổng kết” phong trào cách mạng, đó là có những nơi, có những phong trào đạt thành tích rất tốt, nhưng vì “chúng ta không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn, vì sao mà có thành tích khá?... để mà học kinh nghiệm, để mà đặt ra khuôn phép cho công việc khác. Thành thử những cái tốt, cái hay đều không phát triển được... cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy”. Đối với những sai lầm, thất bại, cũng tồn tại tình trạng như vậy, vì thế, Người chỉ rõ: “Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ,... rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”. Thực hiện tốt những chỉ dẫn nói trên của Người chính là làm cho quá trình tự học tập suốt đời một cách thiết thực, có hiệu quả. Sự nghiệp cách mạng là quá trình lâu dài, luôn xuất hiện những đòi hỏi và yêu cầu mới, ngày càng cao hơn, khó khăn hơn, vì vậy, người cán bộ cách mạng phải không ngừng học hỏi, học tập suốt đời để nâng cao trình độ bản thân.

Cán bộ khuyến nông tỉnh Điện Biên hướng dẫn đồng bào canh tác lúa_Nguồn: nhandan.vn

Để việc tự học, thực học, học tập suốt đời hiệu quả theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ một số hạn chế cần nhanh chóng khắc phục để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Những hạn chế đó là: Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân... Việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên ở một số nơi còn chưa thực chất. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ... Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, nhưng một nguyên nhân là do những hạn chế từ quá trình tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân khiến cho việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn là do việc đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn; còn tồn tại tâm lý ngại khó, ngại khổ trong học tập, không chịu đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học...

Thực tiễn cách mạng đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta, đòi hỏi cần vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học và học tập suốt đời để xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Thứ nhấtthực hiện nghiêm việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị. Thời gian qua, công tác này còn một số hạn chế, như Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” chỉ rõ: “Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”. Vì vậy, cần khắc phục những hạn chế còn tồn tại để tuyển dụng được những nhân sự xứng đáng. Muốn vậy, cần tuyển chọn những nhân sự có chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng qua thực tế công việc, để họ ngày càng trưởng thành. Kiên quyết đấu tranh, chống mọi biểu hiện tiêu cực trong công tác tuyển dụng, nhất là chỉ tuyển chọn người thân, người quen, “nhóm lợi ích” vào cơ quan, đơn vị dù không đáp ứng được yêu cầu công việc. Thực hiện tuyển dụng công khai, minh bạch; làm tốt việc xây dựng hệ thống vị trí việc làm trong cơ quan, đơn vị; xây dựng những tiêu chí cần thiết, phù hợp cho mỗi vị trí việc làm và thực hiện nghiêm túc những quy định có liên quan.

Thứ haiđổi mới công tác đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Đánh giá cán bộ qua chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị một cách nghiêm túc, khách quan; qua đó, thúc đẩy cán bộ luôn phải liên tục tìm tòi những cách thức, biện pháp hữu hiệu thường xuyên, để nâng cao chất lượng công việc, hoàn thành nhiệm vụ được giao; phải liên tục học hỏi, tích lũy kiến thức, kỹ năng không ngừng qua thực tế công tác và thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị. Đây chính là cơ sở để người cán bộ thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời. Thời gian qua, công tác này còn có một số hạn chế, đã được Nghị quyết số 26-NQ/TW, chỉ rõ: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến”.

Đại hội XIII của Đảng nêu định hướng chỉ đạo với công tác đánh giá cán bộ: “Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lựa chọn, đánh giá, sàng lọc để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”. Cần thực hiện tốt việc tổ chức công việc trong cơ quan, đơn vị theo vị trí việc làm để có căn cứ đánh giá chính xác chất lượng công việc; cụ thể hóa nguyên tắc một việc do một người chịu trách nhiệm chính, đồng thời một việc có thể giao cho nhiều người thực hiện. Điều này giúp nâng cao khả năng làm việc nhóm, thúc đẩy các thành viên trong tập thể giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ chung; đồng thời, việc đánh giá chất lượng hoàn thành công việc của từng cá nhân cũng sát hợp và đúng hơn. Cần thực hiện nghiêm nội dung mà Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã chỉ rõ: “... tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề nhân dân phản ánh, khiếu kiện, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, phát hiện, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng những điển hình nêu gương sáng, có sức lan toả lớn trong Đảng và xã hội”.

