Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2024

Đẩy mạnh thực hành dân chủ, tiếp tục phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước

 Đẩy mạnh thực hành dân chủ, tiếp tục phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước

TS LẠI XUÂN MÔN
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực, Ban Tuyên giáo Trung ương

00:30, ngày 18-01-2024

TCCS - Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng, đề cao vai trò, sức mạnh của nhân dân, coi đó là cội nguồn mọi thắng lợi của cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, đẩy mạnh thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân, tạo động lực xây dựng và phát triển đất nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, tiếp tục được Đảng ta chú trọng lãnh đạo, tổ chức thực hiện.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng gặp mặt Đoàn đại biểu người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số toàn quốc _Ảnh: TTXVN

Vai trò quan trọng của thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng

Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử dân tộc, phát huy sức mạnh của nhân dân luôn là yếu tố sống còn quyết định sự thịnh suy của mọi triều đại, nhà nước. Thực tiễn đã minh chứng, quy tụ được lòng dân, phát huy sức mạnh của nhân dân là nguyên nhân quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh của nhân dân chính là nguồn gốc, điểm tựa vững chắc cho sự phát triển trường tồn, cường thịnh của đất nước. Sức mạnh của nhân dân sẽ được phát huy, nhân lên gấp bội nếu được kết nối thành một khối thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Dân là gốc của nước, là cơ sở của mọi thắng lợi, là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần. Coi “dân là gốc” là phải tin ở dân, gần gũi với dân, kính trọng dân và biết dựa vào dân, nhận thức rõ: “có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong”(1).

Có thể nhận thấy, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh của nhân dân thể hiện tập trung ở việc trong mọi chủ trương, đường lối, phải luôn thấm nhuần quan điểm: Dân là gốc. Vấn đề mấu chốt, chìa khóa để thực hiện tốt tư tưởng này của Người chính là thực hành dân chủ, phát huy quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm “là chủ” và “làm chủ” của nhân dân trong xây dựng, phát triển đất nước.

Ngay khi nước nhà giành được độc lập, để thể chế hóa tư tưởng dân là gốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân và vì dân. Trên cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước, Người đã để lại một di sản to lớn về việc tổ chức, xây dựng nhà nước dân chủ mới ở nước ta. Tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân là sự vận dụng sáng tạo học thuyết về nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; đồng thời, chọn lọc, kế thừa những tinh hoa tư tưởng về xây dựng nhà nước trong lịch sử dân tộc và nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, một nhà nước vững mạnh, có hiệu lực phải là một nhà nước pháp quyền “mạnh mẽ và sáng suốt”, nhà nước đó “phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”(2), theo tinh thần “nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân”(3). Nhà nước ta phải phát huy dân chủ, phải làm cho việc thực hành dân chủ được thể hiện và thấm sâu vào tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, vì “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(4). “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ/ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân./ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra(5), “tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương... Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ(7) . Dưới chế độ dân chủ cộng hòa, nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi; phụ nữ ngang quyền với nam giới về mọi phương diện; các dân tộc trong nước đều bình đẳng về quyền lợi.

Dân chủ cần luôn đi liền với cơ chế bảo đảm dân chủ, mà cơ chế này phải được luật hóa. Quan hệ giữa pháp luật và dân chủ trong nhà nước pháp quyền biểu hiện ở chỗ, để thực thi dân chủ cần có pháp luật bảo đảm; pháp luật phải được xây dựng và thực hành trên cơ chế dân chủ, bình đẳng. Tiến trình dân chủ hóa xã hội cũng là quá trình xây dựng và hoàn thiện không ngừng pháp luật của nhà nước. Dân chủ càng cao thì pháp luật càng chặt chẽ, khoa học. Pháp luật về thực thi dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề này, quy định và thể chế hóa các nội dung “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; quy định cách thức, phương pháp để người dân thể hiện quyền làm chủ của mình.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với việc thực hiện các quyền của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm dưới sự lãnh đạo của Đảng; là hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; do vậy, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm toàn bộ quyền con người, quyền công dân, như quyền tự do báo chí, hội họp, đi lại, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền có nơi ở hợp pháp, học tập... Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Cốt lõi của dân chủ xã hội chủ nghĩa là khẳng định quyền lực của nhân dân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quyền và lợi ích, quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm của công dân.

Với quan niệm “dân chủ” nghĩa là “dân là chủ” và “dân làm chủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đặt nhân dân ở vị thế chủ thể xã hội, mà còn chỉ rõ mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời giữa vị thế đó với hành động làm chủ xã hội thực sự của nhân dân. Dân chủ và thực hành dân chủ không chỉ là mục tiêu và động lực của cách mạng, mà cùng với tập trung sẽ còn trở thành phương pháp, cách thức giải quyết mọi khó khăn, trở ngại của sự nghiệp cách mạng. Người nhắc nhở, Đảng ta coi việc củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và sự vững chắc của chế độ. Nhân dân là “mạch nguồn” dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của Đảng, một khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì sẽ trở thành sức mạnh vô địch.

