Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2024

Bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay


Bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là yêu cầu quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ ở nước ta hiện nay. Để làm được điều này, việc nhận diện sự liêm, chính, xác định rõ những vấn đề đang đặt ra và thực hiện các giải pháp bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Nhận diện sự liêm, chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

Sự liêm, chính là đặc trưng trong đạo đức cách mạng cần phải có của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, liêm có nghĩa là trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, tiền tài, không tham sung sướng. Người có đức liêm là người “quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa”. Chính có nghĩa là ngay thẳng, chính trực, “là thẳng thắn, đứng đắn”. Có thể thấy, nội dung cốt yếu của sự liêm, chính là sự ngay thẳng, đứng đắn, trong sạch, không tham lam trong mọi hoạt động của người cán bộ, đảng viên nói chung, của người cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Liêm là gốc rễ, động lực để cán bộ rèn luyện, là cơ sở cho sự thẳng thắn, đứng đắn, cương trực (chính) của họ; Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng gặp mặt các đồng chí Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII_Ảnh: TTXVN

Thời gian qua, liêm, chính là yêu cầu được nhấn mạnh trong thực thi quyền lực nhà nước, đạo đức công vụ. Có thể nhận diện sự liêm, chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý thông qua một số đặc điểm sau:

Một là, sự trong sạch, không tham lam, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong sạch, không tham lam nghĩa là không tham tiền, tham của; không lãng phí, nhất là không tham nhũng công quỹ. Bên cạnh đó, thái độ không khoan nhượng với những hành vi tham nhũng, kiên quyết trong đấu tranh chống tham nhũng, trước hết là ở chính địa phương, cơ quan, đơn vị của người lãnh đạo, quản lý, cũng thể hiện rõ sự liêm, chính của họ.

Hai là, không tham vọng quyền lực, không dùng thẩm quyền được giao của mình để trục lợi.

Người tham vọng quyền lực được hiểu là người “say mê quyền lực một cách mù quáng”, vì mong muốn có được quyền lực mà sẵn sàng bất chấp tất cả, làm những việc vi phạm pháp luật, trái với đạo lý. Ở đây, có thể kể đến một số biểu hiện như: chạy chức, chạy quyền, chạy bằng khen, huân chương để “mua” danh tiếng, chạy quy hoạch cán bộ, quy hoạch cấp ủy, chạy phiếu bầu, nhất là chạy phiếu bầu vào cấp ủy trong đại hội Đảng các cấp… Không dừng lại ở đó, người tham vọng quyền lực còn sử dụng nhiều thủ đoạn, như “kéo bè, kéo cánh”, “cài cắm”, “bài binh bố trận” những người thân quen, cùng phe cánh với mình để củng cố địa vị, quyền lực, tạo lập “nhóm lợi ích” hoặc lật đổ người khác…

Cán bộ lãnh đạo, quản lý không tham vọng quyền lực, không dùng thẩm quyền được giao của mình để trục lợi, nghĩa là, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào đều không được lợi dụng quyền lực mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho nhằm tìm kiếm, thu về cho bản thân, gia đình, người thân, “phe cánh” của mình những lợi ích vật chất (tiền bạc, tài sản…), lợi ích tinh thần (danh tiếng, địa vị…).

 Ba là, không sợ gian khổ, hy sinh, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý không sợ gian khổ, hy sinh, trước hết là không kén chọn việc để nhận về mình những phần việc nhẹ nhàng, thuận lợi hoặc chọn vị trí công tác có nhiều “bổng lộc”; khi được bầu vào cấp ủy, không tìm mọi cách để được đảm nhiệm các vị trí công tác thuộc các lĩnh vực được coi là “màu mỡ”, trong khi trình độ, năng lực của bản thân không phù hợp hoặc còn hạn chế; không tìm mọi cách né tránh những vị trí công tác vốn không có nhiều lợi ích. Chấp hành nghiêm sự phân công của cấp có thẩm quyền; luôn xung phong, sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn, ở những địa bàn phức tạp, nhiều gian khổ, có thể phải hy sinh; sẵn sàng chia sẻ, gánh vác những công việc nặng nề, phức tạp. Trước khó khăn, thử thách, kiên quyết không lùi bước, không “thối chí”, mà luôn là chỗ dựa vững vàng, là ngọn cờ quy tụ, tập hợp, phát huy trí tuệ tập thể, quyết tâm, quyết liệt vượt qua khó khăn, thử thách.

Bốn là, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung, dám chịu trách nhiệm.

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của địa phương, cơ quan, đơn vị, khi xuất hiện những vấn đề mới, phức tạp, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có các quyết định, hành động kịp thời, đúng đắn, phù hợp, có hiệu quả. Nhìn từ mối quan hệ giữa quyền lực và trách nhiệm, đây cũng là biểu hiện tập trung của cán bộ lãnh đạo, quản lý thật sự liêm, chính; đồng thời, đặt ra yêu cầu, đòi hỏi rất cao đối với mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý về ý chí, bản lĩnh, tầm nhìn, tư duy sáng tạo và sự quyết đoán, quyết làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Để làm được như vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có đủ trình độ, bản lĩnh để vượt ra khỏi cách nghĩ, lối tư duy cũ với những lối mòn, giáo điều, dập khuôn, máy móc, phát triển tư duy sáng tạo trên cơ sở bám sát, dựa chắc vào cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, không phiêu lưu, mạo hiểm, chủ quan, duy ý chí. Đồng thời, phải dũng cảm, dám nói đúng sự thật, không vì lợi ích cá nhân hay lợi ích gia đình, lợi ích nhóm, phe cánh… Dám nói phải đi đôi với dám làm và sẵn sàng chịu trách nhiệm về các quyết định của mình, không “tranh công, đổ lỗi”, đùn đẩy trách nhiệm cho cán bộ khác, cho tập thể và cho khách quan.

Năm là, có uy tín, tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết trong tập thể và trong nhân dân.

Những cán bộ lãnh đạo, quản lý uy tín, làm việc đạt hiệu quả, chất lượng cao, đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm lợi ích chính đáng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân, được cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên và nhân dân tin yêu, mến phục.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý tiên phong, gương mẫu học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt; nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng vào thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý để đem lại hiệu quả cao, vì lợi ích chung, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; đấu tranh kiên quyết, có hiệu quả với những lời nói, việc làm sai; giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh; luôn nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý và xây dựng phong cách làm việc khoa học, chuyên nghiệp. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy chế, quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị và nơi cư trú; vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Không ích kỷ, gian dối, đố kỵ, thành kiến, trù dập người khác; luôn tạo điều kiện để những người từng mắc sai lầm, khuyết điểm có cơ hội để sửa sai và cống hiến cho tập thể, cho xã hội…

Để tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết trong mỗi tập thể và toàn xã hội, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực sự là hạt nhân đoàn kết trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Sự đoàn kết dựa trên các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy chế, quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị, với tình thương yêu đồng chí, đồng bào, tôn trọng lẫn nhau, vì sự tiến bộ, phát triển của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, vì lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

Một số vấn đề đặt ra và những giải pháp bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta

Để những nội dung về sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, cần xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật, trong đó xác định rõ các mục tiêu, quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhằm tăng cường, củng cố sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; cụ thể hóa nội dung về sự liêm, chính trong tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý; coi trọng các tiêu chí về sự liêm, chính trong công tác tạo nguồn, quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng, những nội dung cơ bản của sự liêm, chính cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; thực hiện việc quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật cán bộ lãnh đạo, quản lý về việc thực thi liêm, chính; tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, của truyền thông, báo chí và nhân dân đối với việc bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý…

Thời gian qua, cấp ủy các cấp ngày càng coi trọng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh, tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức liêm, chính; kiên quyết xử lý nghiêm những biểu hiện bất liêm, bất chính của cán bộ dù ở bất kỳ vị trí nào, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đã cụ thể hóa và bước đầu xây dựng tiêu chuẩn cho các chức danh trong hệ thống chính trị, bao gồm cả những tiêu chuẩn về sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Việc xây dựng, hoàn thiện các quy tắc, chuẩn mực ứng xử, các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu, nhất là khi để địa phương, cơ quan, đơn vị mà mình phụ trách xảy ra tham nhũng, lãng phí đã góp phần bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trong công tác cán bộ, tiêu chuẩn đạo đức liêm, chính và sự tín nhiệm là điều kiện tiên quyết để lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý. Theo đó, kiên quyết không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, không đủ tài, cơ hội chủ nghĩa; thực hiện nghiêm quy chế về thôi chức, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý khi vi phạm, không còn đủ tín nhiệm. Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương... Công tác giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức liêm, chính được đổi mới theo hướng ngày càng thiết thực, hiệu quả, với nhiều hình thức, biện pháp, như thông qua sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy, các chương trình đào tạo của hệ thống trường chính trị, trong các nhà trường thuộc hệ thống chính trị, hệ thống giáo dục quốc dân. Qua đó, “làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ”.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quy định về chế tài xử lý hành chính tương ứng đối với các hành vi vi phạm về liêm, chính chưa được cụ thể hóa đầy đủ. Còn có vướng mắc, bất cập, chưa thống nhất trong việc xử lý những sai phạm liên quan đến công tác cán bộ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa chú trọng đúng mức tới việc bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức liêm, chính.

Việc thực hiện tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc còn mang tính hình thức. Tình trạng thiếu tự giác nhận khuyết điểm, đổ lỗi, nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi. Việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của người đứng đầu với tập thể cấp ủy, lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng. Công tác kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng về việc thực thi liêm, chính còn hạn chế, nhất là trong việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm… Việc kiểm tra, xử lý đối với tổ chức đảng để xảy ra tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, đặc biệt là tình trạng chạy chức, chạy quyền và việc bổ nhiệm người nhà, người thân không đủ điều kiện, tiêu chuẩn, không đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền đã có chuyển biến, nhưng chưa đồng đều ở các cấp, hiệu quả chưa cao.

Việc bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta thời gian qua đặt ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất, nhận thức và thực hành liêm, chính của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp còn chưa nghiêm, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Nhận thức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp về vai trò, tầm quan trọng của việc bảo đảm sự liêm, chính còn chưa thật đầy đủ, chưa “trên - dưới một lòng”, “dọc - ngang thông suốt”, dẫn đến chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý còn thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, thiếu quyết liệt trong bảo đảm thực thi liêm, chính trong hoạt động lãnh đạo, quản lý ở địa phương, cơ quan, đơn vị; thậm chí, một số ít sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, tham vọng quyền lực, coi thường kỷ luật, kỷ cương.

Do đó, cần nhận diện sớm, đúng, đầy đủ các biểu hiện bất liêm, bất chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý để chủ động đấu tranh, phòng tránh; thực hiện nghiêm, thực chất nguyên tắc tự phê bình và phê bình của đảng viên; nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, nhất là công tác tự kiểm tra, giám sát ngay từ tổ chức cơ sở đảng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy các cấp, cán bộ, đảng viên về sự liêm, chính và tầm quan trọng của việc bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; phát huy mạnh mẽ vai trò của việc tự học, tự rèn, tự tu dưỡng để củng cố, nâng cao sự liêm, chính của bản thân cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Thứ hai, việc thể chế hóa, cụ thể hóa các nội dung về sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý còn chưa đầy đủ.

Việc thể chế hóa nội dung, các tiêu chí về sự liêm, chính còn chưa cụ thể đối với từng vị trí lãnh đạo, quản lý ở mỗi ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị. Một số văn bản về công tác cán bộ mặc dù có đề cập đến tiêu chí về sự liêm, chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhưng lại không làm rõ những biểu hiện, cơ sở nhận diện, dẫn đến sự lúng túng trong việc đánh giá cán bộ. Bên cạnh đó, còn thiếu những quy định cụ thể nhận diện các hành vi bất liêm, bất chính và cách thức phân biệt, đánh giá mức độ của những hành vi này, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Ngoài ra, bối cảnh, tình hình mới, yêu cầu mới của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, của công tác cán bộ, của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những yêu cầu mới của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước cũng đặt ra yêu cầu phải có sự điều chỉnh, mở rộng nội hàm về sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Theo đó, cần phát huy vai trò của cấp ủy các cấp, các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy trong việc cụ thể hóa các nội dung về sự liêm, chính và bảo đảm sự liêm, chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Cụ thể hóa những nội dung này trong việc xây dựng và ban hành các nghị quyết, quyết định về cán bộ và công tác cán bộ. Trên cơ sở thấm nhuần sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về cán bộ, công tác cán bộ, nắm chắc những tiêu chuẩn chung của cán bộ và tiêu chuẩn riêng của cán bộ lãnh đạo, quản lý và căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị, cấp ủy các cấp cần cụ thể hóa tiêu chuẩn liêm, chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn với vị trí việc làm của các chức danh.

Cán bộ xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xuống từng bản hướng dẫn người dân cách chăm sóc vườn cây ăn quả, góp phần phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho người dân_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, việc thực hiện nội dung về bảo đảm sự liêm, chính trong các mặt của công tác xây dựng Đảng đạt kết quả chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ.

Thời gian qua, trong các mặt của công tác xây dựng Đảng, nội dung về sự liêm, chính của cán bộ, đảng viên, nhất là của cán bộ lãnh đạo, quản lý từng bước được ghi nhận và đề cập khá toàn diện, song, các nội dung này được thực thi có hiệu quả chưa như mong muốn trên thực tế. Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp còn thiếu chế tài để thật sự đi vào nền nếp, đạt hiệu quả thực chất. Một số tổ chức đảng, đảng viên chưa gương mẫu thực hiện xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó có thực hiện liêm, chính. Công tác tuyên truyền mặc dù có nhiều đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức, song chưa tập trung xây dựng được nhiều gương điển hình cán bộ lãnh đạo, quản lý liêm, chính, để “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Trong một số vụ, việc liên quan đến sự liêm, chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý mà dư luận quan tâm, việc cung cấp thông tin chính thống có độ trễ nhất định, làm giảm khả năng định hướng dư luận, thậm chí tạo ra sơ hở để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá. Trong các khâu của công tác cán bộ, tiêu chí về sự liêm, chính mặc dù được thể hiện trong việc tạo nguồn, quy hoạch, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý, song chưa cụ thể hóa, khiến cho việc thực hiện đôi khi còn mang tính hình thức, chủ quan, cảm tính… 

Để bảo đảm sự liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức. Trong xây dựng Đảng về cán bộ, cần xác định rõ những tiêu chí, yêu cầu cụ thể của sự liêm, chính. Trong kiểm tra, giám sát, cần kiên quyết và tập trung xử lý nghiêm các hành vi bất liêm, bất chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm thực hiện tốt phương châm “vừa xây, vừa chống”, trong đó, “xây” là chủ yếu. Thực hiện tốt chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý; cải cách chế độ tiền lương, bảo đảm điều kiện vật chất và động viên tinh thần kịp thời, thường xuyên để họ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ và không ngừng gìn giữ, nâng cao sự liêm, chính trong thực thi chức trách, nhiệm vụ. Kiểm soát chặt chẽ tài sản, thu nhập của cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm minh bạch, khách quan, công bằng.