Thứ bathắt chặt hơn mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân, với cơ sở. Đây là một phương sách hữu hiệu để thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, những ý kiến xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của quần chúng nhân dân chính là những gợi ý tốt cho việc đề ra những giải pháp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi người cán bộ, đảng viên, mà không sách vở, giáo trình nào có thể đề cập hết được. Kinh nghiệm phong phú của quần chúng nhân dân chính là kho tàng tri thức vô tận và vô giá, cung cấp cho đội ngũ cán bộ những cơ sở để có thể đề ra được những quyết sách đúng đắn trong công việc. Điều đó góp phần khắc phục một trong những hạn chế trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là do: “... thiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu quả vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, báo chí”.

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân””. Đây cũng chính là cơ sở để đội ngũ cán bộ, đảng viên dựa vào nhân dân để thực hiện có hiệu quả việc tự học, thực học và học tập suốt đời theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, cần “đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; xây dựng chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý””. Đội ngũ cán bộ, đảng viên “quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân. Thực hiện nghiêm... công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân và xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân”.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học, thực học, học tập suốt đời còn vẹn nguyên giá trị thời sự, luôn là kim chỉ nam để mỗi người cán bộ, đảng viên không ngừng tự học, tự rèn nhằm nâng cao đạo đức cách mạng, năng lực, trình độ chuyên môn, xây dựng đội ngũ vững mạnh./.

ST.

Tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời là nhiệm vụ quan trọng của cán bộ, đảng viên

Hiện nay, bên cạnh những cán bộ, đảng viên mẫn cán, một lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, thì vẫn còn tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Do đó, vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, đặc biệt là tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời là nhiệm vụ quan trọng của cán bộ, đảng viên.

Yêu cầu cấp thiết của việc tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời

Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua chặng đường 93 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, Đảng ta không ngừng đưa ra những chủ trương, đường lối phù hợp, đáp ứng yêu cầu lịch sử, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế, tạo nền tảng và cơ sở vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững. Có được những thành tựu đó là do từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xem đây là nhiệm vụ then chốt, quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, giúp cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong các thời kỳ cách mạng. 

Tuy nhiên, trong thực tế công tác xây dựng Đảng về đạo đức vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 1-1994) và các kỳ Đại hội Đảng cùng nhiều Hội nghị Trung ương tiếp theo đã chỉ ra những biểu hiện này của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, xác định đó là một trong bốn nguy cơ liên quan đến sinh mệnh và sự tồn vong của Đảng.

Trước thực trạng đó, công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Trên cơ sở kế thừa, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đại hội XII của Đảng đã xác định xây dựng đạo đức trong Đảng ngang tầm với những nội dung xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, đó là: “Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Tập trung thực hiện mục tiêu: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức”. Kế thừa tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng ta tiếp tục bổ sung, hoàn thiện với nhiều nội dung, giải pháp đồng bộ trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức: “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức”, nhằm “làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội”. Đây vừa là định hướng cho hoạt động thực tiễn, vừa là chỉ báo trong công tác đánh giá kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt nội dung xây dựng Đảng về đạo đức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Theo đó, cán bộ, đảng viên cần phải tự giác học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, đề cao trách nhiệm công vụ, phấn đấu trở thành những cán bộ, đảng viên có cả tài và đức, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Cán bộ Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giúp đồng bào ở xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: baovephapluat.vn

Kế thừa, phát huy những thành tựu đạt được

Thời gian qua, vấn đề tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời trong xây dựng Đảng về đạo đức đã đạt được nhiều thành tựu. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự quản lý, điều hành của các cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị..., đa số cán bộ, đảng viên đều có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Việc rèn luyện, giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, quần chúng gắn chặt với xây dựng và thực hành đạo đức trong Đảng, nhất là phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã triển khai sâu rộng, hiệu quả Nghị quyết và Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức cao đẹp, lối sống nghĩa tình, tuân thủ pháp luật cho thanh niên, cán bộ, đảng viên trẻ luôn được Đảng ta quan tâm, thông qua việc thực hiện nhiều phong trào, hoạt động ý nghĩa như: “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”, “Nghĩa tình biên giới hải đảo”, “Hành trình tuổi trẻ vì biển đảo quê hương”,…

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật trong Đảng thường xuyên được triển khai thực hiện, đã đạt được những kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào việc ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; bước đầu xây dựng được cơ chế kiểm soát quyền lực trong thực thi nhiệm vụ, công vụ, quyền hạn được giao, nhất là kiểm soát việc lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực để trục lợi của cán bộ, đảng viên.