Theo đó, để thực hiện dân chủ thì phải triển khai trên nhiều phương diện, với sự tham gia của nhiều chủ thể có vị trí, vai trò, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm khác nhau nhằm bảo đảm thực hiện quyền của người dân, như quyền sử dụng lá phiếu để bầu ra những người đại diện vào các cơ quan, tổ chức bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; quyền tham gia vào các hoạt động của đời sống chính trị - xã hội, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình trong xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật; quyền tham gia vào các hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Muốn thực hiện được các quyền đó, nhân dân phải hiểu biết đúng đắn, đầy đủ về các quyền tự do, dân chủ của mình; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực thi, phát huy dân chủ, chủ động và tích cực thực thi, sử dụng các quyền dân chủ, rèn luyện phương pháp thực hành dân chủ và có bản lĩnh thực hành dân chủ, thực hiện quyền làm chủ thực sự.

Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến chung vui với nhân dân xã Quy Mông, huyện Trấn Yên (tỉnh Yên Bái) đạt chẩn nông thôn mới nâng cao _Nguồn: baotainguyenmoitruong.vn

Một số kết quả nổi bật về thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân qua gần 40 năm đổi mới

Qua các kỳ đại hội, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc và cụ thể hơn về dân chủ và thực hành dân chủ. Sau khi nước nhà thống nhất, tại Đại hội IV, Đảng ta khẳng định, để đưa sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Các kỳ đại hội tiếp theo của Đảng đều nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống, trên tất cả lĩnh vực là nhiệm vụ quan trọng. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.

Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quan điểm chỉ đạo của Đảng qua các thời kỳ đều nhất quán, khẳng định bản chất của chế độ xã hội ta “dân là chủ” và “nhân dân làm chủ”, trở thành một trong những đặc trưng của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Thành tựu cách mạng có được dưới sự lãnh đạo của Đảng gần 94 năm qua chính là nhờ Đảng ta đã biết kế thừa, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ngày càng được hoàn thiện.

Điểm nổi bật, thành công của Đảng ta trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về dân chủ để có chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật phù hợp; là sự kết hợp hài hòa giữa lý thuyết về dân chủ với việc thực hành dân chủ trên mọi mặt của đời sống xã hội. Thực hành dân chủ chính là hình thành cơ chế, chính sách, quy định, nguyên tắc và biện pháp hữu hiệu để bảo đảm cho mọi người dân thực hiện quyền dân chủ, hiện thực hóa phương châm mà Đảng đã xác định. Thực chất của việc thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa là phát huy vai trò chủ thể của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân nhằm huy động mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; qua đó, vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Kết quả đạt được sau gần 40 năm đổi mới trên lĩnh vực thực hành dân chủ có những bước tiến rất quan trọng, có thể khái quát ở các điểm nổi bật sau:

1- Thực hành dân chủ trong Đảng có bước phát triển mới, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp; phát huy dân chủ; tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; tôn trọng sự khác biệt trong quan điểm, ý kiến cá nhân trên tinh thần xây dựng Đảng.

2- Thực hành dân chủ trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tăng cường. Hoạt động của Quốc hội trong việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao có nhiều đổi mới, chất lượng và hiệu quả được nâng cao. Hoạt động của Chính phủ được đổi mới theo hướng xây dựng Chính phủ kiến tạo, phát huy dân chủ trong thực thi hành chính công. Các cơ quan tư pháp tiếp tục được kiện toàn, hệ thống pháp luật được hoàn thiện một bước cơ bản. Vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội, bảo đảm thượng tôn pháp luật, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

3- Thực hành dân chủ trong hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được chú trọng, ngày càng thực chất hơn; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.

Thực tiễn xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã khẳng định phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, được mọi tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ và ngày càng phát huy hiệu quả trên thực tế. Thể chế thực thi các quyền làm chủ của nhân dân được xác lập, cụ thể hóa và đi vào cuộc sống. Thông qua cơ chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, vai trò “kiểm tra, giám sát” của nhân dân đã thật sự phát huy hiệu quả cao trong việc phát hiện một số vi phạm của cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Từ đó, niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước được củng cố, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng bền chặt.

Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết: Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân(8).

Dù vậy, bên cạnh kết quả quan trọng đã đạt được, vấn đề phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn một số hạn chế. Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của nhân dân, chưa kịp thời giải quyết đề xuất, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi còn bị vi phạm, việc thực hiện dân chủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, tách rời dân chủ với kỷ cương, pháp luật. Chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chưa đồng đều...