Thứ tư, việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông, báo chí và nhân dân trong giám sát việc thực thi liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở một số nơi còn hạn chế.

Hiện nay, hệ thống tổ chức của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã được thiết lập ở tất cả các cấp; đồng thời, có quy định cụ thể về việc các tổ chức này tham gia giám sát, phản biện xã hội, trong đó có giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt. Tuy nhiên, “giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả thấp”. Báo chí giám sát việc thực thi liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thông qua sức mạnh của công luận đôi khi chưa được phát huy; còn thiếu cơ chế để người dân trực tiếp giám sát cán bộ, đảng viên thực chất, hiệu quả…

Trong thời gian tới, để tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia giám sát sự liêm, chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần có cơ chế kết hợp một cách chặt chẽ, thực chất việc đánh giá của cấp ủy có thẩm quyền với đánh giá của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Theo đó, một mặt, cấp ủy các cấp cần xử lý có hiệu quả các kiến nghị sau giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; mặt khác, bản thân các tổ chức này cũng cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa nội dung và phương thức hoạt động, chủ động thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát theo quy định; duy trì các phong trào thi đua thật sự thiết thực để góp phần rèn luyện, phát triển sự liêm, chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở tổ chức của mình.

Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí trong giám sát và phản biện xã hội, trong điều tra, phát hiện các dấu hiệu vi phạm, sự bất liêm, bất chính của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các lĩnh vực. Đồng thời, chú trọng việc thực thi liêm, chính trong chính bản thân đội ngũ nhà báo.

Phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát thực thi liêm, chính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thông qua việc nâng cao trình độ dân trí cũng như hiểu biết chính trị của người dân; kịp thời cung cấp những thông tin chính xác, khách quan, toàn diện, có tính định hướng, gắn với trách nhiệm giải trình của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đồng thời, tăng cường đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng./.

ST.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay

Đảng ta xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đối với sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước. Trong cuộc chiến chống tham nhũng vô cùng khó khăn, phức tạp hiện nay, cần dựa vào “tai mắt”, sự giám sát của nhân dân theo tư tưởng “lấy dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước khác”, là tất cả các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam và kiều bào ta ở nước ngoài. Đối với Người, “dân” là “đồng bào” với tất cả sự thân thương, tha thiết nhất của những người cùng dòng máu con Lạc cháu Hồng. Trong các buổi nói chuyện, những bài viết và trong các bức thư gửi nhân dân, Người luôn dùng từ “đồng bào” khi nói đến nhân dân, như một phương thức truyền tải tình yêu thương, tinh thần đoàn kết dân tộc.

Bác Hồ với nhân dân (Tác phẩm: Nghe lời Bác dạy của họa sĩ Vương Trình, được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)_Ảnh: Tư liệu

Nhân dân là lực lượng có sức mạnh to lớn, có vai trò quyết định trong mọi vấn đề chính trị, xã hội của đất nước, vì thế dân là gốc của mọi công việc. Với truyền thống yêu nước, anh dũng, cần cù, chăm chỉ, sáng tạo, nhân dân ta chính là nguồn vốn quý giá nhất làm nên thành công của sự nghiệp cách mạng. Hiểu dân, tin dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, dân rất tốt, rất thông minh, dân có thể “giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” và “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Nói về sức mạnh của nhân dân, Người chỉ rõ: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”; lòng dân là “vận nước” bởi vì “được lòng dân, thì việc gì cũng làm được/ Trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”. Với những quan niệm đúng đắn, toàn diện về nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “dân là gốc”. Người nói: “Nước lấy dân làm gốc… Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nhân dân là chủ thể của xã hội, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân và mọi thành quả của cách mạng đều phải vì dân, phục vụ dân. Cả cuộc đời cống hiến, hy sinh vì dân, vì nước, vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm và giáo dục cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng, “lấy dân làm gốc” nghĩa là nhân dân chính là chủ thể cách mạng, mục tiêu cách mạng là vì nhân dân và sự nghiệp cách mạng thực chất là sự nghiệp là của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gần dân, dựa vào dân, vì dân, trọng dân, yêu dân, học dân và trung thực với dân. Người chỉ rõ: “Dân là gốc”, là lực lượng cách mạng cơ bản và quan trọng nhất, cho nên cán bộ, đảng viên cần “phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, tức là phải gần dân, lắng nghe, đồng cảm, thấu hiểu dân, từ đó mới có quyết sách phù hợp với nhu cầu, mong mỏi của nhân dân. Người cán bộ, đảng viên phải đồng hành với dân, vì lợi ích của dân mà hành động, sẵn sàng hy sinh lợi ích bản thân vì nhân dân. Đây cũng là cách tốt nhất, hiệu quả nhất để dân tin, yêu và ủng hộ cán bộ, ủng hộ Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “lấy dân làm gốc” không chỉ là một nguyên tắc hành động mà còn là một mệnh lệnh tối thượng đối với cán bộ, đảng viên, bởi vì: “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”. Người nêu rõ: “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng”. Theo Người, làm “đầy tớ” cho dân nghĩa là phục vụ dân, dốc lòng vì lợi ích của dân, làm cho dân được ấm no, hạnh phúc, làm cho dân hài lòng…

Tham nhũng là tệ nạn vô cùng nguy hiểm cho xã hội. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ tác hại của tham nhũng: “Trộm cắp tiền bạc của nhân dân, tổn hại kinh tế của Chính phủ, cũng là mật thám, phản quốc, nếu không phải là tệ hơn nữa”. Đảng ta xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đối với sự tồn vong của chế độ, vì vậy, chống tham nhũng trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay, quan điểm “dân là gốc” của Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự, thể hiện ở những điểm sau:

Một là, với tư cách là người chủ của xã hội, nhân dân tích cực tham gia công tác kiểm tra, giám sát, góp phần quan trọng trong việc phát hiện ra các vụ, việc tham nhũng, tiêu cực. Thực tế trong thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng lớn được phanh phui bắt đầu từ những thông tin do nhân dân cung cấp, tố cáo. Các cơ quan chức năng đều phải dựa vào “tai mắt” nhân dân, thu thập thông tin, chứng cứ để chứng minh các hành vi phạm tội của đối tượng vi phạm pháp luật. Nhân dân chính là lực lượng giám sát đông đảo, hiệu quả nhất đối với những hành vi sai trái của cán bộ, đảng viên.