Những hạn chế, yếu kém

Thứ nhất, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức, nội dung và phương pháp giáo dục chậm đổi mới. Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn mang tính hình thức.

Thứ hai, công tác đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch đôi khi còn lơ là, mất cảnh giác, không ít cấp ủy, tổ chức đảng chưa chú trọng phòng ngừa, phát hiện sớm.

Thứ ba, một số cấp ủy, tổ chức đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thực sự quan tâm đến công tác dân vận, đời sống của nhân dân. Nhiều kiến nghị chính đáng của nhân dân chưa được cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền quan tâm giải quyết kịp thời. Phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc của một số cán bộ, đảng viên thiếu dân chủ, quan liêu, xa dân.

Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái. Có nơi lựa chọn đối tượng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm lại né tránh không kiểm tra cấp ủy viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp, chủ yếu lựa chọn cán bộ, đảng viên không có chức vụ để kiểm tra hoặc kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên cách nhiều cấp để dễ kiểm tra và dễ xử lý khi có vi phạm...

Thực hiện tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời trong xây dựng Đảng về đạo đức

Nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong toàn Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên” (4), góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo đó, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm:

Một là, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của công tác tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời cho từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các tổ chức cơ sở đảng. Các cấp ủy đảng cần đưa nội dung tu dưỡng đạo đức cách mạng trong xây dựng Đảng về đạo đức vào sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng. Trong sinh hoạt chi bộ, ngoài đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, nên lựa chọn những vấn đề trọng tâm về công tác xây dựng Đảng, nhất là những hạn chế, khuyết điểm để tự phê bình và phê bình gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Hai là, thực hiện nghiêm nguyên tắc nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Vì vậy, lời nói của cán bộ, đảng viên phải đi đôi với việc làm, phải làm gương mọi mặt cho quần chúng nhân dân noi theo.

Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết theo quy định của Trung ương về giáo dục đạo đức, lối sống thật sự có hiệu quả để nêu cao tinh thần trách nhiệm, nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp, của cán bộ, đảng viên. Không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phát huy sức mạnh tổng hợp của các hình thức tuyên truyền qua tài liệu, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chú trọng việc tuyên truyền những tấm gương sáng trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Bốn là, các cấp ủy, chi bộ cần chủ động theo dõi, nắm bắt tư tưởng, dự báo tình hình, lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy vai trò gương mẫu của đảng viên để kịp thời phát hiện, đấu tranh làm thất bại hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chủ động đấu tranh vạch trần bản chất phản động, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; lên án nhận thức, hành vi sai trái, tiêu cực, lạc hậu, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng và đấu tranh phòng, chống, tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết sàng lọc, loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; cần thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; kịp thời khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích tốt trong công tác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng./.

ST.

Bảo đảm an ninh quốc gia của đất nước thời kỳ mới

An ninh quốc gia là vấn đề đặc biệt hệ trọng, then chốt của quốc gia. Công tác bảo đảm an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự Hội nghị sơ kết phong trào thi đua đặc biệt “Công an nhân dân - Lá chắn thép phòng, chống dịch COVID-19, thanh bảo kiếm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội” của Bộ Công an_Nguồn: TTXVN

Những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, cục diện thế giới có sự biến động mạnh mẽ, các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia cũng ngày càng đa dạng, như sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; các thế lực thù địch luôn tìm cách đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; những thách thức an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu…

Trong bối cảnh đó, Đảng ta luôn chủ động nhận định, đánh giá tình hình, bổ sung, phát triển nhận thức tư duy về an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã chỉ ra 4 nguy cơ đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ, đồng thời với an ninh quốc gia, bao gồm: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thưc hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ nạn quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

Từ đó đến nay, qua các kỳ đại hội, Đảng ta đều thẳng thắn đánh giá các nguy cơ này vẫn tồn tại, đồng thời xuất hiện nhiều nguy cơ mới, bao gồm các nguy cơ do tác động từ bên ngoài và các nguy cơ nảy sinh từ bên trong. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng… Bảo vệ chủ quyền biển đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn. Tình hình chính trị - xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định”.