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Xuân Ký trao đổi, lắng nghe ý kiến của công dân tại buổi tiếp công dân thường kỳ _Nguồn: baoquangninh.vn

Giải pháp để đẩy mạnh thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân trong tình hình mới

Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đối diện với nhiều khó khăn, thách thức: Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo. Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động... vẫn hiện hữu.

Tình hình trên cho thấy, phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới; trong đó, phát huy sức mạnh của nhân dân, thực hành dân chủ phải được coi là nhiệm vụ “hạt nhân”.

Sức mạnh của nhân dân chỉ được phát huy khi Đảng đánh giá đúng tiềm lực to lớn của nhân dân, coi trọng dân, gần dân, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân. Đảng muốn mạnh phải dựa vào dân; sức mạnh của lòng dân sẽ làm nên sức mạnh của Đảng; từ đó, hình thành nên các nhân tố vững chắc, bảo đảm cho sự vận động, phát triển của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, sức mạnh nội sinh của Đảng phải xuất phát từ dân, vì dân, “đem tài dân, của dân, sức dân để làm lợi cho dân”.

Một trong 5 bài học đã được Đảng tổng kết tại Đại hội XIII là: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc quan điểm dân là gốc; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là: Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân... tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Nhân dân đóng vai trò là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước. Phát huy tính tích cực, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chứcĐồng thời, các điểm mới trong chỉ đạo của Đảng tập trung ở các vấn đề, nội dung sau:

Một là, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Hai là, xác định rõ hơn vai trò của các chủ thể khi Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.

Ba là, khẳng định vai trò chủ thể, trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy trí tuệ, tính tích cực, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong xây dựng Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Bốn là, cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức phải nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội. Xử lý kịp thời, nghiêm minh tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, gây hại đến quyền làm chủ của nhân dân.

Trên tinh thần đó, để đẩy mạnh thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, với mục tiêu “Tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc để thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(9), cần tập trung thực hiện các giải pháp sau đây:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết của cán bộ, đảng viên và nhân dân về dân chủ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, thực hiện chủ trương của Đảng về phát huy dân chủ, quyền dân chủ của nhân dân, gắn với phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đổi mới, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng về phát huy dân chủ phù hợp với tình hình mới hiện nay.

Thứ hai, làm tốt việc thể chế hóa, cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thành các quy định chặt chẽ, đồng bộ, cụ thể trong hệ thống pháp luật. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trên tất cả lĩnh vực quan trọng của đất nước, như tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; phát triển kinh tế; quản lý và tự quản xã hội; xây dựng, quản lý, thụ hưởng văn hóa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân”.

Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở trong các loại hình theo Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998, của Bộ Chính trị, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; Kết luận số 120-KL/TW, ngày 7-1-2016, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”; Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (năm 2022).

Tăng cường công khai, minh bạch, dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát, đánh giá, nhằm lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân, “nói đi đôi với làm”, “tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”.  

Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, phát huy vai trò chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội, làm tốt vai trò cầu nối, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân qua cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện các quyền dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Thứ tư, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn với tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân; quan tâm lắng nghe, giải quyết kịp thời, hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân; thực hiện chủ trương, chính sách “hợp lòng dân”, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là ở những vùng đang còn gặp nhiều khó khăn. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ./.

Nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xây dựng đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam

 

TCCS - Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” nhấn mạnh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Vì vậy, cuốn sách “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là cẩm nang lý luận, thực tiễn quý giá, định hướng phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị_Ảnh: TTXVN

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, sức mạnh đoàn kết là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cương vị là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn thấu hiểu tầm quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn quán triệt trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(1). Các bài viết trong cuốn sách là sự hiện thực hóa tư tưởng ấy, thể hiện tầm tư duy lý luận sâu rộng, biện chứng, thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như trách nhiệm của người đứng đầu Đảng, Nhà nước đối với nhân dân, với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, cuốn sách của Tổng Bí thư sẽ góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Cuốn sách của Tổng Bí thư nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh nội sinh, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với lịch sử đấu tranh giữ nước. Chính trong hoàn cảnh phải trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống ngoại xâm cũng như chống chọi với thiên tai, hiểm họa đã hun đúc nên con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam một truyền thống vô cùng quý báu, đó là tinh thần đoàn kết. Chỉ có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh để có thể “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để dân tộc mãi trường tồn. Đoàn kết là một trong những bài học mang giá trị lịch sử, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quá trình dựng nước, giữ nước; quá trình đấu tranh cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”(2); “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(3)Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, từ thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”(4)Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là một công việc hết sức hệ trọng, to lớn và vô cùng khó khăn. Nhiệm vụ đó chỉ có thể thành công khi quy tụ được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Nhờ tinh thần đoàn kết muôn người như một đã tạo thành sức mạnh vô địch, giúp chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành và bảo vệ vững chắc độc lập của Tổ quốc.

