Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2024

NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG NGỪA CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM HIỆN NAY!

     Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong!

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc
Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:
Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...

Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   

Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu./.
Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

         Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới!
Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).

Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.

Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.

Để thực hiện âm mưu thâm độc trên, các đối tượng phản động, thù địch thường dùng các thủ đoạn: Sử dụng tài khoản mạng xã hội có tương tác lớn hoặc tổ chức các chiến dịch truyền thông phát tán thông tin. Đăng tải tài liệu, thông tin, bình luận hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm sai lệch; dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả, xuyên tạc tình hình chính trị trong nước. Tiến hành xây dựng nhiều kênh thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới có sự liên kết với nhau; đặc biệt phát triển các kênh truyền thông bằng tiếng dân tộc thiểu số (Mông, Khơ me…) hướng tới đối tượng tuyên truyền là đồng bào dân tộc thiểu số.

Cổ súy tư tưởng chống phá, định kiến của một số người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phát tán, giật tít các bài viết của các đối tượng này lên Internet, mạng xã hội. Lợi dụng lợi ích cá nhân của một bộ phận người dân trong giải quyết vấn đề đất đai, các vụ án kinh tế… để kích động lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động gây rối, mất an ninh chính trị trên mạng xã hội, từ đó lan truyền, hiện thực hóa trên thực địa... Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng; trước khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, phát tán ồ ạt những tin bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, hướng lái dư luận thông qua những tiêu đề “giật gân”, “câu khách”.

Thu hút, lôi kéo người dân vào tổ chức; thâm nhập vào các diễn đàn, mạng xã hội dành cho giới trẻ để phát hiện, lôi kéo đầu mối; sử dụng các hình thức liên lạc qua mạng để móc nối, huấn luyện và chỉ đạo cơ sở phản động thực địa. Sử dụng truyền thông mạng xã hội để lừa gạt, lôi kéo nhân dân, hình thành và công khai hóa tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự hay tổ chức phản biện xã hội.

Cùng với đó, chúng lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế, quân sự… trên thế giới (xung đột quân sự Nga-Ukraine, đảo chính quân sự ở Niger…), sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các vụ án về kinh tế, hoạt động khẳng định chủ quyền biển đảo, biên giới... đề dẫn nguồn thông tin từ báo chí chính thống, pha trộn thông tin thật-giả; xuyên tạc tình hình chính trị, xã hội, kinh tế trong nước và có thời điểm tổ chức hoạt động tuyên truyền chống phá thành “chiến dịch” dưới nhiều hình thức.

Lợi dụng hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kiểm duyệt nội dung trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc; lợi dụng chính sách của mạng xã hội, thành lập hàng nghìn hội nhóm tổ chức chính trị phản động, trong đó bao gồm cả hội nhóm công khai, bí mật với số lượng thành viên tham gia lớn, lôi kéo, thu hút, mời chào thành viên tham gia, hoạt động có đường hướng, tôn chỉ, mục đích cụ thể. Tạo lập các trang mạng, tài khoản mạng xã hội giả mạo các cơ quan của nhà nước, các đồng chí lãnh đạo, các cá nhân có ảnh hưởng... để đăng tải thông tin phản động; xuyên tạc, lợi dụng sự hiếu kỳ của người dân và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận người dân để kích động cộng đồng mạng tham gia phát tán thông tin xấu độc.

Trước tình hình diễn biến trên không gian mạng ngày càng phức tạp cùng với các hoạt động chống phá có tổ chức, xây dựng và lên kế hoạch tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị, theo chúng tôi cần thực hiện một số vấn đề mang tính giải pháp sau:

Thứ nhất, sử dụng thông tin chính thống đóng vai trò dẫn dắt định hướng dư luận. Các ban ngành đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn báo chí cần phát huy được vai trò trong cung cấp thông tin chính thống kịp thời và chính xác, tránh tạo khoảng trống thông tin để các đối tượng phản động lợi dụng phát tán các thông tin xuyên tạc, để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận với thông tin chính thống trước khi tiếp cận với thông tin phản động. Hệ thống các kênh truyền thông của các cấp từ Trung ương đến địa phương cần được xây dựng đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ giữa các kênh truyền thông để tạo ra sức ảnh hưởng lớn với dư luận.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài Quân đội có thế mạnh trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và trên báo chí, Trong đó lực lượng của Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp có cơ chế phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền với nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội, yêu cầu thực hiện đúng theo pháp luật Việt Nam, hợp tác trong việc xóa bỏ các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc ảnh hưởng đến nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; phối hợp lực lượng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cung cấp trao đổi thông tin kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các đối tượng lợi dụng Internet mạng xã hội để tổ chức các hoạt động phát tán tin giả, thông tin sai sự thật nguy hại đến chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ ba, nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động đấu tranh. Xây dựng và khai thác có hiệu quả các trọng tâm nghiên cứu công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực, từ đó có kế hoạch để triển khai các nhiệm vụ truyền thông, đấu tranh với thông tin xấu bảo đảm sự bài bản, tính chính xác, hiệu quả. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp, ứng dụng sức mạnh của khoa học, công nghệ thông tin để tăng cường khả năng theo dõi, bám nắm, giám sát tình hình; hỗ trợ cho công tác quản lý, đánh giá chất lượng các hình thức đấu tranh. Nghiên cứu, xây dựng nội dung, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin phục vụ hoạt động triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc.        

Xây dựng hệ thống kênh chỉ đạo điều hành đồng bộ từ chỉ huy đến cấp thực hiện, kênh liên lạc giữa các lực lượng tham gia đấu tranh. Hệ thống cho phép điều hành tổ chức các nhiệm vụ triệt phá tin giả, thông tin sai trái, xấu độc trên Internet, mạng xã hội đồng thời là kênh để cán bộ thực hiện có thể chia sẻ kinh nghiệm cách thức tổ chức xử lý thông tin xấu độc. Trang bị cho lực lượng đấu tranh các hệ thống hiện đại để giám sát phát hiện thông tin phát hiện kịp thời các thông tin xuyên tạc trước khi bị phát tán ra nhiều tài khoản mạng xã hội tiếp cận đến số lượng lớn cộng đồng mạng.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, vai trò cán bộ, đảng viên và quần chúng trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị nâng cao hơn nữa nhận thức, vai trò, trách nhiệm, tiền phong, gương mẫu nêu gương trong việc khai thác, sử dụng Internet và mạng xã hội. Phát huy tính hiệu quả, thiết thực việc sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền tải, nhân rộng những yếu tố tích cực, tấm gương tiêu biểu, người tốt, việc tốt, những giá trị văn hóa nhân văn, tinh thần tương thân, tương ái của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, tích cực đấu tranh chống các thông tin sai trái, phản động, bịa đặt trên mạng xã hội, phê bình, phản đối các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội để chia sẻ, thông tin, bình luận, đăng tải những hình ảnh phản cảm, thiếu tinh thần trách nhiệm, thờ ơ, vô cảm với những khó khăn, mất mát của nhân dân./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VIỆT NAM - ĐIỂM HẸN HÒA BÌNH!

     Yêu chuộng hòa bình là nét văn hóa tốt đẹp, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong thời kỳ mới, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã không ngừng gìn giữ, bồi đắp, phát huy để giá trị thiêng liêng, cao quý đó càng tỏa sáng, vững bền!
1. Những năm qua, trong xu thế hội nhập quốc tế, hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam diễn ra phong phú, đa dạng trên các trụ cột và nhiều phương diện, bình diện. Công tác đối ngoại đã góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, cũng trong quá trình đó, những đối tượng hiềm khích và lực lượng chống phá cách mạng Việt Nam không ngừng tung ra các chiêu trò, thủ đoạn bôi nhọ, bẻ cong sự thật. Đã có nhiều bài viết, bài báo đăng trên các diễn đàn, website, cơ quan báo chí địa chỉ ở nước ngoài... chủ ý bịa đặt nhiều thông tin, cố tình quy chụp, cho rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ với nước này nhằm chống nước kia, hoặc dựa vào nước này để tránh sức ép từ nước khác, cố tình gây dựng đồng minh, phe cánh... Cùng với đó, chúng cố gắng xuyên tạc, bôi nhọ những giá trị truyền thống và giá trị văn hóa yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Những luận điệu nêu trên tuy không mới nhưng xuất hiện dày đặc ở những thời điểm diễn ra các hoạt động đối ngoại quan trọng của Việt Nam, cũng ít nhiều gây xáo trộn, nhiễu loạn thông tin. Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với mưu đồ gây bất hòa trong mối quan hệ giữa Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới... Mặc dù chỉ là những luận điệu vô căn cứ, bịa đặt, là tiếng nói lạc lõng, yếu ớt của một số cá nhân... nhưng hệ quả của nó sẽ hết sức nguy hại, nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phủ nhận, bóc gỡ kịp thời.

2. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam cho thấy: Dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Dù trải qua các cuộc trường kỳ kháng chiến, đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, nhưng dân tộc Việt Nam luôn khẳng định tính chính nghĩa và tinh thần yêu chuộng hòa bình bất diệt. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động nhất cho khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là lợi ích của tất cả các dân tộc, do đó phải đấu tranh cho hòa bình trên thế giới được bền vững, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”. Cũng theo Người, trừ những người đi bóc lột, còn lại đều là bạn bè, là anh em, những người chung cảnh bị bóc lột. Người là hiện thân của tinh thần “Quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” và lý tưởng “người với người là bạn”.

Thực tiễn cách mạng cho thấy, mỗi người dân Việt Nam khi bước ra chiến trường là vì độc lập, hòa bình của dân tộc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân và thực hiện tinh thần quốc tế cao cả. Họ luôn anh dũng, kiên cường chiến đấu bằng tinh thần "sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc cần", thế nhưng đến lúc giành thắng lợi cuối cùng, người dân lại hồn hậu, lạc quan đón nhận cuộc sống thái hòa bình dị, sẵn sàng "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", đúng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã đúc kết trong bài "Việt Nam quê hương ta": Đất nghèo nuôi những anh hùng/ Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa- Đây là sự khái quát đầy đủ, sinh động về tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

3. Đã có không ít lãnh đạo của các cường quốc trên thế giới và tổ chức quốc tế ghi nhận, bày tỏ cảm phục về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình và hành động vì hòa bình thế giới. Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres từng khẳng định với lãnh đạo cấp cao Việt Nam trong một cuộc điện đàm: “Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”. Đại sứ Barbara Woodward, Trưởng phái đoàn thường trực Anh tại Liên hợp quốc từng đánh giá: “... Những đóng góp của Việt Nam có giá trị cao, giúp giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với hòa bình và an ninh quốc tế”. Phát biểu khi đến thăm Việt Nam (năm 2016), Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama khẳng định: “Đối với các bạn, xung đột trong quá khứ là một ký ức không vui. Nhưng ngày hôm nay, Việt Nam và Mỹ đã cho thế giới thấy rằng, trái tim có thể thay đổi và hòa bình là điều có thể”. Đặc biệt, đã có đến 5 lần các Tổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam và chứng kiến những đổi thay của mối quan hệ hai nước, song tình cảm thân thiện, yêu chuộng hòa bình của người dân Việt Nam là giá trị bền vững làm lay động trái tim của những chính khách, như Tổng thống Obama gửi lời cảm ơn trước lúc rời Việt Nam trong chuyến thăm năm 2016: “Sự thân thiện của các bạn đã chạm đến trái tim tôi”. 

Đã từ lâu, Thủ đô Hà Nội được bạn bè quốc tế biết đến là điểm đến hòa bình, thân thiện, mến khách. Hình ảnh lãnh đạo cấp cao của các quốc gia trên thế giới đi dạo trên phố phường Việt Nam thanh bình, thưởng thức ẩm thực đường phố, uống cà phê vỉa hè... từ lâu đã không có gì mới mẻ hay lạ lẫm với người dân Việt Nam, cũng trở nên rất đỗi thân quen với truyền thông quốc tế. Đặc biệt, không phải tự dưng mà cách đây mấy năm, lãnh đạo của hai nước Mỹ và Triều Tiên đều đề nghị Việt Nam đứng ra làm nước chủ nhà tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần hai (năm 2019). Hội nghị diễn ra an toàn tuyệt đối không chỉ đối với phái đoàn hai nước mà còn với gần 3.000 phóng viên đến từ hơn 200 hãng thông tấn, báo chí quốc tế từ nhiều châu lục đến đưa tin về sự kiện này. Việt Nam đã rất nỗ lực, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho hội nghị, thể hiện rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Cả hai nguyên thủ trước khi rời Việt Nam đều gửi lời cảm ơn Việt Nam vì sự tiếp đón ân cần, chu đáo, thịnh tình và vì trách nhiệm chung với cộng đồng quốc tế.

Trong những năm gần đây, khi tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến mới, nhanh chóng và phức tạp, gây không ít khó khăn, thách thức lớn hơn so với dự báo, nhưng Việt Nam luôn là quốc gia giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển, đổi mới đất nước. Môi trường sống ở Việt Nam không ngừng được cải thiện, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, trong đó có nhiều tiêu chí gây ấn tượng, ngang với những nước phát triển. Môi trường ổn định, yên bình cùng người dân thân thiện đã thu hút các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời thuyết phục rất nhiều người nước ngoài lựa chọn sinh sống và làm việc tại Việt Nam.

Không dừng lại ở đó, Việt Nam đã và đang mang khát vọng hòa bình vươn xa bằng cách tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mỗi sĩ quan được cử đi làm nhiệm vụ đặc biệt này chính là đại sứ hòa bình, nắm trọng trách truyền đi khát vọng hòa bình của dân tộc. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện để cứu trợ nhân đạo, tái thiết cơ sở hạ tầng, rà phá bom, mìn, giúp nhân dân bản địa ổn định cuộc sống... đã trở thành biểu tượng cao đẹp, khiến hai tiếng Việt Nam được vang lên đầy tự hào ở những đất nước xa xôi.

4. Mới đây, phát biểu tại Lễ kỷ niệm 78 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2023), Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng khẳng định: Việt Nam là đất nước của hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách. Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối cho hợp tác và đối thoại, củng cố chủ nghĩa đa phương, thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình thông qua đối thoại về các tranh chấp trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; sẽ luôn là người bạn chân thành, thủy chung, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thiết lập quan hệ song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 192 quốc gia trên thế giới. Trong đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; bao gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả thành viên ASEAN. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, trong đó 96 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 28 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 220 đối tác, 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đối với Việt Nam. Việt Nam là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu... Kết quả đó cho thấy thành tích to lớn của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thế nhưng, điều đáng ghi nhận hơn là các đối tác đều tích cực, chủ động, bày tỏ lòng mong muốn hợp tác với Việt Nam; thể hiện sự cảm phục, tình yêu và sự trọng thị dành cho Việt Nam-một người bạn thủy chung-một đối tác tin cậy, luôn nỗ lực hợp tác vì lợi ích chung và vì hòa bình của thế giới.

Để tiếp tục khẳng định vai trò và sứ mệnh của một quốc gia yêu chuộng hòa bình, thời gian tới, Việt Nam tiếp tục nỗ lực giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra môi trường kinh tế-xã hội hòa bình, năng động, thân thiện. Việt Nam kiên định chủ trương: “Thêm bạn bớt thù, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đẩy mạnh công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước để không ngừng khẳng định uy tín, vị thế của dân tộc; đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam.

Đặc biệt, triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc (tháng 12-2021), đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược; chú trọng triển khai hiệu quả, đồng bộ, toàn diện, linh hoạt trên cả 3 trụ cột (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân); nỗ lực thực hiện vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; huy động mạnh mẽ các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của Đảng và đất nước. Hơn bao giờ hết, Việt Nam tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH NƯỚC VÕ VĂN THƯỞNG THĂM, CHÚC TẾT QUÂN VÀ DÂN XÃ ĐẢO THỔ CHÂU!

         TIẾP TỤC CHUYẾN CÔNG TÁC THĂM, CHÚC TẾT CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG PHÍA NAM, SÁNG 20-1, CHỦ TỊCH NƯỚC VÕ VĂN THƯỞNG ĐÃ THĂM, TẶNG QUÀ, ĐỘNG VIÊN QUÂN VÀ DÂN XÃ ĐẢO THỔ CHÂU, THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG - XÃ ĐẢO TIỀN TIÊU XA NHẤT PHÍA TÂY NAM CỦA TỔ QUỐC!

Cùng tham gia đoàn công tác với Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc và Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Nên.

Cách đất liền hơn 200km, Thổ Châu là xã đảo biên giới, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế biển, tiền đồn trọng yếu trong thế trận phòng thủ biển, đảo phía Tây Nam. Xã đảo hiện có gần 2.000 nhân khẩu sinh sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng, khai thác chế biến thủy sản và góp phần cùng các lực lượng trên đảo làm nhiệm vụ canh giữ biển trời của Tổ quốc.

* Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và đoàn đã tới thăm, tặng quà cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 152, Quân khu 9 (tiền thân là đơn vị đảo Thổ Châu, Quân chủng Hải quân). Với đặc thù là đơn vị đóng quân trên địa bàn biển, đảo, những năm qua, Trung đoàn luôn nỗ lực thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc quần đảo tiền tiêu phía Tây Nam Tổ quốc trong mọi tình huống. Đây cũng là lực lượng nòng cốt giúp nhân dân xã đảo Thổ Châu phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai.

Báo cáo với Chủ tịch nước, chỉ huy Trung đoàn 152 cho biết, thời gian qua, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn luôn đoàn kết quyết tâm cao trong thực hiện nhiệm vụ. Đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu theo hướng dẫn của cấp trên; đồng thời duy trì, đảm bảo tốt nhiệm vụ tuần tra, canh gác, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân phát triển kinh tế - xã hội.

Phát biểu tại đây, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng gửi lời chúc cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn và nhân dân trên xã đảo Thổ Châu đón Tết Giáp Thìn an toàn, vui tươi, đạt nhiều thành tựu trong năm mới 2024.

Chủ tịch nước ghi nhận, đánh giá cao kết quả công tác quốc phòng, an ninh mà Trung đoàn đã đạt được trong năm vừa qua với sự hỗ trợ, hiệp đồng chặt chẽ của nhân dân và các lực lượng của tỉnh Kiên Giang cũng như trên xã đảo Thổ Châu; giữ vững vùng trời, vùng biển trong mọi tình huống; thực hiện nghiêm chế độ trực, công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, không để bị động bất ngờ; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, mẫu mực tiêu biểu.

Đáng chú ý, Trung đoàn gìn giữ, phát huy tốt mối quan hệ gắn kết thân thiết máu thịt với nhân dân trên đảo; làm đẹp và sâu sắc hơn tình cảm quân dân “như cá với nước”, mang tới động lực động viên bà con an tâm phát triển kinh tế; phối hợp với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã góp sức xây dựng hệ thống chính trị xã đảo vững mạnh. Đơn vị đã làm tốt công tác chăm lo cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân chuẩn bị đón Tết cổ truyền dân tộc.

Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của xã đảo tiền tiêu Thổ Châu, với vị trí có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Chủ tịch nước lưu ý, nhiệm vụ quan trọng và là ưu tiên hàng đầu của đơn vị là giữ vững chủ quyền vùng trời, vùng biển vùng đảo Thổ Châu; giữ vững sự bình yên hạnh phúc cho nhân dân. Không ngừng nâng cao cảnh giác trong mọi tình huống, không để xảy ra bị động bất ngờ.

Chủ tịch nước căn dặn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 152 phát huy hơn nữa truyền thống tốt đẹp của đội quân chiến đấu, đội quân lao động sản xuất, chăm lo cho nhân dân với tinh thần: “Việc gì làm được thì hết sức làm” để phục vụ nhân dân, nhất là làm tốt nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ ngư dân khi xảy ra sự cố.

* Tiếp đó, Chủ tịch nước và đoàn đã tới thăm, tặng quà cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Thổ Châu.

Theo báo cáo của đơn vị, thời gian qua, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Thổ Châu đã thường xuyên quán triệt, triển khai hiệu quả công tác biên phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo; phối hợp tốt với các lực lượng chức năng tuyên truyền xử lý khai thác hải sản bất hợp pháp; tham mưu triển khai hiệu quả phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, biển đảo. Đơn vị cũng tổ chức tốt mô hình ngư dân không tham gia đánh bắt hải sản trái phép, ngư dân bảo vệ môi trường. Dịp này, đơn vị duy trì chế độ tuần tra, canh gác, trực sẵn sàng chiến đấu; phối hợp đảm bảo trật tự an toàn xã hội để nhân dân đón Tết Nguyên đán vui vẻ, an toàn.

Tặng quà, động viên cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng Thổ Châu, ghi sổ vàng truyền thống của đơn vị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đánh giá cao, biểu dương thành tích mà đơn vị đã đạt được, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, lãnh thổ quốc gia. Chủ tịch nước tin tưởng các cán bộ, chiến sĩ sẽ tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của Bộ đội Biên phòng Việt Nam, luôn đoàn kết, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

* Chủ tịch nước thăm, tặng quà chúc Tết bà con nhân dân trên xã đảo Thổ Châu.

Thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền và bà con nhân dân xã đảo Thổ Châu luôn đoàn kết một lòng, tranh thủ tiềm năng thế mạnh sẵn có để phát triển kinh tế với lĩnh vực nòng cốt là đánh bắt, chế biến hải sản. Nhờ đó, hạ tầng cơ sở được đầu tư xây dựng, sửa chữa nâng cấp làm mới các tuyến đường, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân trên đảo.

Tuy nhiên, người dân xã đảo Thổ Châu cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là nguồn hải sản ngày càng cạn kiệt; hàng hóa tiêu dùng giá cả cao do chủ yếu phải nhập từ đất liền, đi lại khó khăn, 5 ngày mới có một chuyến tàu ra đảo, gây khó khăn trong điều kiện thiên tai, bão lũ.

Chúc Tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã đảo Thổ Châu, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng ghi nhận những kết quả quan trọng của xã trên tất cả lĩnh vực. Kinh tế - xã hội, đời sống người dân không ngừng được nâng cao; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chỉ còn dưới 1%.

Biểu dương tinh thần đoàn kết, giải quyết tốt những yêu cầu phát sinh của người dân trong đời sống hằng ngày, Chủ tịch nước cũng đề nghị Đảng bộ, chính quyền xã đảo Thổ Châu giải quyết tốt các vấn đề đất ở, nhà ở cho người dân; bảo đảm các công trình phục vụ đánh bắt trên biển, điều kiện tránh trú bão của bà con. Tổ chức quy hoạch lại xã đảo với các mục đích sử dụng đất phù hợp để sao cho mỗi người dân, mỗi gia đình ra đảo đều được an cư; phấn đấu để xã đảo không còn hộ nghèo.

Nhấn mạnh đến yếu tố địa lý đặc thù của xã đảo với tỷ lệ rừng bao phủ lớn, Chủ tịch nước đề nghị chính quyền, bà con nhân dân địa phương bên cạnh phát triển kinh tế, cần hết sức chú trọng bảo vệ, quản lý môi trường sinh thái và tài nguyên.

Lưu ý cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến việc học hành của các cháu, bởi trên địa bàn xã hiện chưa có trường Trung học phổ thông, Chủ tịch nước đề nghị tỉnh Kiên Giang, thành phố Phú Quốc tính toán để hỗ trợ về vấn đề này. Ngoài ra, cần nghiên cứu, sớm triển khai mô hình y tế quân dân y kết hợp, chăm lo tốt hơn sức khỏe cho bà con.

Trước mắt, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng căn dặn chính quyền xã thực hiện tốt việc chăm lo cho người dân đón Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 với tinh thần: Nhà nào cũng phải có Tết; phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đoàn kết, yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau khắc phục khó khăn, không để ai bị bỏ lại ở phía sau.

Cũng trong sáng 20-1, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Đoàn công tác đã tới dâng hương tại đền Thổ Châu để tưởng nhớ sự hy sinh của các Anh hùng liệt sĩ vì độc lập tự do cho đất nước và hơn 500 người dân vô tội bị Khmer Đỏ sát hại trong công cuộc bảo vệ chủ quyền đảo năm 1975./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHÔNG SỢ KHUYẾT ĐIỂM VÌ CÓ ĐỦ NGHỊ LỰC VÀ QUYẾT TÂM ĐỂ SỬA CHỮA!

     Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên yêu cầu Đảng Cộng sản Việt Nam phải chú ý rèn luyện cán bộ, đảng viên đức tính trung thực, không che giấu khuyết điểm, đồng thời cần tích cực sửa chữa, khắc phục để tiến bộ!
Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một Đảng chân chính cách mạng. Vì theo Người: “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa”. Người chỉ ra: Đảng và cách mạng muốn tiến bộ mãi thì chỉ có không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng: “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”.
Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng và cán bộ, đảng viên không sợ khuyết điểm vì có đủ cơ sở, điều kiện để sửa chữa khắc phục khuyết điểm: “Chúng ta không sợ khuyết điểm, vì chúng ta có đủ nghị lực và quyết tâm để sửa chữa khuyết điểm”. 
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra trách nhiệm của tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên trong việc chỉ rõ khuyết điểm và tích cực sửa chữa, khắc phục. Tháng 10-1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người viết: “Mỗi khi trong Đảng có khuyết điểm thì chúng ta phải tìm cách chớ để cho ai lợi dụng. Đó là phận sự của mỗi một đảng viên chân chính”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lỗi lầm trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.
Trong những giải pháp thực hiện việc chỉ ra và sửa chữa khuyết điểm, Hồ Chí Minh coi trọng tính tự giác, kiên trì, kiên quyết của các tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, đồng thời yêu cầu nếu có sai phạm, khuyết điểm thì phải thật thà thừa nhận với nhân dân và phải dựa vào ý kiến của quần chúng nhân dân mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, tư tưởng, chỉ đạo trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quán triệt, triển khai thực hiện ngày càng tích cực, hiệu quả.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đánh giá: “Trong suốt quá trình phát triển và trưởng thành, Đảng ta đã luôn luôn tự đấu tranh, tự chỉnh đốn, loại bỏ những tiêu cực, khắc phục những khuyết điểm, sai lầm nhằm không ngừng làm trong sạch đội ngũ của mình”. Tổng Bí thư thẳng thắn chỉ rõ: với bản lĩnh, sự cầu thị, tính lành mạnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, có những lúc Đảng ta phải “tự chỉ trích”, “đóng cửa” để củng cố, chỉnh đốn Đảng” và cũng nhiều lúc đã công khai nhận sai lầm, khuyết điểm, công khai nói rõ những mặt yếu kém, tiêu cực trong Đảng. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng từng nêu rõ: “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn thấp. Công tác rèn luyện, quản lý đảng viên ở một số nơi còn chưa được quan tâm đúng mức, còn thiếu chặt chẽ; có nơi còn buông lỏng sinh hoạt đảng, chất lượng sinh hoạt chưa cao, sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi vẫn còn hình thức; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu. Một số tổ chức đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu”. Và: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện và hiệu quả thấp”.
Nhưng cùng với việc chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, Đảng luôn có các chủ trương, chính sách, giải pháp sửa chữa khắc phục tích cực, hiệu quả. Chỉ tính từ khi đổi mới, Đảng đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, nhiều cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với quan điểm chỉ đạo là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện, thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở. 
Đồng thời, chúng ta đã và đang còn phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống với những thông tin xấu, độc mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tung ra trên mạng về nội dung này. Các thế lực chống đối cho rằng, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên chỉ: “Rất khoái họp hành, hội nghị, đại hội, ra nghị quyết... con mắt họ chỉ thích ngắm màu hồng” và “họ luôn khẳng định sự thành công. Sự tự tin thái quá ấy đã khiến họ không chấp nhận thất bại”. Chúng còn quy kết: “Nếu thất bại, họ có cách (nhất là bằng tuyên truyền) chuyển bại thành thắng. Để yên dân, để giữ sự ổn định xã hội, để lôi cuốn dân chúng vào sự nghiệp của mình, cách phổ biến nhất thường thấy ở người cộng sản và thể chế của họ là chỉ nhấn mạnh, ca ngợi, tung hô thành công, đồng thời lờ đi, im đi những thất bại”, hay: “Họ cố làm sai rồi lại cố tìm mọi cách để sửa cái sai và xem đó là thành tích họ đạt được”.
Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không lôi kéo, kích động hay làm nao núng ý chí quyết tâm, niềm tin, sự kiên định vào Đảng, vào chế độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam. Chúng ta đã và đang thực hiện ngày càng hiệu quả khẳng định của Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta không sợ nói ra khuyết điểm, tiêu cực; đồng thời, cũng không cho phép ai lợi dụng việc đấu tranh khắc phục khuyết điểm, tiêu cực để bôi nhọ, kích động chống phá Đảng ta, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. 
Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn xác định việc đấu tranh khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm trong Đảng, trong xã hội còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào ý chí quyết tâm đã được khẳng định: “Với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của toàn dân, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất định chúng ta sẽ làm chuyển biến được tình hình để không phụ lòng mong đợi của Nhân dân đối với Đảng; để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, thật sự “là đạo đức, là văn minh”./.
Yêu nước ST.