Ngày nay, các mối đe dọa về an ninh phi truyền thống gia tăng, với quy mô, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, tác động đến lợi ích, an toàn, an ninh quốc gia Việt Nam. Tại Đại hội XI, lần đầu tiên, Đảng ta chỉ ra các nguy cơ, thách thức phi truyền thống đan xen với các nguy cơ, thách thức truyền thống. Theo đó, “những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường… còn tiếp tục gia tăng”. Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, bệnh dịch, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,… tiếp tục diễn biến phức tạp” đặt ra nhiều thách thức lớn chưa từng có cho phát triển bền vững. Những thách thức an ninh phi truyền thống này có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội, ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động sâu rộng. Nếu không chủ động và tích cực phòng ngừa, ứng phó thì khi phát sinh dễ tạo ra những hậu quả khó lường đối với an ninh quốc gia.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mở ra nhiều cơ hội, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, nhất là tội phạm công nghệ cao, đe dọa thông tin, an ninh mạng. Điều này càng trở nên phức tạp khi chúng ta chưa chủ động về công nghệ, còn lệ thuộc vào các nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, tiềm ẩn nguy cơ gây mất chủ quyền an ninh thông tin. Nhu cầu đầu tư vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự công nghệ cao có thể dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm, đe dọa an ninh các quốc gia.

Trên cơ sở phân tích, dự báo bối cảnh mới và các vấn đề đặt ra với an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay, bảo đảm các vấn đề mang tính nguyên tắc, Đảng ta đưa ra những quan điểm đổi mới về bảo đảm an ninh quốc gia của đất nước trong thời kỳ mới, phù hợp với diễn biến của bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước; tham khảo các quan điểm về an ninh quốc gia trên thế giới, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển. Đó là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước, nhất là vai trò của nhân dân; giữ nước phải giữ từ thời bình, giữ nước phải giữ từ khi nước chưa lâm nguy; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân, làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu của sự kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng gắn liền với bảo vệ Tổ quốc là phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; quốc phòng với an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại để giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 chỉ rõ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước”.

Đại hội XIII của Đảng xác định vị trí của nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong mối tương quan với các nhiệm vụ chiến lược khác: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”. Như vậy, nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh trở thành một trong bốn nhiệm vụ trọng yếu trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.

Trong bối cảnh, tình hình mới, an ninh quốc gia đứng trước những nguy cơ, thách thức mới rất phức tạp, đòi hỏi phải có chiến lược mới với tầm nhìn, hệ thống giải pháp dài hạn, chủ động để giữ vững an ninh quốc gia trong mọi tình huống. Đại hội XIII của Đảng nhận định, vấn đề an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống. An ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh môi trường, an ninh con người... Tại Đại hội XIII, vấn đề “an ninh con người” được chú trọng, đề cao và được đề cập trong nhiều nội dung của Văn kiện Đại hội, điều này cũng phản ánh quan điểm lấy người dân làm trung tâm của Đảng ta.

Phương thức bảo đảm an ninh quốc gia trong tình hình mới

Trải qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia đã đạt được những thành tựu to lớn. An ninh trên các lĩnh vực, các địa bàn được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tạo môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu đó là kết quả phấn đấu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với vai trò nòng cốt của lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân. Trong mỗi giai đoạn phát triển, tùy thuộc vào từng điều kiện, bối cảnh những thuận lợi, thách thức về an ninh, Đảng ta đề ra những chiến lược, kế sách phù hợp bảo vệ an ninh quốc gia vững chắc.

“Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen, nhiều vấn đề chiến lược mới đặt ra phải giải quyết, từ tình hình quốc tế, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường đến các thách thức toàn cầu về biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và cả những thành tựu ngoạn mục của tiến bộ khoa học và công nghệ đang tác động mạnh mẽ tới đời sống kinh tế - xã hội của đất nước ta cũng như toàn thế giới”. Để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong tình hình mới, cần tập trung thực hiện một số  phương thức và giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo, để bảo đảm các mục tiêu phát triển, Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng: “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”. Điều này thể hiện tư duy trong bảo vệ an ninh quốc gia là luôn giữ vững thế chủ động chiến lược trong mọi tình huống, trong mọi hoàn cảnh. Tinh thần an ninh chủ động còn được thể hiện rõ nét ở việc mở rộng phạm vi, không gian bảo vệ an ninh quốc gia, chú trọng giải quyết cả các vấn đề về an ninh phi truyền thống: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh” …

Thắm tình quân dân_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ hai, chú trọng xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, hiện đại, hữu dụng.

Thứ ba, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng, củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và ngược lại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, chủ động tích cực, hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực. Xét về phương diện bảo vệ an ninh quốc gia, xây dựng, phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại là cơ sở, tiền đề, là phương thức để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và bảo đảm an ninh quốc gia là điều kiện quan trọng để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương thức đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia cần được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng để bảo vệ Tổ quốc./.

ST.

Nâng cao năng lực quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Vấn đề quản trị bản thân của họ trong cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” có quan hệ trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị, đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng kiểm tra công tác ứng trực và chúc tết cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Cảnh sát đặc nhiệm số 2, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động_Nguồn: thanhnien.vn

Quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức - Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị là những người được nhân dân ủy thác, đại diện cho nhân dân trong các tổ chức công để thực thi chức trách, nhiệm vụ, vừa là người lãnh đạo, vừa là “người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Họ là những người trực tiếp tham mưu xây dựng, hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tổ chức triển khai chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật trên các lĩnh vực hoạt động của các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương; đồng thời, cũng là người trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động thuộc thẩm quyền ở từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Đội ngũ các nhà lãnh đạo, quản lý có tầm quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến việc quản trị một tổ chức cũng như toàn bộ quốc gia. Sự ổn định và phát triển bền vững của mỗi tổ chức và quốc gia - dân tộc phụ thuộc rất lớn vào năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, được thể hiện qua tài năng, phẩm chất đạo đức của họ gắn với năng lực quản trị bản thân.

Trong phép trị nước của người xưa ở Phương Đông, Nho giáo đề cao vai trò của đạo đức đối với bậc chính nhân quân tử, đề cao quản trị bản thân khi nhấn mạnh rằng trước hết phải “tu thân, tề gia” rồi mới “trị quốc, bình thiên hạ”. Bàn về vai trò của đạo đức và sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của người cán bộ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Theo Người, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Bởi vậy, Người luôn quan tâm tới việc quản trị bản thân của người cán bộ, nhất là chú trọng bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý dựa vào một hệ thống các giá trị kết hợp với một hệ tiêu chuẩn cụ thể hóa các giá trị này. Người đặt lên hàng đầu ba mối quan hệ cơ bản của một con người: Đối với mình, đối với người, đối với việc, “khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc”, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Để xứng đáng và giữ vững vai trò cầm quyền, Đảng phải không ngừng xây dựng, chỉnh đốn để nâng cao năng lực cầm quyền. Đây là vấn đề có tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của Đảng; là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài và tất yếu trong quá trình tồn tại, phát triển và cầm quyền của Đảng. Trong Di chúc (năm 1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được xác lập thông qua hai vấn đề cơ bản: Đường lối chính trị và đội ngũ cán bộ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII (6-1997), “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tại nhiều nhiệm kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về quản trị bản thân của người cán bộ, mà trước hết là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có đức, có tài, ngang tầm nhiệm vụ.

Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới, bên cạnh thuận lợi, thời cơ, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức đan xen. Trong đó có nguy cơ, thách thức từ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tình trạng đó được Đảng ta xác định là “nguy hiểm khôn lường”, “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là sự quản trị bản thân kém hiệu quả của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp trong Đảng và hệ thống chính trị. 