Trong công cuộc xây dựng xã hội mới, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, để xây dựng đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, tạo tiền đề vững chắc cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới tiếp tục khẳng định mạnh mẽ đường lối đúng đắn của Đảng ta, trong đó có đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh bài học này trong những lần phát biểu của mình: Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”. Đây không chỉ là tinh thần đoàn kết, thống nhất mà còn là bài học về ý chí, hành động phải triệu người như một của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và nhân dân ta ở mọi miền Tổ quốc trong tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây cũng chính là sự phát triển nhận thức trong quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn, là tư duy và tầm nhìn của Đảng ta gần 94 năm qua: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng; là cội nguồn sức mạnh, là giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời kỳ”(5).

Từ vai trò, tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc, Tổng Bí thư đã khái quát ngắn gọn quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ, hiểu thấu đáo tầm tư duy chiến lược của Đảng. Tổng Bí thư khẳng định, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy bản sắc cội nguồn văn hóa và truyền thống của dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã không ngừng đổi mới, phát triển tư duy lý luận về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thể hiện trong văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng: “Từ chỗ, chỉ nói đoàn kết, rồi nói đại đoàn kết toàn dân, rồi phát triển lên thành đại đoàn kết toàn dân tộc là những cột mốc đánh dấu sự đổi mới và phát triển quan trọng về tư duy nhận thức và lý luận đối với chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta, theo chiều hướng ngày càng mở rộng về biên độ, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ còn những “xơ cứng” đến ngày càng cởi mở hơn”(6). Tổng Bí thư cũng khẳng định, điểm tương đồng để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm điểm tương đồng”(7). Đây là mục tiêu lớn nhất, cũng là lợi ích chung lớn nhất của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; của mọi người dân, của toàn dân tộc. Chính nhờ điểm tương đồng này đã và sẽ tiếp tục động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân, huy động được mọi nguồn lực, tranh thủ mọi thời cơ, sự đóng góp của nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng Bí thư cho rằng, điểm tương đồng này nếu biết khơi dậy đúng cách sẽ có sức cuốn hút, lay động lòng người, là lời hiệu triệu toàn dân, nhân lên lòng tự hào, tự tôn, ý chí của cả dân tộc. Đây cũng chính là định hướng cho việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm thu hút, tập hợp, đoàn kết các lực lượng xã hội trong khối đoàn kết thống nhất của toàn dân tộc.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung của đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết”(8), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc: “Nền tảng vững chắc của của đại đoàn kết dân tộc là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; giữa người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới”(9). Như vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc là tổng hòa của các mối quan hệ đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, giới, thành phần kinh tế, các vùng, miền; giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, trên nền tảng của liên minh công nhân - nông dân - trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; là đoàn kết với bạn bè quốc tế. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Với nội dung toàn diện ấy, những kết quả trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam thời gian qua đã giúp chúng ta vững vàng vượt qua những khó khăn, thách thức to lớn do tác động của mặt trái toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, nhờ có tinh thần đoàn kết, cùng ý chí, quyết tâm cao, chúng ta không những đã vượt qua đại dịch mà còn đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội được bạn bè quốc tế ghi nhận. “Trong gian khó, tinh thần yêu nước, nghĩa đồng bào, truyền thống “thương người như thể thương thân” của dân tộc ta và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy và nâng lên một tầm cao mới”(10).

Thắm tình quân dân_Nguồn: vanhocnghethuatlaichau.vn

Tổng Bí thư nhấn mạnh, việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội là nòng cốt. Tổng Bí thư đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,... phải quán triệt tư tưởng “dân là gốc”, lấy đó làm nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động, ở tất cả các cấp. Cuốn sách đã nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là các cán bộ trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội phải lấy “an dân làm cốt, lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm, xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sự đồng thuận của nhân dân”(11), sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, từ đó góp phần xây dựng đất nước ta ngày càng phát triển, văn minh và vững mạnh.