Thực hiện bình đẳng giới trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

 Trong sự nghiệp chiến đấu, bảo vệ đất nước, vị trí, vai trò của phụ nữ trong quân đội đã được khẳng định. Hiện nay, việc thực hiện bình đẳng giới một cách thực chất và hiệu quả là cơ sở, điều kiện để phụ nữ trong quân đội tiếp tục cống hiến, thể hiện vai trò của mình trong giai đoạn cách mạng mới.

Nam nữ bình đẳng là một trong những quyền cơ bản, thiêng liêng của con người. Đấu tranh cho nam nữ bình quyền, giải phóng phụ nữ luôn gắn liền với các cuộc cách mạng xã hội. Bình đẳng đối với phụ nữ chính là thước đo trình độ phát triển, tiến bộ của xã hội. Ở Việt Nam, thực hiện bình đẳng giới là chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Quyền bình đẳng giới đã được hiến định ngay từ Hiến pháp đầu tiên của đất nước. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 đã khẳng định: “Tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước”.

Trong những năm qua, các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đã được triển khai thực hiện, tạo sự chuyển biến toàn diện về nhận thức và hành vi đối với việc bảo vệ quyền bình đẳng giới của phụ nữ về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội trong gia đình và ngoài cộng đồng. Tuy là một môi trường đặc thù, nhưng quân đội đã triển khai thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của nữ giới theo Hiến pháp, pháp luật, góp phần phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tình hình thực hiện bình đẳng giới trong quân đội

Quân đội là một tổ chức quân sự nên số lượng nữ không nhiều; phân bổ không đều ở các quân, binh chủng và các cơ quan, đơn vị, thậm chí nhiều đơn vị không có nữ. Thực hiện quan điểm, chính sách về bình đẳng giới của Đảng, Nhà nước ta, nhất là thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của Bộ Chính trị “Về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, các chương trình công tác trọng tâm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bình đẳng giới trong quân đội được cụ thể hóa qua các hoạt động tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ quân đội vừa “đảm việc nhà”, vừa phát huy vai trò trên các lĩnh vực hoạt động quân sự, hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các cơ quan, đơn vị góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng các đại biểu tham quan các sản phẩm của phụ nữ quân đội trưng bày tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Quân đội lần thứ VII (2021 - 2026)_Nguồn: qdnd.vn

Những năm qua, quân đội luôn quan tâm thực hiện bình đẳng giới gắn liền với công tác phụ nữ. Công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới trong quân đội được tiến hành theo các kế hoạch hành động từng giai đoạn, dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và cấp ủy, tổ chức chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Bộ Quốc phòng đã quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Quyết định số 2351/2010/QĐ-TTg, ngày 24-12-2010, của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020”; Quyết định số 515/QĐ-TTg, ngày 31-3-2016, của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2020”… Theo đó, công tác bình đẳng giới trong quân đội đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trên một số lĩnh vực chính trị, kinh tế và lao động, giáo dục và đào tạo, y tế, gia đình, thông tin…

Trên lĩnh vực chính trị, các cấp ủy, tổ chức chỉ huy chú trọng làm tốt công tác giáo dục cho phụ nữ nhận thức đúng vai trò, vị thế của mình trong xã hội và trong quân đội; động viên chị em tích cực tham gia các hoạt động của các cơ quan, đơn vị; giải quyết hài hòa giữa công việc chung với việc gia đình, không tự ti, mặc cảm giới. Đồng thời, các đơn vị đã xây dựng quy hoạch phát triển, duy trì tỷ lệ cán bộ nữ phù hợp ở một số ngành chuyên môn kỹ thuật và cán bộ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy ở các cơ quan, đơn vị. Giai đoạn 2011 - 2020, tỷ lệ cán bộ nữ tăng từ 1,8% (năm 2010) lên 2,83% (6 tháng đầu năm 2020) trong tổng số cán bộ đang công tác của toàn quân; tỷ lệ nữ được kết nạp vào Đảng trung bình mỗi năm đạt 9,11% (năm 2010 đạt 8,55%), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp đạt 2,62% (tính đến tháng 6-2020); 100% đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng có đại diện phụ nữ tham gia các hội đồng tư vấn, các đoàn kiểm tra về những vấn đề có liên quan đến phụ nữ và trẻ em(2). Đến nay, số cán bộ nữ giữ chức vụ quản lý, chỉ huy so với tổng số cán bộ nữ hiện đang công tác là 25,8% (trong đó cấp trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng là 0,19%; cấp cục và tương đương là 1,07%; cấp phòng, khoa và tương đương là 16,7%; cấp tiểu đoàn, đại đội là 6,15%; 1 nữ quân nhân được phong quân hàm cấp tướng.

Việc tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm quân nhân vào những vị trí phù hợp được quan tâm, bảo đảm dân chủ, khách quan theo hướng tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Công tác quy hoạch cán bộ nữ được triển khai phù hợp với từng cấp, từng ngành và quy hoạch chung của quân đội. Các cấp ủy, tổ chức chỉ huy trong quân đội ngày càng quan tâm đến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, xã hội cho phụ nữ quân đội. Do đó, cán bộ, hội viên phụ nữ quân đội luôn có lập trường chính trị, tư tưởng kiên định, vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, ý thức, thái độ làm việc nghiêm túc, phẩm chất đạo đức tốt, đoàn kết, tương thân tương ái giúp nhau cùng tiến bộ; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; sôi nổi trong hoạt động phong trào, chịu thương, chịu khó, cần, kiệm trong thực hiện nhiệm vụ và chăm lo cuộc sống gia đình.

Trên lĩnh vực kinh tế và lao động, các doanh nghiệp đều bố trí đủ việc làm cho lao động nữ. Điều kiện làm việc, môi trường lao động từng bước được cải thiện, trang thiết bị ngày càng được đầu tư nâng cấp; phương tiện cá nhân được các đơn vị bảo đảm đủ cho người lao động theo quy định, đặc biệt đối với lao động nữ; thực hiện nghiêm chế độ phụ cấp lương độc hại. Hằng năm, Bộ Quốc phòng có chỉ tiêu, chính sách cụ thể trong tuyển chọn công dân nữ nhập ngũ. 100% công dân nữ được tuyển chọn, tuyển dụng đều tốt nghiệp đào tạo trung cấp trở lên; trong đó, trình độ đại học, cao đẳng chiếm 77,25%, cơ bản được bố trí sử dụng đúng chuyên ngành, nhằm phát huy tối đa năng lực, sở trường và khả năng công tác. Thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, điều chỉnh tổ chức quân đội đến năm 2021 theo Kết luận số 16-KL/TW, ngày 7-7-2017, của Bộ Chính trị “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021”, các cơ quan chức năng đã phối hợp tham mưu, đề xuất giải quyết thôi phục vụ tại ngũ, thôi phục vụ trong quân đội cho các đối tượng thuộc thẩm quyền, trong đó, số nữ chiếm 20,91%.

Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, “Phụ nữ làm kinh tế giỏi” và các mô hình tiết kiệm, hỗ trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn phát triển kinh tế gia đình được đẩy mạnh. Từ năm 2012 đến nay, Bộ Quốc phòng hỗ trợ 27 tỷ đồng cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn vay vốn không tính lãi, phát triển kinh tế gia đình, góp phần xây dựng gia đình “No ấm, tiến bộ, hạnh phúc”, giảm tỷ lệ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn trên tổng số phụ nữ toàn quân từ 2,12% (năm 2011) xuống còn 1,59% (6 tháng đầu năm 2020). Tuyển dụng nữ công dân vào phục vụ tại ngũ đạt 66,67%, tỷ lệ nữ được tuyển chọn quân nhân chuyên nghiệp từ công nhân và viên chức quốc phòng đạt 43,8% so với tổng quân số được tuyển chọn; tỷ lệ nữ được nâng loại, chuyển nhóm lương là 42,93%.

Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, hầu hết cán bộ nữ đều có bản lĩnh chính trị vững vàng; trình độ năng lực lãnh đạo, chỉ huy quản lý và trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ đã có bước phát triển mới theo yêu cầu nhiệm vụ. Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã quan tâm đến việc tạo nguồn, bồi dưỡng cán bộ nữ. Năm 2019, toàn quân có 99,8% cán bộ nữ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, trong đó 38,8% có trình độ sau đại học (tăng 4,5% so với năm 2018); 0,76% cán bộ nữ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tại các học viện, nhà trường; có 49 học viên nữ tốt nghiệp các học viện, nhà trường được phong quân hàm sĩ quan; 102 học sinh nữ được tuyển sinh vào các học viện, trường sĩ quan; 4 nữ học viên được tuyên dương học viên giỏi, tốt nghiệp thủ khoa…. Giai đoạn 2016 - 2021, tổng số lượt phụ nữ được đào tạo, bồi dưỡng là 24.216, trong đó, trên đại học là 2.023; đại học là 3.786; cao đẳng là 2.711; trung cấp là 3.362; đào tạo nghề, đào tạo lại là 12.244.

Trên lĩnh vực y tế, lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể liên quan triển khai thực hiện Cuộc vận động “Phụ nữ thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khỏe gia đình và cộng đồng”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”. Quân y các đơn vị trong toàn quân đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấn về chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống tai nạn thương tích; nâng cao chất lượng tư vấn, khám sức khỏe định kỳ kết hợp khám, điều trị các bệnh phụ khoa; chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ. Giai đoạn 2011 - 2020, 100% phụ nữ được tiếp cận các dịch vụ y tế và khám sức khỏe định kỳ; chất lượng chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ ngày càng được nâng lên.

Trên lĩnh vực văn hóa và thông tin, thường xuyên quan tâm, bảo đảm bình đẳng giới giữa nam, nữ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ, công nhân viên chức và lao động quốc phòng trong tham gia các hoạt động và hưởng thụ văn hóa, tiếp cận, sử dụng các nguồn thông tin. Định kỳ hằng tháng, Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội, Báo Quân đội nhân dân và các cơ quan truyền thông của đơn vị trong toàn quân có ít nhất 1 chuyên mục, chuyên đề, bài viết tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, về phòng, chống bạo lực gia đình; với các chuyên đề “Hậu phương của chúng ta”; Kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam đã có chuyên mục “Nữ quân nhân” tuyên truyền về bình đẳng giới và gương phụ nữ tiêu biểu trên các lĩnh vực công tác. Biên soạn, phát hành nhiều sản phẩm truyền thông: 50 số Thông tin Phụ nữ Quân đội với 450.000 cuốn; 430.000 tờ rơi, 7.600 áo truyền thông tuyên truyền về “Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới” cấp phát cho Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ và tổ chức hội phụ nữ trong toàn quân; không có các sản phẩm văn hóa, thông tin mang định kiến giới.

Trưởng Ban Phụ nữ quân đội trò chuyện cùng các nữ chiến sĩ nhập ngũ năm 2021 đang huấn luyện tại Trung đoàn 692, Sư đoàn 301, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội_Nguồn: qdnd.vn

Trên lĩnh vực gia đình, những năm qua, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các đơn vị tổ chức tốt các hoạt động truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình và tệ nạn xã hội hưởng ứng “Tháng hành động quốc gia phòng, chống bạo lực gia đình”, “Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới”. Phụ nữ quân đội đã xây dựng kế hoạch và triển khai tổ chức thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Phụ nữ quân đội đoàn kết - sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng gia đình hạnh phúc, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với đẩy mạnh việc thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”; phòng, chống, ngăn chặn hiệu quả vụ việc bạo lực trong các gia đình quân nhân. Đến nay, số vụ việc vi phạm Luật Hôn nhân gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Trẻ em trong quân đội đều giảm; không có phụ nữ trong quân đội là nạn nhân của các vụ buôn bán người.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện bình đẳng giới trong quân đội hiện nay còn những vấn đề đặt ra: Định kiến về giới, phân biệt đối xử nam nữ vẫn tồn tại làm cho phụ nữ gặp không ít khó khăn, thiệt thòi trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội, cơ hội được bồi dưỡng đào tạo, thăng tiến, đề bạt; tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, coi nhẹ phụ nữ vẫn tồn tại trong quan hệ công tác và đời sống sinh hoạt quân nhân; một số cấp ủy đảng, tổ chức chỉ huy, các đoàn thể chưa thực sự quan tâm đến công tác phụ nữ và bồi dưỡng, phát triển cán bộ nữ; các chế độ, chính sách, mục tiêu quốc gia của Nhà nước đã ban hành vì sự tiến bộ của phụ nữ có lúc, có nơi chưa triển khai đồng bộ; số phụ nữ quân đội tham gia cấp ủy, lãnh đạo, quản lý còn ít; trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của chị em nhìn chung chưa cao; công tác tuyên truyền về bình đẳng giới có lúc chưa thường xuyên, chậm đổi mới nội dung, hình thức. Mặt khác, có không ít phụ nữ quân đội còn tư tưởng an phận, ngại phấn đấu, làm việc cầm chừng, tư tưởng tự ti, mặc cảm vì định kiến, sinh con thứ ba... Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế trên thuộc về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ các cấp và ý thức tự giác của một số phụ nữ về vấn đề này chưa cao.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới trong quân đội trong thời gian tới

Một là, tạo sự chuyển biến trong nhận thức của các chủ thể bình đẳng giới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp trong thực hiện, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới”. Điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện bình đẳng giới trong quân đội trước hết phải nâng cao nhận thức của các chủ thể. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản, như quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, quân đội và cấp ủy các cấp về vấn đề thực hiện bình đẳng giới; thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới cho mọi đối tượng trong quân đội; xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp hoạt động giữa các chủ thể hướng vào nâng cao hiệu quả thực hiện vấn đề bình đẳng giới; thông qua hoạt động thực tiễn chuyên môn ở đơn vị để bồi dưỡng ý thức, thái độ, trách nhiệm các tổ chức, cá nhân trong nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới.

Hai là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp thực hiện bình đẳng giới trong quân đội“Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tham mưu có hiệu quả công tác cán bộ nữ,... góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đây là giải pháp mang tính đột phá nhằm trang bị những yếu tố cốt lõi cho sự hình thành và phát triển khả năng thực hiện bình đẳng giới trong quân đội. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải căn cứ tình hình, đặc điểm của nữ quân nhân, nhiệm vụ của của từng loại hình đơn vị để xây dựng kế hoạch, bồi dưỡng nâng cao khả năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, cũng như kiến thức về bình đẳng giới. Đồng thời, trên cơ sở kế hoạch, đối tượng, nội dung đã xác định để hoạt động bình đẳng giới mang lại hiệu quả, cần đa dạng hình thức, biện pháp tiến hành. Hoạt động này có thể diễn ra ở nhiều cấp độ, nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi đối tượng, mỗi hoàn cảnh cụ thể. Bên cạnh đó, bản thân nữ quân nhân phải nỗ lực, tích cực, chủ động trải nghiệm thực tiễn quân sự.

Ba là, phát huy tính tích cực, tự giác, tự học tập, tự rèn luyện phấn đấu vươn lên của phụ nữ quân đội. Đây là giải pháp có ý nghĩa trực tiếp quyết định đến hiệu quả công tác bình đẳng giới trong quân đội, bởi phụ nữ quân đội vừa là chủ thể, vừa là đối tượng trong quá trình này. Bên cạnh tác động của những điều kiện khách quan thuận lợi, để quá trình này đạt hiệu quả mong muốn, đòi hỏi phải phát huy cao độ tính tích cực, tự giác, tự học tập, rèn luyện của từng cá nhân phụ nữ quân đội. Đây chính là nhân tố chủ quan trực tiếp quyết định đến chất lượng và hiệu quả của toàn bộ quá trình thực hiện bình đẳng giới trong quân đội. Nếu phụ nữ quân đội không phát huy tính tích cực, tự giác, tự giáo dục, rèn luyện, phấn đấu vươn lên thì khó có thể hoàn thiện các phẩm chất cần thiết của bản thân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp, như thường xuyên giáo dục, xây dựng động cơ, xu hướng nghề nghiệp đúng đắn; tích cực học tập, tự rèn luyện không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực; quan tâm, tạo điều kiện để phụ nữ quân đội tự học tập, tự rèn luyện, tự phát triển và thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua và tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động thực tiễn quân sự…/.

ST.

Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhân tố cơ bản bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta


Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Việc làm rõ các nguyên nhân và nhân tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đưa đến những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử, sẽ góp phần làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

1- Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề lý luận và thực tiễn sâu sắc, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: “Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học”. “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”. Đây là vấn đề đã, đang và tiếp tục được đặt ra trong các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, cũng như ở nước ta nói riêng.

Sau năm 1954, miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì chưa có kinh nghiệm nào khác về chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta mô phỏng theo mô hình Liên Xô, thiết lập hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, xóa bỏ thị trường tự do, thiết lập nền kinh tế hoạt động theo mô hình kế hoạch hóa tập trung dưới sự chỉ đạo thống nhất theo mệnh lệnh từ Trung ương. Mô hình ấy đã đạt được những thành tựu nhất định và tỏ ra phù hợp trong điều kiện chiến tranh, miền Bắc vừa là hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến miền Nam, vừa trực tiếp đánh trả chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng và thống nhất đất nước. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, chúng ta lại áp dụng mô hình đó cho miền Nam để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Những khuyết tật vốn có của mô hình chủ nghĩa xã hội cũ đã bộc lộ ra ngày càng rõ hơn, gay gắt hơn, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã thẳng thắn thừa nhận: “Chúng ta có khuyết điểm trong việc đánh giá tình hình cụ thể của đất nước, trong việc xác định mục tiêu và bước đi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Công cuộc đổi mới do Đại hội VI khởi xướng nhằm khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, được bắt đầu từ việc nhận diện rõ và khắc phục những sai lầm trong cơ chế quản lý, mà trọng tâm là vấn đề quy mô của sự sở hữu, cụ thể như sau:

Thứ nhất, trước đây, chúng ta đã hiểu và vận dụng một cách giáo điều lý luận của C. Mác về chủ nghĩa xã hội. Lý luận của C. Mác chủ yếu nêu về bước quá độ trực tiếp từ một nước tư bản phát triển lên chủ nghĩa xã hội. Theo đó, ở những nước tư bản phát triển, sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp vô sản chỉ cần xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ công hữu là quá độ ngay lên chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa đó, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăng-ghen viết: “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu”. Trong khi đó, nước ta lại quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, trong một điều kiện, hoàn cảnh khác so với C. Mác, Ph. Ăng-ghen đã nêu, song chúng ta vẫn áp dụng cứng nhắc những nguyên lý của học thuyết Mác. Kết quả là, chúng ta đã rơi vào giáo điều khi vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chủ trương tiến hành xây dựng ngay nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu thuần khiết, nên chúng ta đã không tạo ra được sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất, khi quan hệ sản xuất có những yếu tố vượt quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (như Văn kiện Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ). Cũng chính vì vậy, chúng ta không những không có được chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng của C. Mác; mà trái lại, còn đưa đất nước rơi vào tình trạng trì trệ, chậm phát triển, thậm chí có thời điểm còn khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội. 

Thứ hai, giai đoạn trước năm 1986, chúng ta đã tuyệt đối hóa vai trò của kiến trúc thượng tầng trong xây dựng các quan hệ sở hữu. Chủ yếu dùng mệnh lệnh hành chính để thực hiện quá trình tập trung hóa, xã hội hóa một cách hình thức, phi kinh tế; hành chính hóa cao độ các quan hệ kinh tế; xóa bỏ nhanh các hình thức sở hữu phi xã hội chủ nghĩa. Sự tác động của thể chế chính trị không ăn khớp với sự vận động của nền kinh tế, của các quy luật kinh tế, làm cho nền kinh tế không phát triển được, rơi vào tình trạng trì trệ, bế tắc, kém hiệu quả.

Các nữ công nhân nhà máy sản xuất xe đạp xí nghiệp quốc doanh ở Hà Nội đầu năm 1980_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, sai lầm của việc thiết lập chế độ sở hữu công cộng trước đây là công hữu hóa, tập thể hóa cao độ, thoát ly khỏi tính tất yếu kinh tế - kỹ thuật, khỏi nền sản xuất hàng hóa. Điều đó làm cho chế độ sở hữu mới chỉ có tính pháp lý, chứ chưa bao hàm được nội dung kinh tế. Chúng ta đã đồng nhất chủ nghĩa xã hội với quốc doanh hóa, tập thể hóa, chủ trương tiến hành xóa bỏ mọi thành phần kinh tế khác, bất chấp những tiền đề kinh tế - xã hội có cho phép hay không. Vì chỉ còn một chủ thể sản xuất, nên đương nhiên dẫn đến chỉ còn chế độ quản lý theo kiểu tập trung quan liêu với đặc trưng cơ bản là cấp phát vật tư, giao nộp sản phẩm theo kế hoạch mà không tính đến hiệu quả. Trong những quan niệm và cơ chế đó dĩ nhiên sẽ không có chỗ cho quan hệ hàng hóa tiền tệ, không thừa nhận sản xuất hàng hóa.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nước ta thời kỳ trước đổi mới, cũng như sự thoái trào của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua xuất phát từ nhiều nhân tố; nhưng có nguyên nhân cơ bản là “đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản”. 

2- Để đưa nền kinh tế - xã hội nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ, bế tắc, chúng ta đã học tập tinh thần của V.I. Lê-nin, nghiêm túc đánh giá, nhận thức lại, đổi mới các quan hệ sở hữu, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu. Chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển đổi xã hội đúng hướng, thực hiện khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới ở Việt Nam từng bước thành công và cho đến nay, chúng ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu rực rỡ nhất, trư­ớc hết là kinh tế phát triển, đời sống nhân dân đ­ược cải thiện, xã hội có nhiều thay đổi tiến bộ, đất n­ước tăng thêm vị thế trên trường quốc tế và “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới cho thấy những chuyển đổi rõ rệt, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, chuyển đổi từ mô hình “tập trung quan liêu bao cấp”, mô hình “phân phối mang nặng tính bình quân” sang mô hình “quan hệ hàng hóa - tiền tệ”, xây dựng và phát triển “nền kinh tế thị tr­ường định hướng xã hội chủ nghĩa”, vừa phân phối theo lao động, theo vốn, hiệu quả kinh doanh, vừa theo hướng bảo đảm phúc lợi xã hội và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Thứ hai, chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ bao gồm hai thành phần kinh tế là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể sang nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế, đa dạng hình thức sở hữu.

Thứ ba, chuyển đổi từ nền kinh tế khép kín, đóng cửa sang nền kinh tế mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung.

Thứ t­ư, chuyển đổi từ hình thức Nhà nư­ớc chuyên chính vô sản sang hình thức Nhà n­ước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và xây d­ựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; tăng c­ường sinh hoạt dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; chuyển đổi hình thức tập hợp quần chúng nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội còn mang nặng tính hành chính sang nhiều đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở, rất phong phú, đa dạng, hài hòa các lợi ích chính đáng khác nhau.

Thực tiễn sự chuyển đổi trên đây diễn ra trong cả quá trình đổi mới hơn 35 năm qua, từ “điểm” đến “diện” rộng, từ thấp đến cao, từ lượng sang chất, như từ chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã mở rộng ra thành hội nhập quốc tế nói chung, từ thừa nhận và khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, đến khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế…

Dây chuyền sản xuất, kiểm tra các bản mạch điện tử dạng dẻo, nhiều lớp tích hợp của Công ty TNHH Young Poong Electronics VINA tại khu công nghiệp Bình Xuyên II, tỉnh Vĩnh Phúc_Ảnh: TTXVN

Những nhân tố tác động, ảnh hưởng đến những quá trình chuyển đổi sâu sắc trên bao gồm:

Thứ nhất, quá trình đổi mới t­ư duy trong lãnh đạo, quản lý.

Tr­ước hết, Đảng ta không ngừng đổi mới về tư duy, nhận thức trên cơ sở sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tư­ tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin được Đảng xác định là nền tảng tư­ t­ưởng của Đảng và toàn xã hội; khắc phục những sai lầm, khuyết điểm trong tư duy giáo điều về chủ nghĩa xã hội trước đây. Chúng ta đã nhận thức đúng đắn hơn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là xuất phát điểm của nước ta, từ một nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển. Đó là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, lâu dài, với những hình thức kinh tế quá độ, những “mắt xích” trung gian để hiện thực hóa dần, tiến từng bư­ớc vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Những thay đổi nhận thức lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sản phẩm, thành quả trực tiếp của đổi mới tư­ duy. Đồng thời, chúng ta cũng gắn chặt chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội; không hy sinh, đánh đổi môi trường, công bằng xã hội để đổi lấy kinh tế… 

Thứ hai, phát huy dân chủ rộng rãi trong mọi sinh hoạt xã hội.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”. Ngày nay, dân chủ là nhu cầu chính trị, giá trị văn hóa, văn minh của toàn nhân loại. Ở Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đổi mới, là bản chất của chế độ chính trị và của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới luôn gắn liền với sự tôn trọng và phát huy dân chủ, cùng những sáng kiến, sáng tạo của nhân dân. Dân chủ trong Đảng là hạt nhân để lan tỏa và thực hành rộng rãi, thực chất dân chủ trong toàn xã hội.

Thứ ba, vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tr­ước hết, sự lãnh đạo đúng đắn đó thể hiện ở chỗ Đảng biết khơi dậy, lắng nghe những sáng kiến từ địa ph­ương, cơ sở và của nhân dân, định h­ướng kịp thời những hoạt động sáng tạo của nhân dân hướng tới mục tiêu, lý t­ưởng xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng thể hiện rõ trong việc xác định được đường lối đổi mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Theo đó, Đảng tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, nh­ưng xác định rõ trọng tâm, trọng điểm và cách làm, bước đi phù hợp; vừa tiến hành đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, vừa tiến hành đổi mới trên tất cả các lĩnh vực khác. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng còn thể hiện ở việc Đảng ta thẳng thắn nhận ra những sai lầm, khuyết điểm của mình, đúc rút những bài học kinh nghiệm, kịp thời sửa chữa để có những quyết sách đúng đắn; sáng suốt, nhận diện được rõ cơ hội và thách thức, lãnh đạo nhân dân tranh thủ cơ hội, v­ượt qua thách thức, luôn luôn kiên định đổi mới theo định hư­ớng xã hội chủ nghĩa…

Các nhân tố trên có quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.

ST.