Vì thế, một trong những yêu cầu cấp bách đặt ra trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là phải tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu phát triển tổng quát: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đó, một yêu cầu hết sức quan trọng đặt ra cho mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình làm tốt việc quản trị bản thân gắn với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Nội dung quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức

Quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý là sự tự giáo dục, tự rèn luyện, thường xuyên giữ gìn và nâng cao đạo đức cách mạng; tự tạo ra năng lực đề kháng và đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong và tác động chuyển hóa từ bên ngoài. Đó là những hoạt động mang tính tự giác, chủ động, nền nếp, thường xuyên của bản thân người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các mối quan hệ: Đối với mình, đối với công việc và đối với người, gắn với các hoạt động xây dựng Đảng về đạo đức, bằng việc tự học tập, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó.

Quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức, cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ tạo thành một chỉnh thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ thực sự có hiệu quả khi gắn chặt với các nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành tố đó bảo đảm cho quá trình xây dựng, củng cố, phát triển đạo đức cách mạng của Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên có hiệu quả; góp phần quan trọng để Đảng xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất (gồm phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống), năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ; xứng đáng “là người lãnh đạo và là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức được thể hiện trên các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, người cán bộ cách mạng phải nâng cao năng lực tự chủ bản thân, ra sức tu dưỡng, rèn luyện và giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng được định hình thành chế độ tự giác, làm cho cán bộ luôn nghiêm khắc với chính mình.

Bàn về con người, C. Mác chỉ rõ: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Con người luôn chịu sự chế ước bởi những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, trong đó có đạo đức, làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Đạo đức là cái gốc của con người. Đạo đức luôn là sản phẩm của xã hội; gắn liền với nhân sinh quan và thế giới quan của con người. Trong xã hội có giai cấp, thì đạo đức bao giờ cũng mang tính giai cấp, bên cạnh những đặc trưng chung thì còn biểu hiện những khuôn phép và quy tắc đạo đức của một giai cấp nhất định - giai cấp thống trị trong xã hội.

C. Mác và Ph. Ăng-ghen là những nhà cách mạng tiêu biểu của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là những tấm gương ngời sáng xét về phương diện quản trị bản thân, làm chủ bản thân mình trong cuộc đấu tranh đầy khó khăn, gian khổ để xác lập nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản thế giới.

Vận dụng và phát triển tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin đã đưa vào quan niệm của mình những nội dung mới về đạo đức của con người nói chung, cũng như của người cách mạng nói riêng. Người khẳng định, đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản phải hoàn toàn phục tùng lợi ích đấu tranh của giai cấp vô sản, phải xuất phát “từ những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra”. Để hiện thực hóa lý tưởng của Đảng, người cán bộ phải “trung thành vô hạn đối với cách mạng”Phẩm chất này luôn được V.I. Lê-nin ca ngợi và đánh giá cao ở những người chiến sĩ cách mạng vô sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề tu dưỡng, rèn luyện, tự chủ bản thân theo những chuẩn mực đạo đức mới - đạo đức cách mạng. Người cho rằng đạo đức cách mạng “không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Từ luận điểm quan trọng này của Người, có thể hiểu sự quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải được thể hiện trước hết và trên hết đó là sự toàn tâm, toàn ý, suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng - “đó là điều chủ chốt nhất”, là đặt sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.

Quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý chính là sự phản ánh sinh động của “tu dưỡng đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh”Từ ý thức đề cao vị trí, vai trò của đạo đức, Người khẳng định, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng trước hết phải trau dồi đạo đức cách mạng, coi đó là một trong những điều kiện tiên quyết để trở thành người cách mạng chân chính. Tấm gương tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nghiêm cẩn của Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền cảm hứng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân noi theo, có sức lan tỏa, ảnh hưởng to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay.

Thứ hai, tăng cường chế độ kỷ luật tự giác trong quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Quá trình xây dựng, kiến tạo chế độ xã hội mới luôn đòi hỏi Đảng cách mạng phải duy trì được kỷ luật nghiêm minh và tự giác. Sức mạnh của Đảng là ở tinh thần kỷ luật, ý thức tổ chức nghiêm minh, tự giác của đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Kỷ luật nghiêm minh, tự giác, trước hết đòi hỏi bản thân cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tự giác chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và tuân thủ các nguyên tắc tổ chức, lãnh đạo, sinh hoạt đảng. Kỷ luật nghiêm minh và tự giác còn đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nói và làm đúng nghị quyết của Đảng.

Đảng là một tổ chức chính trị gồm những người tự nguyện phấn đấu suốt đời cho lý tưởng cộng sản, cho nên tự giác là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên. Tính nghiêm minh của kỷ luật đảng đòi hỏi mọi tổ chức đảng, mọi cán bộ của Đảng đều phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước pháp luật của Nhà nước. Tính nghiêm minh, tự giác còn đòi hỏi ở cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gương mẫu trong cuộc sống, công tác. Uy tín của Đảng bắt nguồn từ sự gương mẫu của mỗi người cán bộ trong việc tự giác tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Đảng phải giữ kỷ luật nghiêm minh từ trên xuống dưới, đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thống nhất giữa tư tưởng và hành động. Mục đích của việc chấp hành và thi hành kỷ luật đảng là bảo đảm cho các tổ chức đảng và mọi cán bộ lãnh đạo, quản lý “Giữ gìn và củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng” và “Gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của các đoàn thể cách mạng của quần chúng mà mình tham gia”.

Sự nêu gương của người cán bộ chính là việc thực hành quản trị bản thân để những giá trị của đạo đức và tài năng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý được lan tỏa, dẫn dắt, truyền cảm hứng cho đồng chí, đồng nghiệp, cấp dưới..._Nguồn: baovephapluat.vn

Kỷ luật của Đảng bao gồm hai nội dung cơ bản: Một là, chấp hành kỷ luật của Đảng; hai là, thi hành kỷ luật trong Đảng. Giữa chấp hành kỷ luật và thi hành kỷ luật đảng có mối quan hệ chặt chẽ. Trong quản trị bản thân, người cán bộ lãnh đạo, quản lý càng chấp hành kỷ luật của Đảng nghiêm túc, đầy đủ, tự giác bao nhiêu thì việc thi hành kỷ luật sẽ càng giảm đi bấy nhiêu và ngược lại. Xử lý mối quan hệ giữa chấp hành kỷ luật và thi hành kỷ luật đảng trong quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo chính là giải quyết mối quan hệ giữa “xây” và “chống”, trong đó, lấy “xây” làm mục tiêu lâu dài, là chính, nhưng khi người cán bộ có vi phạm thì phải cương quyết xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, thường xuyên và nghiêm chỉnh thực hành tự phê bình và phê bình, định hình cơ chế tự phát hiện lỗi, tự phòng ngừa, tự sửa lỗi và giúp nhau sửa lỗi đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng đến tự phê bình và phê bình trong Đảng. Tự phê bình và phê bình là vấn đề mang tính nguyên tắc trong tổ chức, hoạt động của Đảng cách mạng. Đây là “quy luật phát triển” của Đảng, là “vũ khí sắc bén” trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Lý giải vì sao trong Đảng lại phải thực hành tự phê bình và phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta là một đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng.

Nhưng không vì thế mà kinh sợ. Ta đã thấy rõ những bệnh ấy thì ta tìm được cách chữa.

Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”.

Sức mạnh của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên là ở chỗ mạnh dạn tự phê bình và phê bình. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để giúp nhau cùng tiến bộ; làm “cái ác” dần mất đi, “cái thiện” nảy nở, sinh sôi để làm việc tốt hơn. Tự phê bình và phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”; mục đích của tự phê bình và phê bình còn nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết của Đảng. Từ đó, yêu cầu đặt ra trong quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức là phải tiến hành tự phê bình và phê bình thường xuyên, nghiêm túc. Cùng với việc thực hành dân chủ thì “tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng”. Để tự phê bình và phê bình thực sự phát huy tác dụng và đạt hiệu quả cao trong quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, mỗi cán bộ và tổ chức đảng phải thực hành thường xuyên, nghiêm chỉnh; tự phê bình mình cũng như phê bình người khác một cách “triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”.

Cách thức, phương pháp tự phê bình và phê bình: Phải rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, mục đích là cốt để sửa chữa hạn chế, khuyết điểm, giúp nhau cùng tiến bộ; phải trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau; thực hiện dân chủ từ trên xuống dưới. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu phải gương mẫu trong thực hành tự phê bình và phê bình; đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện lệch lạc trong tự phê bình và phê bình.

Thứ tư, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trong quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với xây dựng Đảng về đạo đức.