Hai là, nhân dân tích cực tham gia phản biện xã hội về những vấn đề có liên quan đến công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đó là tham gia góp ý kiến với Đảng và Nhà nước về hoạch định chủ trương, xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng; góp ý kiến về nhân sự tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp trong tổ chức đảng, đoàn thể, cơ quan nhà nước; giám sát, phản biện hoạt động của các cơ quan công quyền trong việc quản lý tài sản công, quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản... Đây vừa là hoạt động thể hiện quyền dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chính là hoạt động thể hiện vai trò và trách nhiệm của người dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo đúng tinh thần “dân là gốc”.

Ba là, ý kiến của đông đảo nhân dân tạo thành dư luận xã hội lên án và đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Dư luận xã hội góp phần quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, khi cung cấp thông tin tham nhũng, tiêu cực cho các cơ quan pháp luật và báo chí vào cuộc; tạo áp lực xã hội làm cho những người có trách nhiệm và các cơ quan hữu quan phải chú ý, để tâm, chỉ đạo, tiến hành làm rõ vụ, việc để trả lời trước công luận. Dư luận xã hội tác động mạnh mẽ đến tâm lý con người, tạo khả năng răn đe, cảnh tỉnh, để những người “đang muốn tham” phải chùn tay “không dám tham”.

Khẳng định vai trò của nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022, ngày 30-6-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của chúng ta phải dựa vào dân, lắng nghe dân, lắng nghe dư luận để chọn lọc, tiếp thu cái đúng”.

Tuy nhiên, trong thực tế, vai trò của nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả. Chưa có cơ chế hợp lý để nhân dân trực tiếp tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiệu quả; ở nhiều nơi, việc quản lý tài chính, tài sản công, đất đai, tài nguyên, khoáng sản… chưa thực sự công khai, minh bạch để nhân dân dễ dàng tiếp cận, giám sát, từ đó có thể phát hiện kịp thời những sai sót, vi phạm… Bên cạnh đó, việc thực hiện quy chế dân chủ ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, thậm chí còn có tình trạng vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ, làm cho quyền lực không được kiểm soát, tạo cơ hội cho tham nhũng càng lộng hành, gây bất bình trong nhân dân. Một bộ phận nhân dân chưa nhận thức được trách nhiệm công dân trong công tác phát hiện và tố giác tham nhũng nên còn thờ ơ, bàng quan.

Để dựa vào nhân dân, lấy “dân là gốc” trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong công tác phòng, chống tham nhũng. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng để nhân dân hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình, có thái độ đấu tranh không khoan nhượng với “giặc nội xâm” này, từ đó tích cực tham gia giám sát, phát hiện, thông tin, phản ánh, tố giác hành vi tham nhũng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”.

Cung cấp thông tin, định hướng để hình thành dư luận xã hội mang tính tích cực, tạo cơ hội, diễn đàn cho người dân dễ dàng và chủ động tham gia bình luận, nhận xét, góp ý mang tính xây dựng, góp phần phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ pháp lý cho hạt nhân tích cực trong quần chúng nhân dân (già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng…) để tăng cường tính tích cực của họ trong việc phát hiện, tố cáo tham nhũng.

Thứ hai, củng cố, hoàn thiện cơ chế, cơ sở pháp lý thực hành dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia quá trình phản biện xã hội thực chất, hiệu quả. Bảo đảm quyền dân chủ tức là người dân được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời (dân biết), người dân được trực tiếp theo dõi, giám sát các quá trình quản lý xã hội (dân kiểm tra) để kịp thời phát hiện những hành vi tiêu cực của cán bộ, đảng viên, giúp các cơ quan chức năng đưa ra ánh sáng những sai phạm, phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời hành vi tham nhũng. Đại hội XIII của Đảng khẳng định, phải thực hiện tốt phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Hiện nay, việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Ở một số địa phương, cơ quan, công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước còn chưa kịp thời; việc công khai các nội dung liên quan theo quy định còn chưa đầy đủ, còn mang tính hình thức, đối phó, nên việc tiếp cận thông tin của người dân gặp nhiều khó khăn, làm cho việc thực hiện quyền giám sát, góp ý của nhân dân ở một số nơi còn hạn chế. Thực tế đó đòi hỏi phải khẩn trương tiếp tục củng cố và hoàn thiện các cơ chế thực hành dân chủ, tổ chức triển khai hiệu quả Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở vừa được Quốc hội thông qua ngày 10-11-2022, tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân thực chất, trong đó, thực hiện quyền và trách nhiệm của nhân dân trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực một cách hiệu quả.

Chiến sĩ công an nhân dân giúp dân thu hoạch lúa mùa_Nguồn: cand.com.vn 

Thứ ba, xây dựng, hoàn thiện thể chế về công khai, minh bạch các quy trình quản lý nhà nước, quản lý tài chính, tài sản công. Trong công tác phòng, chống tham nhũng, việc bảo đảm công khai, minh bạch trong điều hành, quản lý nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc phát hiện, xử lý hành vi phạm tội. Công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước nghĩa là phải công bố rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhận biết các chức năng, nhiệm vụ, quy trình làm việc của cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật một cách rộng rãi để người dân tiếp cận thông tin dễ dàng, thuận lợi nhất. Trong thực tế, tham nhũng chủ yếu xảy ra và lộng hành khi có tình trạng thiếu minh bạch, thiếu sự giám sát. Nếu bảo đảm việc công khai, minh bạch, khoa học hóa các nội dung và quy trình quản lý thì sẽ hạn chế những khoảng tối, kẽ hở về chính sách nhằm trục lợi, tham nhũng.

Mặc dù hiện nay, việc thực hiện cải cách hành chính ở các cấp chính quyền đã có nhiều tiến bộ, nhưng quy trình, thủ tục giải quyết có lúc, có nơi vẫn chưa thuận tiện, thậm chí còn tình trạng nhiêu khê, phiền hà. Nhiều trường hợp, mỗi cấp có một cách xử lý và quy định thủ tục khác nhau gây lúng túng cho người dân, đồng thời dễ phát sinh tiêu cực. Do đó, việc đơn giản hóa, công khai hóa, minh bạch hóa các thủ tục và quy trình quản lý, minh định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước sẽ giúp người dân hiểu rõ và dễ dàng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình, đồng thời cũng sẽ ngăn chặn tình trạng người thực thi công vụ lợi dụng để vụ lợi, nhũng nhiễu. Đẩy mạnh việc xây dựng chính phủ điện tử và đồng bộ hóa dữ liệu, số hóa việc giải quyết thủ tục hành chính trên toàn quốc.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng vô cùng phức tạp, khó khăn, phải tiến hành quyết liệt, bền bỉ, thường xuyên, không ngơi nghỉ, do đó cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả nhiều giải pháp, trong đó đặc biệt chú trọng việc phát huy sức mạnh của nhân dân, dựa vào nhân dân như một giải pháp cơ bản, hiệu quả, theo tinh thần “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

ST.

Kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng về tư tưởng - nhìn từ các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc Việt Nam (1954 - 1975)


Trong thực tiễn lãnh đạo từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng về tư tưởng và xác định, đây là lĩnh vực trọng yếu nhằm xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng với tinh thần sáng tạo và đạt kết quả cao nhất. Những cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954 - 1975 - giai đoạn có ý nghĩa lịch sử quan trọng - để lại những bài học kinh nghiệm quý về công tác xây dựng Đảng trong lĩnh vực tư tưởng giai đoạn hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các học viên dự lớp bồi dưỡng đảng viên mới của Đảng bộ Hà Nội, tháng 5-1966_Nguồn: hochiminh.vn

Các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc Việt Nam (1954 - 1975) - một số kinh nghiệm rút ra

Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam bước vào thời kỳ lịch sử đặc biệt. Theo nội dung Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc, lấy vĩ tuyến 17 dọc sông Bến Hải, thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị là giới tuyến quân sự tạm thời. Ngay sau khi Hiệp định vừa ký kết, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp, chiếm đóng miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thực hiện chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam. Thực tiễn lịch sử khắc nghiệt đó đặt ra cho Đảng và nhân dân ta phải đồng thời thực hiện hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với mục tiêu hoàn thành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Hai chiến lược đó có quan hệ mật thiết, quyết định lẫn nhau dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng.

Để thực hiện đồng thời hai chiến lược này, yêu cầu nâng cao vai trò, hiệu quả lãnh đạo của Đảng được đặc biệt coi trọng. Trong nhiều giải pháp, Đảng nhấn mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với 5 cuộc vận động, chỉnh đốn Đảng lớn được thực hiện ở miền Bắc trong thời kỳ 1954 - 1975:

1- Cuộc vận động chỉnh đốn tổ chức gắn liền cải cách ruộng đất (tháng 12-1954 đến tháng 7-1956). Ngày 7-12-1954, Đảng ban hành Chỉ thị “Về việc chỉnh đốn chi bộ nông thôn trong cải cách ruộng đất”, nhằm mục tiêu xây dựng các chi bộ trở thành hạt nhân lãnh đạo chính trị ở nông thôn, bảo đảm đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh ở nông thôn.

2- Cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961. Ngày 25-2-1961, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW “Về cuộc vận động chỉnh huấn mùa Xuân 1961”, là cuộc chỉnh huấn lớn nhất về tư tưởng từ khi hoà bình lập lại ở miền Bắc. Mục đích nhằm tích cực bồi dưỡng và xây dựng tư tưởng mới cho cán bộ, đảng viên và nhân dân lao động, để trên cơ sở đó khắc phục những tư tưởng sai lầm đang cản trở sự nghiệp cách mạng.

3- Cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1965. Ngày 2-1-1965, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 88-CT/TW tiến hành cuộc vận động, chỉnh huấn mùa Xuân năm 1965. Cuộc vận động, chỉnh huấn được tiến hành trong toàn Đảng nhằm nâng cao ý chí phấn đấu, ý thức tổ chức và kỷ luật, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, khắc phục những tư tưởng lệch lạc, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

4- Cuộc vận động xây dựng chi bộ bốn tốt (1962 - 1968). Đầu tháng 6-1962, Ban Bí thư Trung ương Đảng mở cuộc vận động “Xây dựng chi bộ, đảng bộ bốn tốt”. Tiếp đó, ngày 6-7-1965, Ban Bí thư ra Nghị quyết số 122-NQ/TW “Về tăng cường lãnh đạo, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở bốn tốt” trong ba năm (1965 - 1968). Mục tiêu của hai cuộc vận động này nhằm làm cho chi bộ và tổ chức cơ sở đảng trở thành hạt nhân lãnh đạo vững chắc, đủ sức tổ chức và lãnh đạo quần chúng hoàn thành tốt những nhiệm vụ cơ bản đề ra cho từng loại cơ sở, thiết thực đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị của miền Bắc.

5- Cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh (1970 - 1972). Ngày 6-3-1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 195-NQ/TW quyết định mở cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh. Mục đích chính của cuộc vận động là giáo dục, bồi dưỡng đảng viên, kết nạp đảng viên bảo đảm chất lượng, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng nhằm tăng cường sức chiến đấu, củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, làm cho Đảng luôn trong sạch và vững mạnh.

Từ việc Đảng lãnh đạo tiến hành các cuộc vận động, chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho công tác xây dựng Đảng về tư tưởng:

Một là, xây dựng Đảng về tư tưởng phải xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ chính trị.

Thời kỳ 1954 - 1975 là giai đoạn đầy khó khăn, thử thách trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, ở miền Bắc, các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng đều chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống tố chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải thật chặt chẽ, vững mạnh, có tính kỷ luật cao; xây dựng các cấp ủy đảng đặc biệt chi bộ, đảng bộ cơ sở; tăng cường số lượng, chất lượng, tính chiến đấu cho đội ngũ đảng viên trở thành nòng cốt cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến đấu bảo vệ miền Bắc, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam… Cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961 diễn ra khi miền Bắc thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Lúc này, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều diễn biến phức tạp, sự giác ngộ về chủ nghĩa xã hội còn yếu, tư tưởng tiểu tư sản còn nặng, còn có những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, tinh thần phấn đấu cách mạng bị giảm sút, ý thức tổ chức và quan điểm lao động chưa được đề cao tương xứng với tinh thần triệt để của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng xác định cần phải tiến hành cuộc chỉnh huấn lớn về công tác tư tưởng với mục đích làm cho tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng lao động phù hợp với yêu cầu phát triển của cách mạng và trở thành một lực lượng vật chất mạnh mẽ bảo đảm thi hành Nghị quyết Đại hội III của Đảng, hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước và thúc đẩy cách mạng phát triển lên những bước mới. Do đó, nội dung của cuộc chỉnh huấn tập trung vào xây dựng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân lao động tinh thần làm chủ Nhà nước, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa; quan điểm phục vụ sản xuất; quan điểm cần, kiệm xây dựng Tổ quốc; quan điểm tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Từ năm 1965, tình hình ở Việt Nam có những thay đổi quan trọng, từ bối cảnh chiến tranh ở phạm vi một nửa quốc gia, đã lan rộng trên phạm vi cả nước. Nhiệm vụ chính trị của miền Bắc lúc này là tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại, tiếp tục thực hiện cao hơn nhiệm vụ là hậu phương lớn cho miền Nam. Nhưng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã xuất hiện tư tưởng ngại gian khổ, sợ hy sinh, thiếu cảnh giác cách mạng, tinh thần trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo trong công tác còn thấp. Trước tình hình đó, Đảng thực hiện cuộc vận động chỉnh huấn mùa Xuân năm 1965 gắn với “chuyển hướng tư tưởng” theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW của Trung ương Đảng. Sau chỉnh huấn, đại đa số các tổ chức của Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của miền Bắc vững vàng, kiên định về lập trường tư tưởng trong khói lửa của chiến tranh.

Như vậy, các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954 - 1975 được thực hiện trên cơ sở bám sát các nhiệm vụ chính trị. Gắn với điều kiện thực tiễn và yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mà nội dung các cuộc chỉnh huấn luôn có sự linh hoạt, điều chỉnh. Điều này đã góp phần đưa miền Bắc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ miền Bắc và là hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hai là, xây dựng Đảng về tư tưởng phải gắn chặt với công tác xây dựng Đảng về chính trị, tổ chức.

Xác định đúng mối quan hệ giữa xây dựng Đảng về tư tưởng với xây dựng Đảng về chính trị và tổ chức, trong quá trình xây dựng Đảng về tư tưởng ở miền Bắc giai đoạn 1954 - 1975, Đảng luôn chú trọng sự gắn kết với xây dựng Đảng về tổ chức. Cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961 và mùa Xuân năm 1965 được triển khai sâu rộng với nội dung đẩy mạnh hoạt động bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin và tư tưởng vô sản cho cán bộ, đảng viên. Quá trình này tác động tới công tác tổ chức, mà cụ thể là chất lượng các tổ chức đảng. Đơn cử, tại tỉnh Bắc Giang, sau cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961, chất lượng các chi bộ đều có sự chuyển biến, sau xếp loại, đã có có 26 chi bộ kém trở thành chi bộ trung bình, 4 chi bộ từ kém lên khá, 37 chi bộ từ trung bình lên khá (1). Tại Tổng cục Đường sắt, trong cuộc chỉnh huấn, đã tiến hành phân loại được 229 chi bộ, đạt tỷ lệ 60%; mặc dù tiêu chuẩn phân loại chi bộ quy định cao hơn trước nhưng số chi bộ khá và trung bình đều được tăng lên, số chi bộ kém qua mỗi kỳ phân loại thấp dần. Sau cuộc chỉnh huấn, số chi bộ khá chiếm 20%, chi bộ kém chỉ còn 4,3% (2). Sự vững mạnh của chi bộ đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở trong những năm sau này. 

Thực tiễn của cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt” đã cho thấy sức gắn kết tự nhiên và cần thiết giữa nội dung, kết quả xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị và xây dựng Đảng về tổ chức. Cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt” đều nhằm vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và lấy đó là một tiêu chí quan trọng để đánh giá kết quả cuộc vận động. Quá trình chuyển biến của số đông chi bộ, đảng bộ cơ sở từ trung bình hoặc từ kém trở thành “bốn tốt” chính là quá trình tăng cường, chú trọng công tác tư tưởng, chính trị và kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, chính trị với công tác tổ chức. Năm 1965, kết quả xếp loại chi bộ ở khu vực nông thôn: Số chi bộ trung bình giảm từ 38,6% xuống còn 33,2%, số chi bộ kém giảm từ 9,8% xuống còn 8,5%; ở khu vực xí nghiệp, số chi bộ trung bình giảm từ 44,5% xuống còn 36,7%, số chi bộ kém giảm từ 3,1% xuống còn 2,2,%(3). Điều này cho thấy, việc làm tốt công tác tư tưởng, chính trị gắn với công tác tổ chức đã tạo nên nhiều chi bộ, đảng bộ cơ sở “bốn tốt”, nâng cao hơn tinh thần phấn đấu cách mạng, ý thức trách nhiệm, sự gương mẫu của người đảng viên, đồng thời góp phần củng cố, kiện toàn các chi bộ đảng.

Ba là, xây dựng Đảng về tư tưởng cần chú trọng đến nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Luôn coi trọng công tác tự phê bình và phê bình theo tinh thần “thật thà, tự nguyện, chân tình, xây dựng”, các cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc Việt Nam (1954 - 1975) đã tạo ra không khí cởi mở, dân chủ, khách quan, phê bình đúng người, đúng việc để nhận xét, đánh giá, phân tích, đưa ra ưu điểm và khuyết điểm có lý, có tình. Mỗi cán bộ, đảng viên tiến hành kiểm thảo trên bốn mặt: Nhận thức nhiệm vụ cách mạng; quan điểm lập trường giai cấp; ý thức tư tưởng; tác phong công tác. Trong khi kiểm thảo, các cá nhân thực hiện tự phê bình và phê bình trên tinh thần khách quan, giúp đỡ, không có những hiện tượng phê phán sai trọng tâm hoặc phê phán chụp mũ. Tiến hành phê bình trên cơ sở công việc cụ thể của mỗi người, xác định ưu điểm, khuyết điểm chính và nguyên nhân, tránh lối nêu sự việc chung chung. Thái độ của người được phê bình khiêm tốn, dũng cảm nhận sai lầm và khuyết điểm để sửa chữa. Các cơ quan, đơn vị tiến hành tự phê bình và phê bình với tinh thần tự nguyện, tự giác, qua đó, những tư tưởng sai trái, tự mãn công thần, địa phương, cục bộ, tự do vô kỷ luật, quan liêu mệnh lệnh, ỷ lại, bảo thủ, thiếu trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên và quần chúng đã được phê phán sâu sắc. Trong cuộc chỉnh huấn mùa Xuân năm 1961, các cán bộ, đảng viên đã nêu cao tinh thần tự giác, tự phê bình và phê bình, xem xét lại bản thân một cách nghiêm túc, thấy rõ những sai lầm để sửa chữa và ưu điểm để phát huy. Đơn cử, với tinh thần đó, các cơ quan, đơn vị tiến hành kiểm thảo đối với 114 đồng chí của Ban Dân tộc Trung ương. Kết quả: có 80 người tư tưởng suy bì đãi ngộ hưởng thụ, 66 người không yên tâm công tác, 68 người kém đấu tranh nội bộ, 54 người kém tinh thần trách nhiệm, 52 người hoài nghi thiếu tin tưởng ở cán bộ lãnh đạo, 47 người cầu an, ngại khó ngại khổ, 47 người tư tưởng rụt rè, 51 người quan liêu đại khái, 68 người phô trương hình thức, 32 người tư tưởng bảo thủ, 16 người tư tưởng dân tộc lớn, tư tưởng dân tộc địa phương (4)

Trong cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh (1970 - 1972), tại Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, với tinh thần tự phê bình và phê bình cao, chỉ ra những khuyết điểm và đưa ra cách thức sửa chữa cho mỗi đảng viên, nên sau một thời gian đã đưa tỷ lệ đảng viên tốt tăng từ 51% năm 1969 lên 68,6% năm 1972 (5). Với việc thực hiện tốt công tác tự phê bình và phê bình trong chỉnh huấn, tư tưởng của mọi người có nhiều biến chuyển, nhiệt tình cách mạng và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân được nâng lên, đoàn kết nội bộ được củng cố, sức chiến đấu của tổ chức đảng được tăng cường. Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên càng nhận rõ trách nhiệm của mình trước tình hình, nhiệm vụ mới, thấy rõ vấn đề quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh sản xuất, trước hết là sản xuất nông nghiệp, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng tinh thần tập thể, quyết tâm phấn đấu vươn lên trong mọi lĩnh vực công tác để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp có những chuyển biến tốt, nỗ lực phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững được vai trò, vị trí tiền phong gương mẫu, ngày càng nâng cao được năng lực, trình độ tổ chức lãnh đạo quần chúng thực hiện nhiệm vụ cách mạng.