Để tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư đã nêu ra những giải pháp cơ bản mang tính hệ thống. Đó là:

Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng làm hạt nhân cho đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam phải luôn coi việc giữ gìn đoàn kết thống nhất trên cơ sở đường lối chính trị và các nguyên tắc xây dựng Đảng là sinh mệnh của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng; “đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng”(12). Đây là điều kiện tiên quyết để quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân, bởi chỉ có một Đảng trong sạch, vững mạnh thì nhân dân mới thật sự tin tưởng, đoàn kết, ủng hộ, phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp chung dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bản thân Tổng Bí thư là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, một nhà lãnh đạo gần dân, trọng dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hình ảnh dung dị, sự quan tâm, tình cảm yêu thương, đồng cảm của người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta với các tầng lớp nhân dân đã để lại ấn tượng sâu sắc, làm lay động lòng người; có tác dụng to lớn cổ vũ mọi giai tầng luôn nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia tích cực vào các phong trào thi đua, các cuộc vận động; phát huy mọi nguồn lực, khả năng sáng tạo, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn, với xu thế của thời đại, với nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân. Tổng Bí thư đánh giá cao về vị trí, vai trò của các giai tầng, các cá nhân tiêu biểu trong các giới đồng bào, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài,. Đây là nguồn lực to lớn, tạo thành sức mạnh để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật phải hướng vào khơi dậy, phát huy mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người Việt Nam; động viên nhân dân phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước. Những quan điểm của Tổng Bí thư về xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài là những định hướng quan trọng cho việc xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật, nhằm củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

Với vai trò quan trọng trong vận động, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Tổng Bí thư yêu cầu Mặt trận Tổ quốc phải phát huy vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; đi sâu, đi sát vào các tầng lớp nhân dân để nắm được những nhu cầu chính đáng của họ, từ đó thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tạo môi trường thuận lợi để nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, nguồn lực, động lực chủ yếu, là mục tiêu của đại đoàn kết toàn dân tộc trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng có năng lực, uy tín, tâm huyết, trách nhiệm, hết lòng vì công việc chung…

Cuốn sách “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là tài liệu quý về xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Cuốn sách giúp cho cán bộ trong hệ thống chính trị, đảng viên và nhân dân hiểu rõ, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc - sức mạnh nội sinh, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cuốn sách đặc biệt có ý nghĩa đối với lực lượng Công an nhân dân Việt Nam bởi thực tế đã chỉ rõ, thành công trong thực hiện sứ mệnh bảo đảm an ninh, trật tự của lực lượng công an bắt nguồn từ sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức. Đoàn kết, thống nhất là phẩm chất, đồng thời còn là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của Công an nhân dân Việt Nam, là sức mạnh nội sinh để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Hiện nay, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của nước ta đang diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, trong đó có Công an nhân dân Việt Nam. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải hết sức quan tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-3-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII. Muốn vậy, điều quan trọng hàng đầu là phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Công an nhân dân Việt Nam, mà cốt lõi là sự đoàn kết thống nhất của tổ chức đảng trong công an. Đây được xem là một vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam./.

-----------------------

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG BIỂU HIỆN “PHAI NHẠT MỤC TIÊU, LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG”

 Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đã chỉ ra 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; trong đó, “phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng” là một biểu hiện ở cấp độ cao nhất. Đấu tranh với biểu hiện này có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ngăn chặn, triệt tiêu sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; biểu hiện trên một số khía cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, mơ hồ, hoài nghi về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; dao động, thiếu lòng tin vào mục tiêu của cách mạng, nền tảng tư tưởng của Đảng; nhận thức không đúng, không đầy đủ về Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; mất phương hướng phấn đấu vươn lên.
Thứ hai, dao động về lập trường, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, cho rằng cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra ch.ết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thứ ba, thờ ơ, bàng quan, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; không còn hết lòng vì nước, vì dân, vì tập thể cơ quan, đơn vị, dẫn tới không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thứ tư, vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ để tham ô, tham nhũng, tiêu cực làm thiệt hại tài sản của đất nước, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.
Giải pháp đấu tranh với những biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Một là, cấp ủy, tổ chức đảng nêu cao tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình, nhận rõ, kiên quyết đấu tranh với biểu hiện “phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng”.
Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên.
Bốn là, xây dựng tổ chức cơ sở đảng các cấp trong sạch, vững mạnh, tạo môi trường tốt để rèn luyện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên.
Năm là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên./.
Nguồn: Báo QĐND

LAN TOẢ TINH THẦN QUYẾT LIỆT, CHỦ ĐỘNG TỪ SỚM, TỪ XA CỦA QUỐC HỘI VÀO ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

 Đánh giá về kết quả của Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV, đại biểu Quốc hội nhận định, kỳ họp lần này tiếp tục khẳng định nỗ lực, quyết tâm cũng như tinh thần quyết liệt, chủ động từ sớm, từ xa của Quốc hội để đáp ứng với những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh xã hội hiện nay.