Một trong những nội dung quan trọng của phương thức lãnh đạo của Đảng là thông qua sự nêu gương của đội ngũ cán bộ. Chính sự nêu gương về đạo đức của đội ngũ này đóng vai trò lớn đối với uy tín, sức mạnh của Đảng, đến hiệu quả tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng. Cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu về đạo đức, lối sống. Nhân dân tin Đảng, tự nguyện đi theo sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ sự ổn định và bền vững của chế độ trước hết chính là thông qua hình ảnh, uy tín của người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Ngược lại, nếu đội ngũ này không gương mẫu, không tiêu biểu cho đạo đức, thanh danh của Đảng, rơi vào suy thoái về đạo đức, lối sống, tha hóa, biến chất thì sẽ không chỉ làm mất uy tín của bản thân họ, mà còn làm suy giảm, thậm chí đánh mất niềm tin của quần chúng vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Sự nêu gương của người cán bộ chính là việc thực hành quản trị bản thân để những giá trị của đạo đức và tài năng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý được lan tỏa, dẫn dắt, truyền cảm hứng cho đồng chí, đồng nghiệp, của cấp dưới và quần chúng nhân dân. Trong thực tiễn, việc nêu gương của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị là “mệnh lệnh không lời” để thuyết phục cấp dưới noi theo. Người đứng đầu liêm chính, nghiêm túc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì mới giữ được kỷ luật, kỷ cương của tổ chức, cơ quan, đơn vị; cấp dưới không thể tự tung, tự tác, làm bừa, làm ẩu. Ngược lại, lời nói của người đứng đầu sẽ là vô ích, nếu bản thân không nêu gương, nói một đằng, làm một nẻo, nói mà không làm hoặc nói nhiều, làm ít.

Thứ năm, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, làm cho quyền luôn ràng buộc với trách nhiệm, tự quản bản thân mỗi cán bộ đặt trong cơ chế tự kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước.

Trở thành đảng cầm quyền, thực thi quyền lực chính trị trong bối cảnh đã có bộ máy quyền lực nhà nước, thì kiểm soát quyền lực có vai trò cực kỳ quan trọng trong phòng, chống sự tha hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Quyền lực của Đảng, của bộ máy nhà nước không phải là quyền lực tự thân, mà là do nhân dân ủy quyền, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Vì vậy, nhân dân có quyền đòi hỏi chính đáng, có nhu cầu tự nhiên và tất nhiên là phải kiểm soát được quyền lực để sao cho quyền lực đó không bị biến dạng, không bị tha hóa, không bị lạm quyền, lộng quyền, khiến cho quyền lực vận hành cho mục đích tối thượng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Cùng với phòng, chống sự tha hóa quyền lực như một phương thức hữu hiệu để quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, thì trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với trọng tâm là xây dựng Đảng về đạo đức, đòi hỏi phải có phương thức giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực, đi đôi với phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm đã chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên là giặc “nội xâm”, một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Vì vậy, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cán bộ, đảng viên, của toàn Đảng, toàn dân.

Đảng đề cao vai trò đội ngũ cán bộ - “cái gốc của mọi công việc”; đồng thời, đòi hỏi ở họ sự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; bên cạnh đó, phải luôn chú ý để người cán bộ kịp thời “sửa đổi những khuyết điểm khắp các phương diện”, “đề phòng hủ hóa” lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là “dĩ công dinh tư”, thậm chí “dùng pháp công để báo thù tư... Những khuyết điểm trên, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động”.

Quản trị bản thân của người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gắn liền với bài trừ chủ nghĩa cá nhân, vì “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”; “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”.

Trong điều kiện Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, cán bộ, đảng viên được giao phó, nắm các chức vụ, quyền hạn trong bộ máy lãnh đạo, quản lý ở tất cả các cấp, các lĩnh vực; hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng quyết định đến toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị, đến sự trong sạch, vững mạnh và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị và đồng thời, nó quyết định tới sự thành bại của cách mạng. Do vậy, yêu cầu quan trọng và bức thiết hiện nay là phải lãnh đạo xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị thực sự có đức, có tài, đủ phẩm chất và năng lực, ngang tầm nhiệm vụ, phải có cơ chế, thiết chế để đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có năng lực tự quản trị bản thân một cách hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.

ST.