Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2024
NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG NGỪA CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM HIỆN NAY!
NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VIỆT NAM - ĐIỂM HẸN HÒA BÌNH!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH NƯỚC VÕ VĂN THƯỞNG THĂM, CHÚC TẾT QUÂN VÀ DÂN XÃ ĐẢO THỔ CHÂU!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHÔNG SỢ KHUYẾT ĐIỂM VÌ CÓ ĐỦ NGHỊ LỰC VÀ QUYẾT TÂM ĐỂ SỬA CHỮA!
Thực hiện bình đẳng giới trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Trong sự nghiệp chiến đấu, bảo vệ đất nước, vị trí, vai trò của phụ nữ trong quân đội đã được khẳng định. Hiện nay, việc thực hiện bình đẳng giới một cách thực chất và hiệu quả là cơ sở, điều kiện để phụ nữ trong quân đội tiếp tục cống hiến, thể hiện vai trò của mình trong giai đoạn cách mạng mới.
Nam nữ bình đẳng là một trong những quyền cơ bản, thiêng liêng của con người. Đấu tranh cho nam nữ bình quyền, giải phóng phụ nữ luôn gắn liền với các cuộc cách mạng xã hội. Bình đẳng đối với phụ nữ chính là thước đo trình độ phát triển, tiến bộ của xã hội. Ở Việt Nam, thực hiện bình đẳng giới là chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Quyền bình đẳng giới đã được hiến định ngay từ Hiến pháp đầu tiên của đất nước. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 đã khẳng định: “Tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước”.
Trong những năm qua, các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đã được triển khai thực hiện, tạo sự chuyển biến toàn diện về nhận thức và hành vi đối với việc bảo vệ quyền bình đẳng giới của phụ nữ về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội trong gia đình và ngoài cộng đồng. Tuy là một môi trường đặc thù, nhưng quân đội đã triển khai thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của nữ giới theo Hiến pháp, pháp luật, góp phần phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tình hình thực hiện bình đẳng giới trong quân đội
Quân đội là một tổ chức quân sự nên số lượng nữ không nhiều; phân bổ không đều ở các quân, binh chủng và các cơ quan, đơn vị, thậm chí nhiều đơn vị không có nữ. Thực hiện quan điểm, chính sách về bình đẳng giới của Đảng, Nhà nước ta, nhất là thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của Bộ Chính trị “Về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, các chương trình công tác trọng tâm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bình đẳng giới trong quân đội được cụ thể hóa qua các hoạt động tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ quân đội vừa “đảm việc nhà”, vừa phát huy vai trò trên các lĩnh vực hoạt động quân sự, hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các cơ quan, đơn vị góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Những năm qua, quân đội luôn quan tâm thực hiện bình đẳng giới gắn liền với công tác phụ nữ. Công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới trong quân đội được tiến hành theo các kế hoạch hành động từng giai đoạn, dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và cấp ủy, tổ chức chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Bộ Quốc phòng đã quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Quyết định số 2351/2010/QĐ-TTg, ngày 24-12-2010, của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020”; Quyết định số 515/QĐ-TTg, ngày 31-3-2016, của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2020”… Theo đó, công tác bình đẳng giới trong quân đội đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trên một số lĩnh vực chính trị, kinh tế và lao động, giáo dục và đào tạo, y tế, gia đình, thông tin…
Trên lĩnh vực chính trị, các cấp ủy, tổ chức chỉ huy chú trọng làm tốt công tác giáo dục cho phụ nữ nhận thức đúng vai trò, vị thế của mình trong xã hội và trong quân đội; động viên chị em tích cực tham gia các hoạt động của các cơ quan, đơn vị; giải quyết hài hòa giữa công việc chung với việc gia đình, không tự ti, mặc cảm giới. Đồng thời, các đơn vị đã xây dựng quy hoạch phát triển, duy trì tỷ lệ cán bộ nữ phù hợp ở một số ngành chuyên môn kỹ thuật và cán bộ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở các cơ quan, đơn vị. Giai đoạn 2011 - 2020, tỷ lệ cán bộ nữ tăng từ 1,8% (năm 2010) lên 2,83% (6 tháng đầu năm 2020) trong tổng số cán bộ đang công tác của toàn quân; tỷ lệ nữ được kết nạp vào Đảng trung bình mỗi năm đạt 9,11% (năm 2010 đạt 8,55%), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp đạt 2,62% (tính đến tháng 6-2020); 100% đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng có đại diện phụ nữ tham gia các hội đồng tư vấn, các đoàn kiểm tra về những vấn đề có liên quan đến phụ nữ và trẻ em(2). Đến nay, số cán bộ nữ giữ chức vụ quản lý, chỉ huy so với tổng số cán bộ nữ hiện đang công tác là 25,8% (trong đó cấp trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng là 0,19%; cấp cục và tương đương là 1,07%; cấp phòng, khoa và tương đương là 16,7%; cấp tiểu đoàn, đại đội là 6,15%; 1 nữ quân nhân được phong quân hàm cấp tướng.
Việc tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm quân nhân vào những vị trí phù hợp được quan tâm, bảo đảm dân chủ, khách quan theo hướng tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Công tác quy hoạch cán bộ nữ được triển khai phù hợp với từng cấp, từng ngành và quy hoạch chung của quân đội. Các cấp ủy, tổ chức chỉ huy trong quân đội ngày càng quan tâm đến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, xã hội cho phụ nữ quân đội. Do đó, cán bộ, hội viên phụ nữ quân đội luôn có lập trường chính trị, tư tưởng kiên định, vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, ý thức, thái độ làm việc nghiêm túc, phẩm chất đạo đức tốt, đoàn kết, tương thân tương ái giúp nhau cùng tiến bộ; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; sôi nổi trong hoạt động phong trào, chịu thương, chịu khó, cần, kiệm trong thực hiện nhiệm vụ và chăm lo cuộc sống gia đình.
Trên lĩnh vực kinh tế và lao động, các doanh nghiệp đều bố trí đủ việc làm cho lao động nữ. Điều kiện làm việc, môi trường lao động từng bước được cải thiện, trang thiết bị ngày càng được đầu tư nâng cấp; phương tiện cá nhân được các đơn vị bảo đảm đủ cho người lao động theo quy định, đặc biệt đối với lao động nữ; thực hiện nghiêm chế độ phụ cấp lương độc hại. Hằng năm, Bộ Quốc phòng có chỉ tiêu, chính sách cụ thể trong tuyển chọn công dân nữ nhập ngũ. 100% công dân nữ được tuyển chọn, tuyển dụng đều tốt nghiệp đào tạo trung cấp trở lên; trong đó, trình độ đại học, cao đẳng chiếm 77,25%, cơ bản được bố trí sử dụng đúng chuyên ngành, nhằm phát huy tối đa năng lực, sở trường và khả năng công tác. Thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, điều chỉnh tổ chức quân đội đến năm 2021 theo Kết luận số 16-KL/TW, ngày 7-7-2017, của Bộ Chính trị “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021”, các cơ quan chức năng đã phối hợp tham mưu, đề xuất giải quyết thôi phục vụ tại ngũ, thôi phục vụ trong quân đội cho các đối tượng thuộc thẩm quyền, trong đó, số nữ chiếm 20,91%.
Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, “Phụ nữ làm kinh tế giỏi” và các mô hình tiết kiệm, hỗ trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn phát triển kinh tế gia đình được đẩy mạnh. Từ năm 2012 đến nay, Bộ Quốc phòng hỗ trợ 27 tỷ đồng cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn vay vốn không tính lãi, phát triển kinh tế gia đình, góp phần xây dựng gia đình “No ấm, tiến bộ, hạnh phúc”, giảm tỷ lệ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn trên tổng số phụ nữ toàn quân từ 2,12% (năm 2011) xuống còn 1,59% (6 tháng đầu năm 2020). Tuyển dụng nữ công dân vào phục vụ tại ngũ đạt 66,67%, tỷ lệ nữ được tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp từ công nhân và viên chức quốc phòng đạt 43,8% so với tổng quân số được tuyển chọn; tỷ lệ nữ được nâng loại, chuyển nhóm lương là 42,93%.
Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, hầu hết cán bộ nữ đều có bản lĩnh chính trị vững vàng; trình độ năng lực lãnh đạo, chỉ huy quản lý và trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ đã có bước phát triển mới theo yêu cầu nhiệm vụ. Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã quan tâm đến việc tạo nguồn, bồi dưỡng cán bộ nữ. Năm 2019, toàn quân có 99,8% cán bộ nữ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, trong đó 38,8% có trình độ sau đại học (tăng 4,5% so với năm 2018); 0,76% cán bộ nữ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tại các học viện, nhà trường; có 49 học viên nữ tốt nghiệp các học viện, nhà trường được phong quân hàm sĩ quan; 102 học sinh nữ được tuyển sinh vào các học viện, trường sĩ quan; 4 nữ học viên được tuyên dương học viên giỏi, tốt nghiệp thủ khoa…. Giai đoạn 2016 - 2021, tổng số lượt phụ nữ được đào tạo, bồi dưỡng là 24.216, trong đó, trên đại học là 2.023; đại học là 3.786; cao đẳng là 2.711; trung cấp là 3.362; đào tạo nghề, đào tạo lại là 12.244.
Trên lĩnh vực y tế, lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể liên quan triển khai thực hiện Cuộc vận động “Phụ nữ thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khỏe gia đình và cộng đồng”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”. Quân y các đơn vị trong toàn quân đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấn về chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống tai nạn thương tích; nâng cao chất lượng tư vấn, khám sức khỏe định kỳ kết hợp khám, điều trị các bệnh phụ khoa; chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ. Giai đoạn 2011 - 2020, 100% phụ nữ được tiếp cận các dịch vụ y tế và khám sức khỏe định kỳ; chất lượng chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ ngày càng được nâng lên.
Trên lĩnh vực văn hóa và thông tin, thường xuyên quan tâm, bảo đảm bình đẳng giới giữa nam, nữ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, công nhân viên chức và lao động quốc phòng trong tham gia các hoạt động và hưởng thụ văn hóa, tiếp cận, sử dụng các nguồn thông tin. Định kỳ hằng tháng, Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội, Báo Quân đội nhân dân và các cơ quan truyền thông của đơn vị trong toàn quân có ít nhất 1 chuyên mục, chuyên đề, bài viết tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, về phòng, chống bạo lực gia đình; với các chuyên đề “Hậu phương của chúng ta”; Kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam đã có chuyên mục “Nữ quân nhân” tuyên truyền về bình đẳng giới và gương phụ nữ tiêu biểu trên các lĩnh vực công tác. Biên soạn, phát hành nhiều sản phẩm truyền thông: 50 số Thông tin Phụ nữ Quân đội với 450.000 cuốn; 430.000 tờ rơi, 7.600 áo truyền thông tuyên truyền về “Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới” cấp phát cho Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ và tổ chức hội phụ nữ trong toàn quân; không có các sản phẩm văn hóa, thông tin mang định kiến giới.

Trên lĩnh vực gia đình, những năm qua, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các đơn vị tổ chức tốt các hoạt động truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình và tệ nạn xã hội hưởng ứng “Tháng hành động quốc gia phòng, chống bạo lực gia đình”, “Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới”. Phụ nữ quân đội đã xây dựng kế hoạch và triển khai tổ chức thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Phụ nữ quân đội đoàn kết - sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với đẩy mạnh việc thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”; phòng, chống, ngăn chặn hiệu quả vụ việc bạo lực trong các gia đình quân nhân. Đến nay, số vụ việc vi phạm Luật Hôn nhân gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Trẻ em trong quân đội đều giảm; không có phụ nữ trong quân đội là nạn nhân của các vụ buôn bán người.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện bình đẳng giới trong quân đội hiện nay còn những vấn đề đặt ra: Định kiến về giới, phân biệt đối xử nam nữ vẫn tồn tại làm cho phụ nữ gặp không ít khó khăn, thiệt thòi trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, cơ hội được bồi dưỡng đào tạo, thăng tiến, đề bạt; tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, coi nhẹ phụ nữ vẫn tồn tại trong quan hệ công tác và đời sống sinh hoạt quân nhân; một số cấp ủy đảng, tổ chức chỉ huy, các đoàn thể chưa thực sự quan tâm đến công tác phụ nữ và bồi dưỡng, phát triển cán bộ nữ; các chế độ, chính sách, mục tiêu quốc gia của Nhà nước đã ban hành vì sự tiến bộ của phụ nữ có lúc, có nơi chưa triển khai đồng bộ; số phụ nữ quân đội tham gia cấp ủy, lãnh đạo, quản lý còn ít; trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của chị em nhìn chung chưa cao; công tác tuyên truyền về bình đẳng giới có lúc chưa thường xuyên, chậm đổi mới nội dung, hình thức. Mặt khác, có không ít phụ nữ quân đội còn tư tưởng an phận, ngại phấn đấu, làm việc cầm chừng, tư tưởng tự ti, mặc cảm vì định kiến, sinh con thứ ba... Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế trên thuộc về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ các cấp và ý thức tự giác của một số phụ nữ về vấn đề này chưa cao.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới trong quân đội trong thời gian tới
Một là, tạo sự chuyển biến trong nhận thức của các chủ thể bình đẳng giới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp trong thực hiện, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới”. Điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện bình đẳng giới trong quân đội trước hết phải nâng cao nhận thức của các chủ thể. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản, như quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, quân đội và cấp ủy các cấp về vấn đề thực hiện bình đẳng giới; thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới cho mọi đối tượng trong quân đội; xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp hoạt động giữa các chủ thể hướng vào nâng cao hiệu quả thực hiện vấn đề bình đẳng giới; thông qua hoạt động thực tiễn chuyên môn ở đơn vị để bồi dưỡng ý thức, thái độ, trách nhiệm các tổ chức, cá nhân trong nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới.
Hai là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp thực hiện bình đẳng giới trong quân đội. “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tham mưu có hiệu quả công tác cán bộ nữ,... góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đây là giải pháp mang tính đột phá nhằm trang bị những yếu tố cốt lõi cho sự hình thành và phát triển khả năng thực hiện bình đẳng giới trong quân đội. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải căn cứ tình hình, đặc điểm của nữ quân nhân, nhiệm vụ của của từng loại hình đơn vị để xây dựng kế hoạch, bồi dưỡng nâng cao khả năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, cũng như kiến thức về bình đẳng giới. Đồng thời, trên cơ sở kế hoạch, đối tượng, nội dung đã xác định để hoạt động bình đẳng giới mang lại hiệu quả, cần đa dạng hình thức, biện pháp tiến hành. Hoạt động này có thể diễn ra ở nhiều cấp độ, nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi đối tượng, mỗi hoàn cảnh cụ thể. Bên cạnh đó, bản thân nữ quân nhân phải nỗ lực, tích cực, chủ động trải nghiệm thực tiễn quân sự.
Ba là, phát huy tính tích cực, tự giác, tự học tập, tự rèn luyện phấn đấu vươn lên của phụ nữ quân đội. Đây là giải pháp có ý nghĩa trực tiếp quyết định đến hiệu quả công tác bình đẳng giới trong quân đội, bởi phụ nữ quân đội vừa là chủ thể, vừa là đối tượng trong quá trình này. Bên cạnh tác động của những điều kiện khách quan thuận lợi, để quá trình này đạt hiệu quả mong muốn, đòi hỏi phải phát huy cao độ tính tích cực, tự giác, tự học tập, rèn luyện của từng cá nhân phụ nữ quân đội. Đây chính là nhân tố chủ quan trực tiếp quyết định đến chất lượng và hiệu quả của toàn bộ quá trình thực hiện bình đẳng giới trong quân đội. Nếu phụ nữ quân đội không phát huy tính tích cực, tự giác, tự giáo dục, rèn luyện, phấn đấu vươn lên thì khó có thể hoàn thiện các phẩm chất cần thiết của bản thân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp, như thường xuyên giáo dục, xây dựng động cơ, xu hướng nghề nghiệp đúng đắn; tích cực học tập, tự rèn luyện không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực; quan tâm, tạo điều kiện để phụ nữ quân đội tự học tập, tự rèn luyện, tự phát triển và thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua và tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động thực tiễn quân sự…/.
ST.
Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhân tố cơ bản bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Việc làm rõ các nguyên nhân và nhân tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đưa đến những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử, sẽ góp phần làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
1- Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề lý luận và thực tiễn sâu sắc, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: “Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học”. “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”. Đây là vấn đề đã, đang và tiếp tục được đặt ra trong các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, cũng như ở nước ta nói riêng.
Sau năm 1954, miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì chưa có kinh nghiệm nào khác về chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta mô phỏng theo mô hình Liên Xô, thiết lập hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, xóa bỏ thị trường tự do, thiết lập nền kinh tế hoạt động theo mô hình kế hoạch hóa tập trung dưới sự chỉ đạo thống nhất theo mệnh lệnh từ Trung ương. Mô hình ấy đã đạt được những thành tựu nhất định và tỏ ra phù hợp trong điều kiện chiến tranh, miền Bắc vừa là hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến miền Nam, vừa trực tiếp đánh trả chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng và thống nhất đất nước. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, chúng ta lại áp dụng mô hình đó cho miền Nam để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Những khuyết tật vốn có của mô hình chủ nghĩa xã hội cũ đã bộc lộ ra ngày càng rõ hơn, gay gắt hơn, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã thẳng thắn thừa nhận: “Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Công cuộc đổi mới do Đại hội VI khởi xướng nhằm khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, được bắt đầu từ việc nhận diện rõ và khắc phục những sai lầm trong cơ chế quản lý, mà trọng tâm là vấn đề quy mô của sự sở hữu, cụ thể như sau:
Thứ nhất, trước đây, chúng ta đã hiểu và vận dụng một cách giáo điều lý luận của C. Mác về chủ nghĩa xã hội. Lý luận của C. Mác chủ yếu nêu về bước quá độ trực tiếp từ một nước tư bản phát triển lên chủ nghĩa xã hội. Theo đó, ở những nước tư bản phát triển, sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp vô sản chỉ cần xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ công hữu là quá độ ngay lên chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa đó, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăng-ghen viết: “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu”. Trong khi đó, nước ta lại quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, trong một điều kiện, hoàn cảnh khác so với C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã nêu, song chúng ta vẫn áp dụng cứng nhắc những nguyên lý của học thuyết Mác. Kết quả là, chúng ta đã rơi vào giáo điều khi vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ trương tiến hành xây dựng ngay nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu thuần khiết, nên chúng ta đã không tạo ra được sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất, khi quan hệ sản xuất có những yếu tố vượt quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (như Văn kiện Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ). Cũng chính vì vậy, chúng ta không những không có được chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng của C. Mác; mà trái lại, còn đưa đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, chậm phát triển, thậm chí có thời điểm còn khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội.
Thứ hai, giai đoạn trước năm 1986, chúng ta đã tuyệt đối hóa vai trò của kiến trúc thượng tầng trong xây dựng các quan hệ sở hữu. Chủ yếu dùng mệnh lệnh hành chính để thực hiện quá trình tập trung hóa, xã hội hóa một cách hình thức, phi kinh tế; hành chính hóa cao độ các quan hệ kinh tế; xóa bỏ nhanh các hình thức sở hữu phi xã hội chủ nghĩa. Sự tác động của thể chế chính trị không ăn khớp với sự vận động của nền kinh tế, của các quy luật kinh tế, làm cho nền kinh tế không phát triển được, rơi vào tình trạng trì trệ, bế tắc, kém hiệu quả.

Thứ ba, sai lầm của việc thiết lập chế độ sở hữu công cộng trước đây là công hữu hóa, tập thể hóa cao độ, thoát ly khỏi tính tất yếu kinh tế - kỹ thuật, khỏi nền sản xuất hàng hóa. Điều đó làm cho chế độ sở hữu mới chỉ có tính pháp lý, chứ chưa bao hàm được nội dung kinh tế. Chúng ta đã đồng nhất chủ nghĩa xã hội với quốc doanh hóa, tập thể hóa, chủ trương tiến hành xóa bỏ mọi thành phần kinh tế khác, bất chấp những tiền đề kinh tế - xã hội có cho phép hay không. Vì chỉ còn một chủ thể sản xuất, nên đương nhiên dẫn đến chỉ còn chế độ quản lý theo kiểu tập trung quan liêu với đặc trưng cơ bản là cấp phát vật tư, giao nộp sản phẩm theo kế hoạch mà không tính đến hiệu quả. Trong những quan niệm và cơ chế đó dĩ nhiên sẽ không có chỗ cho quan hệ hàng hóa tiền tệ, không thừa nhận sản xuất hàng hóa.
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nước ta thời kỳ trước đổi mới, cũng như sự thoái trào của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua xuất phát từ nhiều nhân tố; nhưng có nguyên nhân cơ bản là “đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản”.
2- Để đưa nền kinh tế - xã hội nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ, bế tắc, chúng ta đã học tập tinh thần của V.I. Lê-nin, nghiêm túc đánh giá, nhận thức lại, đổi mới các quan hệ sở hữu, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu. Chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển đổi xã hội đúng hướng, thực hiện khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới ở Việt Nam từng bước thành công và cho đến nay, chúng ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu rực rỡ nhất, trước hết là kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, xã hội có nhiều thay đổi tiến bộ, đất nước tăng thêm vị thế trên trường quốc tế và “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy những chuyển đổi rõ rệt, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chuyển đổi từ mô hình “tập trung quan liêu bao cấp”, mô hình “phân phối mang nặng tính bình quân” sang mô hình “quan hệ hàng hóa - tiền tệ”, xây dựng và phát triển “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, vừa phân phối theo lao động, theo vốn, hiệu quả kinh doanh, vừa theo hướng bảo đảm phúc lợi xã hội và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Thứ hai, chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ bao gồm hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể sang nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế, đa dạng hình thức sở hữu.
Thứ ba, chuyển đổi từ nền kinh tế khép kín, đóng cửa sang nền kinh tế mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung.
Thứ tư, chuyển đổi từ hình thức Nhà nước chuyên chính vô sản sang hình thức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; tăng cường sinh hoạt dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; chuyển đổi hình thức tập hợp quần chúng nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội còn mang nặng tính hành chính sang nhiều đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở, rất phong phú, đa dạng, hài hòa các lợi ích chính đáng khác nhau.
Thực tiễn sự chuyển đổi trên đây diễn ra trong cả quá trình đổi mới hơn 35 năm qua, từ “điểm” đến “diện” rộng, từ thấp đến cao, từ lượng sang chất, như từ chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã mở rộng ra thành hội nhập quốc tế nói chung, từ thừa nhận và khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, đến khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế…

Những nhân tố tác động, ảnh hưởng đến những quá trình chuyển đổi sâu sắc trên bao gồm:
Thứ nhất, quá trình đổi mới tư duy trong lãnh đạo, quản lý.
Trước hết, Đảng ta không ngừng đổi mới về tư duy, nhận thức trên cơ sở sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin được Đảng xác định là nền tảng tư tưởng của Đảng và toàn xã hội; khắc phục những sai lầm, khuyết điểm trong tư duy giáo điều về chủ nghĩa xã hội trước đây. Chúng ta đã nhận thức đúng đắn hơn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là xuất phát điểm của nước ta, từ một nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển. Đó là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, lâu dài, với những hình thức kinh tế quá độ, những “mắt xích” trung gian để hiện thực hóa dần, tiến từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Những thay đổi nhận thức lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sản phẩm, thành quả trực tiếp của đổi mới tư duy. Đồng thời, chúng ta cũng gắn chặt chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội; không hy sinh, đánh đổi môi trường, công bằng xã hội để đổi lấy kinh tế…
Thứ hai, phát huy dân chủ rộng rãi trong mọi sinh hoạt xã hội.
Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”. Ngày nay, dân chủ là nhu cầu chính trị, giá trị văn hóa, văn minh của toàn nhân loại. Ở Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đổi mới, là bản chất của chế độ chính trị và của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới luôn gắn liền với sự tôn trọng và phát huy dân chủ, cùng những sáng kiến, sáng tạo của nhân dân. Dân chủ trong Đảng là hạt nhân để lan tỏa và thực hành rộng rãi, thực chất dân chủ trong toàn xã hội.
Thứ ba, vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trước hết, sự lãnh đạo đúng đắn đó thể hiện ở chỗ Đảng biết khơi dậy, lắng nghe những sáng kiến từ địa phương, cơ sở và của nhân dân, định hướng kịp thời những hoạt động sáng tạo của nhân dân hướng tới mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng thể hiện rõ trong việc xác định được đường lối đổi mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Theo đó, Đảng tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, nhưng xác định rõ trọng tâm, trọng điểm và cách làm, bước đi phù hợp; vừa tiến hành đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, vừa tiến hành đổi mới trên tất cả các lĩnh vực khác. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng còn thể hiện ở việc Đảng ta thẳng thắn nhận ra những sai lầm, khuyết điểm của mình, đúc rút những bài học kinh nghiệm, kịp thời sửa chữa để có những quyết sách đúng đắn; sáng suốt, nhận diện được rõ cơ hội và thách thức, lãnh đạo nhân dân tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, luôn luôn kiên định đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa…
Các nhân tố trên có quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.
ST.