Giải quyết triệt để các vấn đề cuộc sống đặt ra.
Sau 3,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, Kỳ họp bất thường lần thứ 5, Quốc hội khóa XV đã thành công tốt đẹp và bế mạc sáng 18/1.
Tại kỳ họp lần này, Quốc hội đã xem xét và thông qua 4 nội dung, bao gồm: Luật Đất đai (sửa đổi); Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi); Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; quyết định các vấn đề về tài chính, ngân sách.
Chia sẻ bên hành lang Quốc hội, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội đoàn thành phố Hà Nội cho biết, phiên họp bất thường của Quốc hội được tổ chức nhằm giải quyết những vấn đề hết sức hệ trọng liên quan quốc kế, dân sinh, những vấn đề không thể nào chậm trễ hơn được. Chính vì thế nên trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV lần này đã tổ chức đến 5 kỳ họp bất thường.
Theo Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hoá, Giáo dục của Quốc hội, các nội dung được quyết định tại kỳ họp bất thường lần này đã lan tỏa tinh thần quyết liệt, chủ động từ sớm, từ xa của Quốc hội, đáp ứng được với những phức tạp, đổi thay nhanh chóng của bối cảnh hiện nay.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh, sau khi các quyết định đã được ban hành, cần phải triển khai một cách hết sức quyết liệt để lan tỏa nỗ lực, quyết tâm của Quốc hội vào đời sống xã hội.
“Tôi cho rằng để triển khai hiệu quả những kết luận, quyết định quan trọng từ kỳ họp bất thường này, sau khi các quyết định đã ban hành, chúng ta phải triển khai một cách hết sức quyết liệt để tinh thần của Quốc hội được truyền tải vào các hành động của Chính phủ. Nếu làm được như vậy thì những nỗ lực, quyết tâm của Quốc hội mới có thể được lan tỏa vào trong đời sống xã hội”, đại biểu Bùi Hoài Sơn nêu rõ.
Chung nhận định, đại biểu Lê Thị Thanh Lam-Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Hậu Giang cho biết, kết quả Kỳ họp bất thường lần thứ 5 nói riêng và các kỳ họp bất thường trước đó đã chứng minh cho tính đúng đắn, hiệu quả của việc tổ chức các kỳ họp bất thường, qua đó tiếp tục khẳng định Quốc hội luôn đồng hành cùng Chính phủ, giải quyết triệt để các vấn đề cuộc sống đặt ra, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của cử tri, góp phần quan trọng và tạo cơ sở thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội quan trọng của đất nước.
Nữ đại biểu nhấn mạnh, Kỳ họp bất thường lần thứ 5 tiếp tục khẳng định trách nhiệm, sự nỗ lực, quyết tâm cao của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan, tổ chức liên quan trong công tác chuẩn bị, tiến hành kỳ họp; khẳng định sự đổi mới, nâng cao chất lượng cả về chương trình, nội dung và phương thức điều hành của Đoàn Chủ tịch.
Kết quả kỳ họp đã đáp ứng nội dung và hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra với những nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật, nghị quyết của Quốc hội.
“Nhìn chung, công tác chuẩn bị nội dung kỳ họp được tiến hành chu đáo, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các vướng mắc về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia được tháo gỡ một cách kịp thời, triệt để, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình trong thời gian tới, hướng dẫn cơ sở thực hiện tốt hơn”, đại biểu Lê Thị Thanh Lam nêu rõ.
Tạo động lực mới cho phát triển từ nguồn lực đất đai.
Một trong những nội dung quan trọng tại kỳ họp lần này là Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai (sửa đổi). Đánh giá về đạo luật quan trọng này, đại biểu Bùi Hoài Sơn cho biết, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) đã được chuẩn bị, cho ý kiến rất công phu, kỹ lưỡng. Các đại biểu Quốc hội đã có nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết, cụ thể, làm rõ thêm những vấn đề còn chồng chéo, bất cập trước khi biểu quyết thông qua luật.
“Luật Đất đai là luật rất là khó, có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội và tác động lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đó là lý do tại sao chúng ta đã phải thảo luận rất kỹ, thông qua rất nhiều kỳ họp khác nhau và lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn cho biết.
Theo đại biểu, luật này cũng sẽ liên quan đến nhiều luật khác. Do đó, việc sửa các luật khác cũng phải được thực hiện để Luật Đất đai (sửa đổi) được thực thi một cách tốt hơn, khả thi hơn trong thực tiễn.
Ngoài ra, nhiều dự án hiện nay đang dừng lại vì Luật Đất đai (sửa đổi) chưa thông qua. Với việc Quốc hội đã chính thức bấm nút thông qua luật, đại biểu Bùi Hoài Sơn bày tỏ mong muốn việc triển khai Luật Đất đai (sửa đổi) sẽ được thực hiện sớm để tháo gỡ các điểm nghẽn và phát huy được các nguồn lực đang gặp khó khăn trong thời gian vừa qua, đưa các nguồn lực này triển khai sớm trong xã hội, từ đó tạo ra động lực mới cho sự phát triển đất nước từ nguồn lực đất đai.
Để luật phát huy hiệu quả ngay sau khi có hiệu lực, đại biểu Lê Thị Thanh Lam cho rằng, Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan cần khẩn trương xây dựng, ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định chi tiết ban hành, hướng dẫn việc chuyển tiếp đúng quy định, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội cũng kiến nghị Chính phủ cần tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đất đai, hoàn thành xây dựng cơ sở d.ữ l.iệu s.ố và hệ thống thông tin quốc gia về đất đai tập trung…
Đồng quan điểm, đại biểu Phạm Văn Hòa-Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp nêu rõ, Luật Đất đai (sửa đổi) có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật và sức ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ về mọi mặt. Vì vậy, việc thông qua luật nhận được sự quan tâm, chờ đợi của đông đảo nhân dân và các đối tượng chịu sự tác động.
Để luật sớm được thực thi, phát huy hiệu quả trong thực tiễn cuộc sống, đại biểu đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cần quan tâm triển khai kịp thời việc ban hành các nghị định, văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành luật, tránh tình trạng để luật phải chờ nghị định.
Ngoài ra, công tác phổ biến, tuyên truyền về những điểm mới của Luật Đất đai (sửa đổi), cũng như nội dung trọng tâm của luật tới người dân, doanh nghiệp cũng cần phải được tăng cường, đổi mới để các đối tượng chịu sự tác động của chính sách nắm vững và thực hiện theo đúng quy định./.
Báo Nhân dân

PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO HỒ CHÍ MINH

 Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh là tổng hòa các phương pháp, biện pháp, cách thức thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Người. Phong cách đó được quy định bởi vị trí, vai trò, uy tín, vốn sống, điều kiện chính trị; phản ánh các phẩm chất cốt lõi về tư tưởng, đạo đức, tình cảm, tri thức, ý chí, tính cách… và gắn liền với thực tiễn hoạt động cách mạng của Bác. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh vừa thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa mang đậm bản sắc văn hóa, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam, tạo nên nhiều nét độc đáo, đặc sắc, phong phú; trong đó, tập trung chủ yếu ở những nội dung sau:

Một là, dân chủ nhưng quyết đoán. Hồ Chí Minh khẳng định: Chế độ ta “dân là chủ” và dân là chủ thì cách lãnh đạo phải dân chủ. Người cho rằng, không một ai có thể hiểu biết được mọi thứ, làm hết được mọi việc. Bởi vậy, người lãnh đạo phải tạo được không khí dân chủ trong nội bộ, tập hợp được tài năng, trí tuệ của nhiều người để phấn đấu cho mục tiêu chung của cách mạng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”. Tuy nhiên, phong cách dân chủ không có nghĩa là “cá mè một lứa”, “mạnh ai nấy làm” mà phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Người chỉ rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô Chính phủ”. Đối lập với phong cách dân chủ là phong cách quan liêu. Hồ Chí Minh kịch liệt phê phán cán bộ quan liêu, những người “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để chữa căn bệnh quan liêu, Người yêu cầu cán bộ phải “theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là: Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”.
Cùng với việc thực hiện nghiêm dân chủ, tập thể lãnh đạo, cần chú ý vai trò cá nhân phụ trách, tức là nêu cao trách nhiệm, tính quyết đoán của người lãnh đạo. Theo Hồ Chí Minh, người lãnh đạo có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí làm việc dân chủ, nhưng nếu không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân, thì không thể có những quyết định đúng đắn, kịp thời đáp ứng yêu cầu đặt ra và do đó công việc không thể tiến triển được. Người lưu ý: “Những việc bình thường, một người có thể giải quyết đúng, thì người phụ trách cứ cẩn thận giải quyết đi. Những việc quan trọng, mới cần tập thể quyết định”5. Hồ Chí Minh cho rằng, trách nhiệm và tính quyết đoán của người đứng đầu phải luôn được đề cao, đôi khi mang tính quyết định. Phong cách lãnh đạo đúng nhất là phải kết hợp thống nhất giữa dân chủ tập thể với tính quyết đoán. Những hiện tượng coi thường tập thể, hoặc dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không nêu cao trách nhiệm cá nhân đều làm trì trệ, suy yếu năng lực lãnh đạo của người cán bộ. Người lãnh đạo giỏi là người dám chịu trách nhiệm trước tập thể, trước quốc dân đồng bào, kịp thời đưa ra những quyết sách đúng trong những thời điểm quyết định. Năm 1946, khi cách mạng bị thù trong, giặc ngoài chống phá quyết liệt, việc ta ký Hiệp định Sơ bộ 06-3 và Tạm ước 14-9 với Pháp đã phá tan vòng vây của kẻ thù, loại trừ được 20 vạn quân Tưởng, tranh thủ thời gian để xây dựng lực lượng cho cuộc kháng chiến sau này, đó là một minh chứng về phong cách lãnh đạo dân chủ nhưng quyết đoán của Hồ chí Minh.
Hai là, luôn sâu sát. Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu về phong cách lãnh đạo sâu sát. Trong chỉ đạo kháng chiến chống Pháp, Người không những nắm vững tình hình các địa phương cũng như diễn biến các chiến trường để có sự chỉ đạo cụ thể, đúng đắn; mà còn đến nhiều đơn vị, trực tiếp đi chiến dịch cùng bộ đội để nắm tình hình, động viên tinh thần binh sĩ, khen thưởng kịp thời mọi chiến công. Người quan tâm mọi mặt công tác của Quân đội, yêu cầu cán bộ các cấp phải sâu sát, chu đáo tới chiến sĩ: “Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”.
Riêng công tác hậu cần, Người chỉ thị: “Phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ”. Trong chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người nhiều lần đến thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, xem xét tình hình và kiểm tra cụ thể mọi công việc. Ngoài ra, hằng ngày qua báo cáo của các địa phương, qua báo chí và thư từ của nhân dân gửi đến, thấy có những vấn đề nổi lên, Người yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu và giải quyết kịp thời.