Chi bộ Đại diện Văn phòng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức về nguồn và kết nạp đảng viên mới tại Di tích lịch sử chiến khu Rừng Sác Cần Giờ_Nguồn: baovephapluat.vn

Vận dụng vào công tác xây dựng Đảng về tư tưởng trong giai đoạn hiện nay

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xem đây là nhiệm vụ then chốt, quyết định sức mạnh, uy tín của Đảng. Trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng Đảng đã đạt được những chuyển biến tích cực. Bản chất, lập trường giai cấp công nhân của Đảng được giữ vững, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và người đứng đầu các cấp từng bước được nâng lên. Tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và trong nước đang có những diễn biến phức tạp, nổi bật là những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn biến phức tạp… Do đó, nhìn từ những kinh nghiệm cuộc vận động chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc thời kỳ 1954 - 1975, để góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng Đảng về tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, tiếp tục chú trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, bám sát nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ cách mạng. Trong mọi thời kỳ, công tác tư tưởng của Đảng luôn bám sát nhiệm vụ chính trị. Với giai đoạn hiện nay, điều này lại càng cần thiết. Toàn Đảng, toàn quân và nhân dân đang thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó, công tác tư tưởng phải gắn bó mật thiết và phục vụ hiệu quả mục tiêu trên. Xây dựng Đảng về tư tưởng cần được triển khai đồng bộ, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn có tư tưởng cách mạng triệt để, tư tưởng cách mạng tiến công. Đó là kiên định vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới. Xây dựng Đảng về tư tưởng còn là sự chủ động trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Để làm được điều đó, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó đặt ra yêu cầu với mỗi cán bộ, đảng viên ý thức rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, luôn có tinh thần trau dồi, nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Thứ hai, xây dựng Đảng về tư tưởng luôn gắn liền với xây dựng Đảng về chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng với xây dựng Đảng về chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, gắn bó mật thiết. Bởi vậy, Đảng luôn chú trọng đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách toàn diện trên tất cả các mặt. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” (6). Thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng về tư tưởng sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Quá trình này cũng góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, uy tín của tổ chức đảng, bảo đảm cho Đảng vững mạnh về mọi mặt trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Thứ ba, tiếp tục chú trọng nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Để làm tốt công tác tư tưởng, đẩy lùi những suy thoái về tư tưởng, tránh tình trạng mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, cần chú trọng nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Bởi lẽ, thông qua công tác tự phê bình và phê bình là để “thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động” trong Đảng. Tự phê bình và phê bình chính là một cuộc “đấu tranh” trong bản thân mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Việc tự phê bình và phê bình phải được tiến hành kiên quyết, triệt để, thường xuyên trên cơ sở của tình yêu thương đồng chí, để cho đồng chí mình tiến bộ hơn, tốt hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Trong giai đoạn hiện nay, cần đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tự phê bình và phê bình gắn với nhận diện sớm những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Từ đó, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ của một đảng duy nhất cầm quyền./.

ST.

Bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có giá trị và ý nghĩa sâu sắc trong việc bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên, để lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng luôn giữ vững niềm tin “chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng cùng các đại biểu dự Lễ ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng _ Ảnh: Tư liệu

Niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của thanh niên

Niềm tin là yếu tố không thể thiếu được đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của con người, giúp con người có thể vượt qua những khó khăn, thử thách để đạt được những ước mơ, hoài bão của mình. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Lòng tin tưởng mà thiếu nó thì người đó sẽ không làm được gì cả”; Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh”. Lịch sử xã hội ngày càng phát triển, tư duy và hoạt động thực tiễn của con người càng trở nên phong phú và sâu sắc, con người đã từng bước khám phá và nhận thức được quy luật vận động của tự nhiên và sự phát triển của xã hội. Trên cơ sở đó, niềm tin khoa học được hình thành và phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong toàn bộ đời sống của con người. Niềm tin khoa học trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy năng lực sáng tạo của con người, tạo lập lý tưởng sống, khát vọng và hoãi bão cao đẹp, hướng con người phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu đã đề ra.

Niềm tin xã hội chủ nghĩa được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội trong tiến trình lịch sử xã hội loài người. Đứng từ góc độ bản chất, niềm tin xã hội chủ nghĩa chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó xét đến cùng, niềm tin xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức - niềm tin - tình cảm - ý chí - hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin xã hội chủ nghĩa là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên cũng như xã hội, trên cơ sở đó “thấm nhuần chân lý các nguyên lý lý luận, sẵn sàng chứng minh, bảo vệ chân lý trong bất kỳ hoàn cảnh nào; là thái độ nhất quán giữa nhận thức chân lý và hành động theo chân lý, giữa lời nói và việc làm, dù có phải hy sinh cả tính mạng của mình cũng kiên quyết bảo vệ chân lý”.

Thanh niên Việt Nam là những người trẻ, khỏe, năng động, trí tuệ, sáng tạo, tiếp nhận và ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào học tập, rèn luyện, phục vụ công việc, có nhiều đam mê, khát vọng, có mục đích, động cơ phấn đấu vươn lên không ngừng; mong muốn được cống hiến, khẳng định mình. Thực tiễn lịch sử từ khi có Đảng ra đời đã chứng minh mục tiêu, lý tưởng, niềm tin xã hội chủ nghĩa của thanh niên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, “thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc, rường cột của quốc gia. Thanh niên có mạnh thì dân tộc mới mạnh; trong sức mạnh của dân tộc có sức mạnh của thanh niên. Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước, thanh niên luôn nêu cao truyền thống yêu nước, chí khí anh hùng, bất khuất của dân tộc, hăng hái đi tiên phong trên mọi lĩnh vực, có nhiều cống hiến to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước”.

Với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của các tầng lớp nhân dân, giương cao ngọn cờ độc lâp dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã tập hợp, đoàn kết đông đảo các tầng lớp nhân dân, trong đó có lực lượng thanh niên tham gia vào Mặt trận Dân tộc thống nhất. Theo tiếng gọi của non sông đất nước, lớp lớp các thế hệ thanh niên đã nối tiếp nhau nô nức lên đường kháng chiến, với tinh thần, khí thế hừng hực niềm tin vào ngày toàn thắng của cách mạng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Thanh niên Việt Nam đã không quản khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả tính mạng cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân. Mục tiêu, niềm tin xã hội chủ nghĩa đã trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc thanh niên hành động, dâng hiến cuộc đời và tuổi thanh xuân cho dân tộc. Niềm tin xã hội chủ nghĩa đã định hướng và thôi thúc trái tim, sự nhiệt huyết cháy bỏng của thanh niên, giúp họ vượt qua muôn vàn sóng to, gió lớn, vững bước đi qua “mưa bom, bão đạn” của kè thù. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Lịch sử của dân tộc và của Đảng ta đã ghi nhận và đánh giá cao các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, như “Cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh”, “Tòng quân giết giặc lập công trong kháng chiến chống Pháp; “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong” trong kháng chiến chống Mỹ”…

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh, trong giai đoạn hiện nay, thanh niên Việt Nam không ngừng đổi mới sáng tạo, bắt nhịp nhanh với thời cuộc, phát huy tốt tinh thần xung kích của tuổi trẻ trên các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Sau hơn 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta “chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều này đã góp phần quan trọng vào việc củng cố, bồi đắp niềm tin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên. Những phong trào lớn của thanh niên, như: “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Thanh niên tình nguyện”… khơi dậy ý khí, khát vọng vươn lên của thanh niên; thông qua chương trình xây dựng nông thôn mới, tiếp sức mùa thi…, đặc biệt là trong phòng, chống đại dịch COVID - 19 vừa qua, đã chứng minh tinh thần, trách nhiệm và ý thức chính trị của thanh niên. Nhiều mô hình, cách làm sáng tạo của đoàn viên, thanh niên trong phòng, chống dịch, như: shipper tình nguyện, đi chợ giúp dân, triệu bữa cơm, san sẻ yêu thương - chung tay vượt qua đại dịch, triệu ly sữa và hành trình của những cuốn sách…; nhiều thanh niên trong lực lượng vũ trang không màng đến sự hiểm nguy để cứu người gặp nạn; trong nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, thanh niên luôn là lực lượng xung kích đi đầu... Nhiều thanh niên là những chủ doanh nghiệp trẻ thành công trong ứng dụng khoa học và công nghệ; tích cực giải quyết việc làm cho các bạn cùng trang lứa, như: trang thông tin kết nối tình nguyện và khởi nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh, livestream trực tuyến trên trang fanpage của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung tâm Dịch vụ việc làm thanh niên ở tỉnh Bắc Ninh. “Thông qua hoạt động thực tiễn, tổ chức đoàn và mặt trận tập hợp, đoàn kết thanh niên không ngừng được xây dựng, củng cố, mở rộng… Đã có hàng triệu thanh niên tiên tiến được đứng vào hàng ngũ của Đoàn và hàng vạn đoàn viên, thanh niên ưu tú được kết nạp vào Đảng; góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang và niềm tự hào về thế hệ trẻ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”.

Thanh niên Việt Nam phát huy tinh thần xung kích của tuổi trẻ trên các mặt hoạt động của đời sống xã hội_ Ảnh: TTXVN

Bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên

Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước”. Theo đó, bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên là toàn bộ hoạt động giáo dục, rèn luyện của lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị, địa phương và sự tự tu dưỡng, rèn luyện của thanh niên, nhằm làm phong phú thêm tri thức, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm và rèn luyện ý chí của thanh niên để họ luôn có niềm tin xã hội chủ nghĩa vững chắc, góp phần hình thành, phát triển phẩm chất, nhân cách cho thanh niên, xứng đáng là lực lượng kế cận sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nhiều luồng văn hóa, tư tưởng, lối sống… từ bên ngoài thiếu lành mạnh xâm nhập vào nước ta, trong đó có những tư tưởng phi mác-xít, thói chuộng các giá trị phương Tây… làm lệch lạc suy nghĩ, phai nhạt lý tưởng cộng sản của thanh niên. Các phương tiện truyền thông xã hội với thông tin đa chiều, thật - giả lẫn lộn, gây nhiễu loạn truyền thông, làm cho thanh niên mất phương hướng trong việc phân biệt, ứng xử thông tin, bị tác động bởi những luồng thông tin xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, dụ dỗ, lôi kéo một số thanh niên tham gia vào các hoạt động “diễn biến hòa bình”. Đặc biệt, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tham nhũng, tiêu cực ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị các cấp, nhất là người đứng đầu, có chức vụ ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương gây bức xúc, giảm sút niềm tin của nhân dân, trong đó có thanh niên.

Bên cạnh đó, hoạt động bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho thanh niên ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa được chú trọng, chưa có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức, biện pháp; công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng giá trị, phẩm chất tốt đẹp của văn hóa, con người Việt Nam có lúc, có nơi chưa thường xuyên. Một bộ phận không nhỏ thanh niên phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, mơ hồ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thiếu động cơ phấn đấu vươn lên, ngại khó, ngại khổ, ngại rèn luyện; sống thờ ơ, bàng quan, không quan tâm đến vấn đề chính trị - xã hội của đất nước; sống thực dụng, sính ngoại, buông thả, chạy theo thị hiếu, trào lưu xã hội nhất thời, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục… Xu hướng trẻ hóa tội phạm trong thanh niên vi phạm pháp luật, như cờ bạc, nghiện hút, buôn ma tuý, cướp của, giết người… đang có xu hướng gia tăng. Theo thống kê của Bộ Công an, giai đoạn 2018 - 2020, cả nước đã ghi nhận 10.786 vụ người chưa thành niên vi phạm pháp luật, với 16.583 đối tượng có liên quan. Trong đó, nữ giới chiếm 5%, nam giới chiếm đến 95%. Riêng năm 2020, các cơ quan chức năng đã xử lý 4.262 vụ, với hơn 6.500 đối tượng phạm pháp. 

Thực tế đó càng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phải tăng cường bồi dưỡng đạo đức, lối sống, lý tưởng, niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay.

Một số giải pháp bồi dưỡng niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay

Một là, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho  thanh niên.

Việc giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc sẽ giúp cho thanh niên thấy được vinh dự, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với đất nước, với sự hy sinh của lớp lớp thế hệ đi trước cho đất nước, từ đó thẩm thấu một các tự giác niềm tin của thế hệ trẻ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Tiếp tục kiên trì, coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập, nghiên cứu và vận dụng chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống”. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương và cán bộ đoàn các cấp cần làm tốt công tác quản lý, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên thông qua các hoạt động thực tiễn cụ thể, thiết thực, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị, địa phương và trình độ nhận thức của thanh niên; tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn và nhu cầu, tâm lý của giới trẻ hiện nay; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục truyền thống với phương pháp hiện đại, giữa giáo dục, thuyết phục, nêu gương với biện pháp hành chính, giữa tôn trọng nhân cách cá nhân với đặt ra yêu cầu ngày càng cao trong rèn luyện, từng bước hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của mỗi người thanh niên.

Hai là, phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội, phát hiện, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão của thanh niên.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hoá Việt Nam”. Theo đó, công tác chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, phát triển thanh niên phải đi vào thực chất, bền vững, dựa trên “kiềng ba chân” gia đình, nhà trường và xã hội, gắn kết với nhau trong các khâu, các bước giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của gia đình: “Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”.

Ba là, chú trọng xây dựng môi trường văn hoá thật sự trong sạch, lành mạnh, dân chủ, thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc để thanh niên phát triển.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cần chú ý xây dựng môi trường, điều kiện học tập, rèn luyện, lao động, giải trí để thanh niên phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hoà cả về thể lực, trí lực và tâm hồn”(14). Môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, dân chủ, thấm đẫm giá trị nhân văn sâu sắc có ý nghĩa rất quan trọng để thanh niên phát triển. Môi trường đó là những mối quan hệ xã hội, các điều kiện tự nhiên, các điều kiện bảo đảm cho quá trình sinh sống, làm việc của thanh niên… Đây là những tác nhân, điều kiện ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, phát triển của thanh niên; môi trường không thuận lợi sẽ cản trở sự phát triển của thanh niên, ngược lại, nếu môi trường thuận lợi sẽ kích thích, tạo động lực để thanh niên công tác, làm việc theo đúng năng lực, sở trường, thế mạnh, thúc đẩy họ không ngừng phấn đấu vươn lên. Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, đề cao tinh thần nêu gương của mỗi người, xây dựng môi trường dân chủ, đoàn kết, thương yêu, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động trong tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của thanh niên, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh: “Bản thân mỗi thanh niên phải luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, cầu tiến bộ; bồi dưỡng tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn”(15). Mỗi thanh niên thường xuyên tự phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, tránh xa cạm bẫy của tệ nạn xã hội, rèn luyện  bản lĩnh vững vàng, đạo đức trong sáng, biết “tự soi”, “tự sửa” hằng ngày, để ngày càng tiến bộ; khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại khổ, ngại rèn luyện ở mỗi thanh niên; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu đựng khó khăn, gian khổ và dám chịu trách nhiệm với hành động, việc làm của mình.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp thêm sức mạnh, niềm tin sâu sắc về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, để thanh niên Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tự tin “tay cầm cờ sao vàng tiến lên”, “góp sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, xứng đáng với kỳ vọng và niềm tin yêu của Đảng, Bác Hồ và nhân dân cả nước đối với thế hệ trẻ”./.  

ST.