Lãnh đạo sâu sát sẽ nâng cao được tính khách quan, minh bạch, tăng cường được công tác kiểm tra, giám sát, từ đó kiểm soát tốt hơn đối với việc thực thi quyền lực, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng tài sản của Nhà nước, của nhân dân, góp phần phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. V.I. Lê-nin chỉ rõ, lãnh đạo mà không kiểm tra có nghĩa là không lãnh đạo. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, khi đã có đường lối đúng, thì công tác kiểm tra là một trong ba nhân tố cơ bản nhất bảo đảm cho đường lối của Đảng ta thắng lợi. Muốn kiểm tra, giám sát tốt thì cán bộ phải sâu sát, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”. Sở dĩ sự thật còn bị bưng bít vì sự kiểm tra, giám sát “của các ngành, các cấp, không nghiêm túc, chưa chặt chẽ”, “chưa biết dựa vào quần chúng, nhân dân”. Người nghiêm khắc phê bình tình trạng: “Cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó, thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”.
Ba là, khéo dùng người, trọng dụng người tài. Truyền thống của dân tộc ta là trọng dụng nhân tài, coi hiền tài là nguyên khí quốc gia. Hồ Chí Minh cho rằng, một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết đất nước. Người rất quan tâm đến việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ “đúng người, đúng việc”, và chính cách sử dụng cán bộ của Người là mẫu mực của việc “khéo dùng người, trọng dụng nhân tài”. Sau khi cách mạng thành công, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều trí thức đào tạo từ các nước phương Tây, quan lại triều đình phong kiến cũ phục vụ cho đất nước, như: Trần Đại Nghĩa, Huỳnh Thúc Kháng, v.v. Đặc biệt, việc Người tin tưởng giao trọng trách quốc gia cho các đồng chí: Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…, là những ví dụ điển hình về điều đó.
Theo Bác, việc dùng người phải đúng năng lực và sở trường, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và phải cho họ hiểu rõ mọi mặt công việc được phụ trách. Dùng người không đúng, công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng và cũng thể hiện sự yếu kém của công tác cán bộ. Đặc biệt, người nhấn mạnh đến việc phải “tìm người tài đức”, tức là phải chủ động phát hiện người tài, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Theo Người, trọng dụng nhân tài là công việc thường xuyên, liên tục, như: người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; phải biết tùy tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 14-11-1945, trên Báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm về sử dụng nhân tài trong điều kiện khó khăn của đất nước: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”.
Bốn là, cách mạng và khoa học. Hồ Chí Minh khẳng định, điều cốt yếu của người cán bộ là: “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Nhiệt tình cách mạng là điều cơ bản trong phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, nhiệt tình cách mạng phải thống nhất với tri thức khoa học và dựa trên cơ sở khoa học, nếu không sẽ dẫn tới sai lầm, duy ý chí, hành động trái quy luật, thậm chí dẫn đến phá hoại một cách vô ý thức. Để có tri thức khoa học, người cán bộ phải không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ chuyên môn. Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Vì thế, làm bất cứ việc gì, cán bộ cũng phải có kế hoạch và có đích rõ ràng, vì đích là để nhằm vào đó mà bắn, nếu nhiều đích “thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào”. Để có kế hoạch thực sự khoa học, người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà xếp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp”. Một việc có thể có nhiều cách thực hiện. Bởi vậy, Người yêu cầu: “chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi”. Đặc biệt, Người đòi hỏi: “Công việc gì bất cứ thành công hay thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”, v.v.
Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh thực sự là bài học quý để mỗi cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, nhằm không ngừng hoàn thiện mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới./.
TS. Nguyễn Viết Hiển
Trang tin điện tử Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh