Thứ Tư, 24 tháng 1, 2024

TIẾP TỤC PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG, SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI!

     Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm nhận thấy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo khẳng định: Ý chí của nhân dân chính là thành trì vững chắc nhất để giữ nước. Nguyễn Trãi lấy tư tưởng “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” làm nền tảng để phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân, đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến thắng lợi vẻ vang. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Trung thành vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa truyền thống đại đoàn kết của dân tộc, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc. Nền tảng của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Đồng thời, sức mạnh ấy được tạo nên từ mối quan hệ bền chặt giữa Đảng và nhân dân; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đó còn là sự đoàn kết trong Đảng, giữa các giai tầng xã hội, cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước; là sự đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hoà bình, tiến bộ trên thế giới. 

Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình mới, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân đang đứng trước những thách thức mới. Lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân chưa vững chắc. Việc tập hợp nhân dân vào Mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu số... Để kịp thời khắc phục những tồn tại trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023, Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Nghị quyết xác định mục tiêu: “Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến và xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc; góp phần thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Hiện thực hóa mục tiêu đó, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành cần chủ động tổ chức tốt việc nghiên cứu, học tập và quán triệt đầy đủ, sâu sắc nội dung cốt lõi của Nghị quyết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Triển khai thực hiện Nghị quyết bằng các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương; đồng thời làm tốt một số nội dung biện pháp sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc; về vị trí, tầm quan trọng của phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới. Từ đó, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng và hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, và nhân dân về củng cố, tăng cường và phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, kiên quyết, kiên trì thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh theo các Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khoá XII và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách về phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới. Xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và giải quyết hài hoà lợi ích trong xã hội. 

Bốn là, thực hiện tốt công tác nắm bắt dư luận xã hội, chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp, kịp thời giải quyết những tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc trong các tôn giáo góp phần tuyên truyền, vận động, tạo đồng thuận xã hội, động viên nhân dân tham gia tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của địa phương, đất nước; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Năm là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng cơ chế phù hợp để nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước, những vấn đề có liên quan mật thiết đến cuộc sống của người dân. Các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước nêu cao tinh thần cầu thị, tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của nhân dân theo quy định.

Cùng với triển khai thực hiện tốt Nghị quyết của Trung ương, nhân dân ta cần nâng cao cảnh giác, tỉnh táo trước những luận điệu vu khống, xuyên tạc của các phần tử cơ hội, phản động muốn phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, nhằm làm cho đất nước ta, dân tộc ta suy yếu “từ bên trong”. Trong bối cảnh phức tạp của tình hình hiện nay, chỉ có “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” mới tạo nên sức mạnh vô địch, giúp dân tộc ta, đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức để phát triển toàn diện, bền vững./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA NHÂN DÂN TRONG PHONG TRÀO “TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC” GIAI ĐOẠN HIỆN NAY!

     Trong suốt 79 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Công an nhân dân luôn xác định, quần chúng nhân dân là nhân tố quyết định mọi thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự, cũng như trong xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Phát huy sức mạnh của nhân dân trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” theo tinh thần Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” được xác định là nội dung quan trọng của biện pháp vận động quần chúng tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Vai trò của nhân dân và nội dung phát huy sức mạnh của nhân dân trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đánh giá cao vai trò, sức mạnh của nhân dân và khẳng định chân lý: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” là một trong những phong trào thi đua yêu nước, gắn bó chặt chẽ với các phong trào cách mạng khác, là cơ sở rất quan trọng để xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là biện pháp cơ bản, quan trọng để phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với các loại tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ đắc lực việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước. Do vậy, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng, chiến lược để tập hợp, phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân (LLCAND) 79 năm qua luôn gắn liền với những hình thức tổ chức và tập hợp quần chúng, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, khả năng tiềm tàng, sáng tạo, ý thức và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Trong giai đoạn hiện nay, nhằm phát huy sức mạnh của nhân dân trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, Bộ Công an đã tham mưu với Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 521/QĐ-TTg, lấy ngày 19-8 hằng năm - Ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân - là “Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Điều này không chỉ nhằm biểu dương sức mạnh của toàn dân, tôn vinh vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, mà còn thể hiện truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa lực lượng công an với nhân dân. Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an cũng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo quan trọng về công tác dân vận và xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” đã được thực hiện thường xuyên, liên tục, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, đặc điểm từng vùng, miền, nhóm đối tượng, địa bàn dân cư và tình hình thực tế của các đơn vị, địa phương; nhờ đó, vai trò và sức mạnh to lớn của nhân dân đã được tập hợp, duy trì, phát huy.

Lực lượng Công an nhân dân đặc biệt coi trọng công tác nắm tình hình; tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Triển khai, bố trí công an chính quy tại 100% công an xã, phường, thị trấn trực tiếp thực hiện công tác dân vận, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh, trật tự ngay từ cơ sở; thường xuyên triển khai, thực hiện các biện pháp đi sâu, đi sát, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, dư luận của các tầng lớp nhân dân; từ đó, nắm chắc tình hình an ninh, trật tự, âm mưu, hoạt động của các loại tội phạm tại từng địa bàn, lĩnh vực nhằm chủ động tham mưu, đề ra các biện pháp thực hiện công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Tính đến ngày 25-8-2023, Bộ Công an đã ký quyết định đưa 3.452/3.945 xã, thị trấn ra khỏi danh sách xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự. Công an các cấp thường xuyên đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện và vận động quần chúng nhân dân tham gia ngày càng nhiều hơn, hiệu quả hơn vào phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; trong đó, chú trọng tới những địa bàn chiến lược, trọng điểm phức tạp về an ninh, trật tự với những hoạt động cụ thể là: 1- Tập trung phát động nhân dân thực hiện nghiêm túc pháp luật về tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của công dân; xây dựng mối quan hệ đoàn kết các tín đồ tôn giáo với những người không theo đạo; dựa vào nhân dân, đấu tranh với những người lợi dụng tôn giáo kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; 2- Tập trung phát động nhân dân thực hiện nghiêm túc chính sách dân tộc của Đảng; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; dựa vào nhân dân phát hiện, đấu tranh với hoạt động chia rẽ, kỳ thị dân tộc, hoạt động thành lập cái gọi là “Nhà nước Mông”, “Nhà nước Đề Ga”, hoạt động FULRO, “Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ”; bảo vệ an ninh biên giới; xây dựng bản, làng đoàn kết, văn hóa; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản tham gia giải quyết các vấn đề về an ninh, trật tự tại cơ sở; 3- Thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường, tài nguyên, an ninh trên biển; 4- Vận động nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới, xóm, làng, xã an toàn; tham gia phát hiện, tố giác tội phạm và quản lý, giáo dục, giúp đỡ người vi phạm pháp luật tại phường, xã; tham gia xây dựng cơ sở chính trị gắn bó với lực lượng công an; nhân rộng các hình thức tự phòng, tự quản, tự hòa giải các mâu thuẫn nội bộ nhân dân tại cơ sở; 5- Phát động cán bộ, công nhân, viên chức tham gia xây dựng cơ quan, doanh nghiệp an toàn về an ninh, trật tự, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng; bảo vệ bí mật nhà nước.

Trên cơ sở triển khai, cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ngành công an về công tác dân vận, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” đã được triển khai sâu rộng ở khắp các địa bàn, lĩnh vực, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng tham gia. Hiện nay, cả nước có hơn 4.300 mô hình trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” với nhiều mô hình hoạt động hiệu quả theo hướng tự phòng, tự quản, tự bảo vệ, tự hòa giải tại cơ sở, góp phần làm giảm tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; đặc biệt, đã có nhiều mô hình đáp ứng yêu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, tham gia tích cực, tiêu biểu là mô hình: “Tổ COVID-19 cộng đồng” tại tỉnh Vĩnh Phúc, “Tổ tự quản cộng đồng tham gia bảo đảm an ninh, trật tự và phòng, chống dịch bệnh COVID-19” tại tỉnh Bắc Giang, “Vùng Xanh an toàn” tại thành phố Hà Nội, “Móc khóa đường dây nóng COVID-19” tại tỉnh Cao Bằng, “Tự quản, tự phòng, chống COVID-19” tại tỉnh Hà Nam, “Tổ, chốt bảo vệ vùng xanh” tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu... Thông qua các mô hình tự quản, phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở, nhân dân đã tích cực tham gia báo tin, tố giác tội phạm, phát hiện, hỗ trợ LLCAND đấu tranh với hoạt động của các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ người lầm lỗi tại gia đình và cộng đồng dân cư; giữ gìn trật tự công cộng, trật tự giao thông, phòng, chống cháy nổ... Bên cạnh đó, nhân dân còn tích cực tham gia góp ý, xây dựng LLCAND trong sạch, vững mạnh; nhờ sự góp ý của nhân dân, LLCAND đã khắc phục những hạn chế, đổi mới các mặt công tác, nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc theo phương châm: “Lúc dân cần, lúc dân khó có công an”; qua đó, củng cố niềm tin, mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhân dân với cấp ủy, chính quyền và LLCAND.

Lực lượng Công an nhân dân tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ, phát huy tốt vai trò của ban dân vận, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan, ban, ngành các cấp trong công tác vận động, phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân tham gia Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên các địa bàn, lĩnh vực; nổi bật là: LLCAND đã phối hợp với ban dân vận các cấp triển khai, thực hiện các chương trình phối hợp công tác dân vận giai đoạn 2011 - 2015, 2016 - 2021 và hiện nay, đang triển khai, thực hiện chương trình phối hợp thực hiện công tác dân vận giai đoạn 2022 - 2026; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên các cấp triển khai, thực hiện hiệu quả chương trình phối hợp về đẩy mạnh phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trong tình hình mới, giai đoạn 2013 - 2023 và đang tổng kết, đánh giá kết quả sau 10 năm thực hiện để tổ chức ký kết, thực hiện chương trình phối hợp trong giai đoạn 2023 - 2033.

Bên cạnh đó, LLCAND đã thường xuyên thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, từ thiện, giúp đỡ nhân dân với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, góp phần tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa LLCAND với nhân dân, xây dựng hình ảnh đẹp về người cán bộ, chiến sĩ công an trong lòng nhân dân, vì nhân dân phục vụ, tiêu biểu là các hoạt động: “Hiến máu, tình nguyện”; chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, phụng dưỡng “Mẹ Việt Nam anh hùng”; xây dựng hàng nghìn ngôi nhà tình nghĩa, tình thương, nhà nghĩa tình đồng đội và nhà cho các gia đình chính sách, các hộ nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; giúp đỡ nhân dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng thường xuyên bị bão, lũ; tặng quà cho trẻ em nghèo, vượt khó học giỏi; trực tiếp tham gia cứu nạn, cứu hộ, bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân.

Giải pháp phát huy sức mạnh của nhân dân trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trong điều kiện mới

Dự báo trong thời gian tới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta diễn ra trong bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực và Biển Đông có nhiều diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường. Xung đột giữa Nga - U-crai-na ngày càng leo thang căng thẳng, đe dọa đến hòa bình, ổn định của tất cả quốc gia. Thế giới đã và đang vận động theo xu hướng từ đơn cực chuyển sang đa cực, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh; trong đó, mặt cạnh tranh đậm nét hơn, phức tạp và quyết liệt hơn, nổi lên là cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và quyết liệt.

Ở trong nước, các thế lực thù địch và phản động tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; chúng đưa nhiều thông tin xấu độc, thông tin sai sự thật gây hoang mang, dao động, tạo nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi, tiếp tục có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...; một số cán bộ, đảng viên không gương mẫu, quan liêu, xa dân, không làm tròn bổn phận trước nhân dân, thậm chí có hành vi tham nhũng, tiêu cực, lãng phí làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu rộng tới mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quốc phòng - an ninh, bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng.

Trong LLCAND, tình trạng một số cán bộ, chiến sĩ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, sĩ quan cao cấp thiếu tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến vi phạm đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, kỷ luật, Điều lệnh Công an nhân dân, có những vụ việc vi phạm nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự và truyền thống của LLCAND.

Về phía người dân, được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin do sự mở rộng và phát triển của internet, nhất là mạng xã hội facebook, zalo... nên bên cạnh những thông tin chính thống tích cực, thì các thông tin xấu độc, sai sự thật của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, những thông tin không phù hợp với văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã và đang tác động tiêu cực tới không ít người dân, bị lôi kéo, mua chuộc, xúi giục; từ đó, có những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Tình hình trên sẽ tác động, ảnh hưởng đến việc xây dựng sự đồng thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; làm cản trở tới việc phát huy sức mạnh của nhân dân trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Nhằm phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân để nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, trong thời gian tới, LLCAND cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ LLCAND và toàn dân những nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của đất nước và các quan điểm chỉ đạo của Đảng về phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” giai đoạn hiện nay.

Cần quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trong tình hình mới; phải xác định công tác xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của từng đơn vị, địa phương và phải nêu cao tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy, người đứng đầu đơn vị, địa phương và của từng cán bộ, chiến sĩ trong công tác xây dựng và vận động quần chúng nhân dân tích cực, tự nguyện tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Chú trọng tuyên truyền, giáo dục, vận động, hướng dẫn nhân dân nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nội quy, quy định về bảo vệ an ninh, trật tự; các phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm, tình hình tệ nạn xã hội; các sơ hở, thiếu sót trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm để nhân dân chủ động áp dụng biện pháp phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả; hiểu rõ quyền và nghĩa vụ trên lĩnh vực an ninh, trật tự để từ đó nhân dân tự nguyện, tự giác tham gia vào nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự.

Hai là, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tham mưu, phục vụ các cấp ủy, chính quyền và công an cấp trên trong đề ra chủ trương, biện pháp, hình thức chỉ đạo các hoạt động của phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tổ chức thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trong tình hình mới; chỉ đạo công tác xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” phải gắn kết, hòa nhập với các cuộc vận động cách mạng lớn, như “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”... qua đó, nhiều thuần phong mỹ tục, truyền thống tốt đẹp trong nhân dân được khôi phục, phát huy, đóng góp vào sự phát triển của phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trong giai đoạn hiện nay.

Ba là, tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ký các chương trình, kế hoạch, quy chế phối hợp liên ngành để huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cùng với LLCAND tuyên truyền, giáo dục, vận động, huy động sức mạnh của cán bộ, đảng viên và toàn dân tích cực tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Năm 2022, Bộ Công an đã phối hợp với Ban Dân vận Trung ương chỉ đạo tổng kết toàn quốc 5 năm thực hiện Chương trình số 38-CTr/BDVTW-BCA, ngày 15-6-2016, về “Phối hợp thực hiện công tác dân vận giữa Ban Dân vận Trung ương và Bộ Công an giai đoạn 2016 - 2021” và hiện nay, đang phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn LLCAND, ban dân vận các cấp triển khai ký kết và thực hiện hiệu quả chương trình phối hợp thực hiện công tác dân vận giai đoạn 2022 - 2026.

Bên cạnh đó, Bộ Công an đang phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình phối hợp số 09/CTr-BCA-MTTW, ngày 1-8-2013, về “Đẩy mạnh phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” và đang chỉ đạo tổng kết để ký kết chương trình phối hợp về đẩy mạnh phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trong tình hình mới giai đoạn 2023 - 2033. Trên cơ sở đó, LLCAND tiếp tục huy động sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân, như người cao tuổi, cựu chiến binh, thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân tham gia mạnh mẽ phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trong tình hình mới.

Bốn là, thường xuyên mở các đợt vận động tập trung để giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm, mở các đợt tấn công trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội, tạo khí thế, động viên nhân dân tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Mở nhiều đợt cao điểm tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia tấn công, trấn áp tội phạm; thu hồi vũ khí, vật liệu nổ; vận động đối tượng phạm pháp ra tự thú; phát hiện, tố giác tội phạm; giáo dục, giúp đỡ người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư, góp phần huy động, gắn kết sức mạnh của nhân dân với sức mạnh của LLCAND và các cơ quan chức năng bảo vệ, thực thi pháp luật.

Hằng năm, duy trì phát động mạnh mẽ, sâu rộng: “Tháng hành động phòng, chống ma túy”, “Tháng an toàn giao thông”, “Ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy”, “Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”... qua đó, phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân và tạo khí thế cách mạng, khí thế thi đua để phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” phát triển mạnh mẽ.  

Năm là, tập trung nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” ở các địa bàn chiến lược, trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự. Chú trọng xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo trao đổi kinh nghiệm về xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” phù hợp với các địa bàn, lĩnh vực; chú trọng các khu vực: miền núi phía Bắc, khu vực Tây Bắc và phụ cận, khu vực Tây Nguyên, khu vực Tây Nam Bộ...

Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp vận động, nhằm huy động sức mạnh của nhân dân trong công tác xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” tại các địa bàn cụ thể: Ở địa bàn tập trung đồng bào tôn giáo, cần tập trung phát động nhân dân thực hiện nghiêm túc chính sách tôn giáo của Đảng; quyền và nghĩa vụ công dân với các phong trào “Kính Chúa, yêu nước”, “Tốt đời, đẹp đạo”; xây dựng tình đoàn kết giữa các tín đồ với người không theo đạo... Ở địa bàn tập trung đồng bào dân tộc thiểu số cần chú trọng phát động nhân dân các dân tộc thực hiện nghiêm túc chính sách dân tộc của Đảng; xây dựng tình đoàn kết các dân tộc; phát hiện, đấu tranh với các hoạt động chia rẽ, kỳ thị dân tộc, hoạt động “xưng vua”, phát triển đạo trái pháp luật... Ở địa bàn tuyến biển, đảo, cần xây dựng cho nhân dân ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cả trên bờ, vùng nội thủy và vùng lãnh hải; vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường, tài nguyên biển, chấp hành các quy định về quản lý phương tiện hành nghề trên biển. Ở địa bàn nông thôn, cần tập trung phát động nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới, xây dựng thôn, xóm, làng, xã an toàn, đoàn kết, văn hóa, toàn dân tham gia tố giác tội phạm và quản lý, giáo dục, giúp đỡ người vi phạm pháp luật tại khu dân cư... Ở các cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, cần tập trung phát động cán bộ, công nhân, viên chức, người lao động tích cực tham gia xây dựng cơ quan, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục an toàn về an ninh, trật tự, bảo vệ chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng, văn hóa, bảo vệ bí mật nhà nước, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Tích cực xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” hoạt động hiệu quả theo hướng tự phòng, tự quản, tự bảo vệ, tự hòa giải về an ninh, trật tự từ sớm tại cơ sở và mang tính xã hội hóa ngày càng cao, nhằm phát huy vai trò làm chủ, tính tích cực của nhân dân trong phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; là cơ sở để xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Sáu là, xây dựng cơ chế huy động sức mạnh nhân dân ở trong và ngoài nước tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ.

Lực lượng công an nhân dân cần phát huy vai trò nòng cốt tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền địa phương tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”.

Các lực lượng nghiệp vụ thường xuyên triển khai các kế hoạch tuyên truyền, vận động để du học sinh, người lao động nhận thức được và không tham gia các hội, nhóm trá hình, núp dưới danh nghĩa tổ chức “xã hội dân sự”, thanh niên, phụ nữ, tôn giáo, hỗ trợ pháp lý... của các thế lực thù địch, phản động; triển khai hiệu quả các kế hoạch tuyên truyền, vận động số đồng bào dân tộc thiểu số vượt biên trái phép trở về địa phương.

Phối hợp với các cơ quan chức năng thường xuyên tổ chức các hoạt động nhằm quảng bá, phát huy văn hóa, truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, giao lưu văn nghệ, thể thao, gắn kết cộng đồng, như tổ chức các buổi lễ cầu siêu, hội chợ du lịch, ngày hội văn hóa Việt Nam, triển lãm sách, tranh, ảnh về văn hóa, đất nước, con người Việt Nam.

Bảy là, phát động mạnh mẽ phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trên không gian mạng.

Khẩn trương tham mưu xây dựng đề án của Bộ Công an về xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trên không gian mạng để triển khai, thực hiện thống nhất trong toàn LLCAND.

Chú trọng việc lựa chọn, sử dụng mạng xã hội facebook, zalo để tuyên truyền, huy động đông đảo nhân dân tham gia tương tác, trao đổi, đấu tranh phòng, chống các quan điểm, hành động sai trái, luận điểm xuyên tạc, phản động; like, chia sẻ, tương tác với các thông tin trên mạng xã hội một cách có trách nhiệm và hữu ích để cùng chung tay xây dựng mạng xã hội Việt Nam lành mạnh, thân thiện, giúp mạng xã hội trở thành công cụ hữu ích để phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” phát triển sâu rộng, bền vững, góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Tám là, thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng LLCAND trực tiếp làm công tác xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” ở cơ sở và chú trọng công tác bồi dưỡng, tập huấn, thi đua, khen thưởng kịp thời.

Tăng cường xây dựng LLCAND có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng, gắn thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, thực hiện tốt cuộc vận động “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” và phong trào “Công an nhân dân học tập và thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy” nhằm xây dựng LLCAND trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt trong công tác xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Quan tâm, tăng cường lực lượng công an các cấp hướng về cơ sở, thực hiện nhiệm vụ công an xã, phường, thị trấn để trực tiếp thực hiện công tác vận động nhân dân tham gia xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; tiếp tục bố trí thêm biên chế công an chính quy tại công an cấp xã và chú trọng đổi mới cách thức, phương pháp vận động nhân dân để chủ động phòng ngừa, đấu tranh không khoan nhượng với tội phạm, tệ nạn xã hội, làm chỗ dựa vững chắc cho nhân dân, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân ngay từ cơ sở.

Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ đối với lực lượng làm công tác xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và các tổ chức quần chúng bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Kịp thời động viên, khen thưởng đối với tập thể, cá nhân cán bộ, chiến sĩ LLCAND và quần chúng nhân dân tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁC ÂM MƯU LÔI KÉO, KÍCH ĐỘNG!

     Xem thông tin kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; khủng bố; tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; che giấu tội phạm” xảy ra tại huyện Cư Kuin (tỉnh Đắk Lắk), nhiều bác nghỉ hưu ở khu phố 7, phường Xuân Khanh (Sơn Tây, Hà Nội) không khỏi bất ngờ. Trong giờ uống trà buổi tối, chuyện này được bàn luận sôi nổi.
- Tôi nghĩ với tính chất, hành vi khủng bố dã man, tàn bạo, nguy hiểm, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án các bị cáo phải chịu nặng hơn. Thực tế, không chỉ người dân nước ta mà cả thế giới đều lên án mạnh mẽ hành vi khủng bố. Các nước đều đấu tranh kiên quyết và triệt để, không khoan nhượng với tội phạm khủng bố...

Cựu chiến binh Sơn vừa dứt lời, bác Mẫn cũng bày tỏ bức xúc:
- Đúng thế! Đó là chưa kể, những kẻ khủng bố hoạt động có tổ chức nhằm thực hiện mưu đồ lật đổ chính quyền nhân dân, chống phá đất nước, làm xáo trộn cuộc sống bình yên của cả huyện, cả tỉnh. Tại phiên tòa, tất cả bị cáo và luật sư bào chữa, trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo đều đồng ý với bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Ngay một số trang mạng phản động lần này cũng không thể có ý kiến phản đối tội danh của các bị cáo, bởi những hành vi nguy hiểm và tội lỗi các bị cáo gây ra đã quá rõ ràng. Đáng lẽ tòa phải tuyên phạt thích đáng hơn. 

Thấy các “bạn hưu” đều không đồng tình với mức án “nhẹ” mà tòa sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo trong vụ khủng bố ở Đắk Lắk vào đêm 10-6, rạng sáng 11-6-2023, bác Hòa, nguyên là cán bộ ngành tư pháp, giải thích:
- Các bác nói cũng hợp lý, vì với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội khủng bố gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như vậy thì mức án pháp luật quy định rất nặng. Tại phiên tòa, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt tử hình đối với 2 bị cáo, tù chung thân đối với 11 bị cáo, các bị cáo khác đề nghị mức án từ 12 tháng đến 20 năm tù giam. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều bày tỏ đã nhận rõ hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn hối cải, xin được Đảng, Nhà nước, pháp luật, nhân dân và Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình, làm lại cuộc đời. Đồng thời, các bị cáo cũng xin lỗi những gia đình người bị hại và mong được tha thứ; mong mọi người không nghe theo kẻ xấu, không làm những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật. Nhận thấy hầu hết bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết còn hạn chế, dễ bị các đối tượng xấu lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo, kích động làm những việc trái pháp luật; sau khi xem xét khách quan, toàn diện vụ án, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, đặc biệt là thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo mức án thấp hơn Viện Kiểm sát nhân dân đề nghị. Cụ thể là tuyên phạt 10 bị cáo mức án tù chung thân, các bị cáo khác bị phạt từ 9 tháng đến 20 năm tù. Như vậy, mức án này thể hiện rõ chính sách nhân văn của Đảng, Nhà nước ta, hợp lý và hợp tình. Nếu các bị cáo có trình độ hiểu biết mà phạm tội thì chắc sẽ bị xử phạt nặng hơn, các bác ạ!

Nghe ông Hòa phân tích thấu đáo, mọi người đều gật gù bày tỏ sự đồng tình. Cựu chiến binh Thắng tiếp lời:
- Tôi thấy bài học rút ra là mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác để không bị lôi kéo, kích động. Các cấp chính quyền cần tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu biết pháp luật, nhận rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước. Mỗi gia đình, từng khu dân cư cũng phải thường xuyên quan tâm làm tốt việc này để chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động. Kẻ xấu sẽ không dụ dỗ, lôi kéo được người dân làm những việc trái pháp luật nếu cán bộ, đảng viên từ cấp cơ sở sâu sát bám nắm, làm cho nhân dân hiểu và có tinh thần cảnh giác, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, các ông nhỉ?./.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: TỔNG THƯ KÝ UNCTAD "VIỆT NAM LÀ HÌNH MẪU LẠC QUAN TRONG BỐI CẢNH THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG"!

         Sáng 17/1 (giờ địa phương), tại Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã hội kiến Tổng Thư ký Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) Rebeca Grynspan.

Bà Rebeca Grynspan nhấn mạnh UNCTAD luôn coi Việt Nam là một hình mẫu về phát triển, về niềm tin và sự lạc quan trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động như hiện nay. Cá nhân bà, cũng là nguyên Phó Tổng thống Costa Rica, luôn coi Việt Nam là một hình mẫu trong phát triển và mong muốn được đến thăm Việt Nam.

Tổng Thư ký UNCTAD chia sẻ nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập trong năm nay, UNCTAD sẽ tổ chức một hội nghị toàn cầu và mong muốn Việt Nam cử lãnh đạo tham dự. Đồng thời, mong Việt Nam tham gia, đóng góp tích cực vào việc tổ chức Hội nghị Bộ trưởng UNCTAD trong năm 2025.

Thủ tướng Chính phủ cảm ơn những tình cảm tốt đẹp mà Tổng Thư ký dành cho Việt Nam; khẳng định Việt Nam đánh giá cao vai trò của UNCTAD trong việc hỗ trợ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trong việc tư vấn, hỗ trợ trong xây dựng các chính sách phát triển, góp phần duy trì cuộc sống ấm no cho người dân.

Thủ tướng khẳng định, nhờ sự hỗ trợ của UNCTAD, Việt Nam vững tin và kiên định các đường lối phát triển đã đề ra; bày tỏ mong muốn UNCTAD tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trên tất cả các khía cạnh phát triển, giúp đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là tạo điều kiện tuyển dụng thêm nhiều chuyên gia của Việt Nam làm việc tại Ban Thư ký UNCTAD trong thời gian tới.

Thủ tướng cũng mong muốn UNCTAD phát huy hơn nữa vai trò trong thúc đẩy hợp tác toàn cầu và hợp tác Nam - Nam, nhất là mô hình hợp tác ba bên, giữa Việt Nam với một nước phát triển và một nước kém phát triển hơn.

Nhân dịp này, Thủ tướng đã chuyển lời mời Tổng Thư ký sớm sang thăm Việt Nam để tiếp tục trao đổi về các biện pháp nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai bên.

* Trước đó, tại phiên thảo luận The End of Development? (Liệu sự phát triển đã kết thúc?) trong khuôn khổ WEF Davos, Tổng Thư ký UNCTAD cho rằng: Thế giới đang chuyển từ giai đoạn đa khủng hoảng sang một giai đoạn khủng hoảng kéo dài với các thách thức như diễn biến địa chính trị, các cuộc bầu cử trên toàn cầu, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và các quy tắc thay đổi vào cuối siêu chu kỳ 30 năm.

Bà nhấn mạnh, trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh chóng, nhu cầu thích ứng là quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt là tầm nhìn dài hạn với các chính sách mang tính toàn diện về nguồn nhân lực, lao động, giáo dục, sức khỏe và môi trường.

Tổng Thư ký UNCTAD đánh giá: Việt Nam chính là ví dụ điển hình. Là một quốc gia có quy mô trung bình, không ai nghĩ rằng Việt Nam sẽ phát triển và đa dạng hóa nhanh chóng như vậy. Việt Nam tận dụng tốt những gì có sẵn đồng thời thay đổi chính sách để thích ứng một cách linh hoạt./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 24 THÁNG 01 NĂM 1963!

     “Tết trồng cây chẳng những có ý nghĩa lãnh tế mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn”!
Là lời trong Bài "Tết trồng cây" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên Báo Nhân dân, số 3228, ngày 27-1-1963; vào thời điểm, các địa phương trên cả nước đang sôi nổi chuẩn bị Tết trồng cây, với khi thế tinh thần và trách nhiệm rất cao; trong đó nổi bật là Đoàn Than niên Lao động ở 10 tỉnh, thành (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tĩnh, v.v) đã quyết tâm nhận trách nhiệm làm đội quân chủ lực đi đầu trong phong trào Tết trồng cây.
Hồ Chủ tịch đã nêu rõ tác dụng của việc trồng cây "tốn kém ít mà ích lợi nhiều"; ghi nhận, biểu dương công tác chuẩn bị Tết trồng cây của các địa phương trong ngày đầu năm mới đã có nhiều tiến bộ so với những năm trước; đồng thời nhắc nhở, chỉ rõ cho cấp ủy, chính quyền, các cấp, các ngành: Phải có kế hoạch thật chu đáo; cần động viên lực lượng quần chúng rộng rãi tham gia trồng cây ở tất cả các nông trường, xí nghiệp, cơ quan, bộ đội, trường học...; cần làm cho mọi người, nhất là làm cho các em nhi đồng biết bảo vệ tốt cây xanh; quan tâm chăm sóc, sửa sang làm cho cây ngày càng tươi đẹp hơn; tăng cường kiểm tra đánh giá cụ thể; thường xuyên phát huy tốt vai trò của các chi bộ và chi đoàn thanh niên trong lãnh đạo, chỉ đạo, để Tết trồng cây chẳng những có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn đối với nước nhà.
Thực hiện lời dạy của Người, để Tết trồng cây đi vào chiều sâu và có ý nghĩa thiết thực, các địa phương, các cấp, các ngành đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân hiểu sâu sắc mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây, vận động cán bộ, nhân dân, bộ đội, thanh niên, học sinh hăng hái tham gia trồng cây, gây rừng, nhất là ở những nơi đất trống, nơi công sở, trường học, doanh trại đơn vị quân đội, tạo thành phong trào tự giác, sôi nổi, rộng khắp trong cả nước; trở thành truyền thống, nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ tài nguyên rừng.
Trong giai đoạn hiện nay, lời căn dặn về "Tết trồng cây" của Bác Hồ càng trở nên có ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh đất nước ta đang là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhất của biến đổi khí hậu; hơn nữa hiện nay vẫn còn một số nơi chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, hiệu quả của "Tết trồng cây", đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức tốt hơn nữa "Tết trồng cây", theo đứng tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để càng làm sáng ngời nếp đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thấm nhuần tinh thần "Tết trồng cây" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị quân đội luôn là lực lượng xung kích, đi đầu thực hiện có hiệu quả "Tết trồng cây", tham gia quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ; thực hiện trồng cây phủ xanh đồi trọc; đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt, lành mạnh, phong phú, gắn với Phòng trào xây dựng doanh trại quân đội xanh - sạch - đẹp và các phong trào, cuộc vận động khác, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỘC VÀ SUY NGẪM: TRỜI LẠNH TEO NÓI CHUYỆN CHẾ ĐỘ VÀ VĂN HÓA ĐÔNG TÂY!

        Truyền thống và văn hoá Á Đông khác hẳn với truyền thống văn hoá và cách sống của phương tây. Á đông khi cha mẹ sinh con ra là cha mẹ đi theo con suốt cả cuộc đời cả nghĩa bóng và nghĩa đen, không phải như phương tây con cái đến 18 tuổi là tách ra tự lập, không còn liên quan và quan hệ với nhau mấy nữa.
VN ta nói riêng và Á Đông nói chung, cha mẹ thương yêu bao bọc và có trách nhiệm với con cái hết đời và ngược lại (tất nhiên trừ những kẻ vô loài ), gọi là tứ đại đồng đường, cùng chung sống dưới một mái nhà đến 4-5 thế hệ. Điều này đảm bảo cho những bậc phụ huynh khi cao tuổi già yếu có con cháu chăm sóc, đỡ tủi khổ tấm thân! Mặc dù trong số con cái thì cũng có đứa quan tâm chăm sóc cha mẹ hơn đứa khác, nhưng dù chỉ 1 đứa thì vẫn ăn đứt bên tây. Chiều qua bố tôi nói thèm ăn vịt quay, mặc dù trời lạnh tôi vẫn đi 5-6 cây số để mua, ở phương tây thì khó...
Và chế độ XHCN rất ít người vô gia cư, tức là người bị nhà nước đuổi ra khỏi nhà vì nợ, như Trung Quốc cũng hiếm người vô gia cư, thấy báo đăng ở một nước có nền kinh tế số 1 thế giới người vô gia cư ch ết vì rét nhiều lắm, trên 17 ngàn người cơ đấy.
Dưới đây là ảnh ở nước ấy./.
Yêu nước ST.

NỮ TRƯỞNG THÔN TIÊU BIỂU Ở VÙNG BIÊN THƯỢNG PHÙNG

Nhắc tới chị Mua Thị Và, dân tộc Mông, thôn Mỏ Phàng, xã Thượng Phùng, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang là người dân trong vùng nghĩ ngay tới một nữ trưởng thôn năng động, gương mẫu. Đầu tháng 12/2023, chị vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Mỏ Phàng là thôn biên giới của xã Thượng Phùng có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài hơn 2,2km, với 8 cột mốc, từ mốc 444, đến mốc 451. Toàn thôn hiện có 87 hộ/502 nhân khẩu với 3 dân tộc chung sống, trong đó, người Mông chiếm đa số. Đời sống của nhân dân trong thôn chủ yếu sản xuất nông nghiệp, làm nương, trồng trọt và chăn nuôi. Những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, đến nay, thôn Mỏ Phàng đã có đường giao thông, có điện lưới quốc gia, được đầu tư hệ thống bể nước, ống dẫn nước phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt... Tuy nhiên, địa hình của thôn có nhiều núi cao, chia cắt, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, trình độ dân trí của một bộ nhân dân còn hạn chế, đời sống kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo những năm trước còn khá cao.

Chị Mua Thị Và được bầu làm trưởng thôn từ năm 2015, khi đó, chị mới 26 tuổi. Trên cương vị mới này, ban đầu, chị rất lo lắng vì chưa có kinh nghiệm, lại còn trẻ tuổi. Để gây dựng lòng tin trong nhân dân, chị Và xác định bản thân phải gương mẫu. Người dân ở Mỏ Phàng vẫn giữ thói quen sản xuất tự cung, tự cấp, nuôi lợn thả rông, chỉ cho ăn rau. Trưởng thôn Và tuyên truyền, vận động bà con nuôi nhốt gia súc, gia cầm. Chị làm trước để bà con làm theo, chị học cách chăn nuôi lợn theo hướng hiện đại. Chị trồng rau, nấu bột ngô, bỗng rượu cho lợn ăn. Nhờ biết cách chăm sóc, đàn lợn của gia đình chị phát triển tốt. Mỗi năm, chị nuôi 2 lứa, thu nhập khoảng hơn 20 triệu đồng. Chị đã chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi theo phương pháp mới, hiệu quả cho người dân trong thôn. Cùng với đó, chị còn vận động bà con cải tạo vườn tạp, trồng rau, cây ăn quả có giá trị cao, phát triển kinh tế vườn hộ.

Nhờ sự hướng dẫn của chị Và, người dân ở Thượng Phùng hiện giờ đã dần thay đổi nếp nghĩ, cách làm. Thay vì nuôi 1-2 con lợn để thịt ăn Tết như suy nghĩ trước đây, bây giờ, một số hộ dẫn đã biết cách nuôi lợn theo hướng tập trung, biết cách chăm sóc để lợn lớn nhanh, xuất bán ra thị trường. Bà con cũng làm chuồng trại chống rét cho vật nuôi, đồng thời, bổ sung thêm thức ăn tinh cho gia súc vào mùa Đông. Nhờ biết cách làm ăn, tăng thu nhập cho gia đình, năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo ở thôn Mỏ Phàng đã giảm xuống còn 34 hộ nghèo, chiếm khoảng gần 40%.

Dấu ấn của nữ trưởng thôn trẻ Mua Thị Và còn thể hiện ở việc vận động nhân dân thực hiện tốt các nội dung Ngày Biên phòng toàn dân và Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới". Thôn Mỏ Phàng đã thành lập Tổ tự quản đường biên, mốc quốc giới với 6 thành viên do đồng chí Bí thư chi bộ, trưởng thôn làm tổ trưởng; đồng thời, vận động 87 hộ trong thôn đăng ký tham gia tự quản về an ninh trật tự và đường biên, mốc quốc giới.

Trong những năm qua, Tổ tự quản đường biên, mốc quốc giới của thôn Mỏ Phàng hoạt động thường xuyên, nền nếp, hiệu quả. Chị Và cùng cán bộ thôn đã chủ động đề xuất với Ban Chỉ đạo phong trào của xã và đồn Biên phòng tổ chức cho nhân dân trong thôn nhận biết hệ thống, đường biên, cột mốc do thôn tham gia bảo vệ. Các hộ tham gia đăng ký tự quản về đường biên, mốc quốc giới và tự quản về an ninh trật tự thôn biên giới đều nâng cao ý thức trách nhiệm, có nhiều đóng góp quan trọng trong tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới và giữ gìn an ninh trật tự thôn, bản biên giới.

Chị Và cho biết: “Trong năm qua, chúng tôi tổ chức cho nhân dân tham gia cùng cán bộ, chiến sĩ đồn Biên phòng tuần tra bảo vệ biên giới 12 lần; phát quang đường tuần tra, đường thông tầm nhìn biên giới 15 lần/51 lượt người tham gia. Nhân dân trong thôn đã cung cấp cho Đồn Biên phòng Xín Cái nhiều nguồn tin có giá trị phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm. Ngoài ra, Tổ tự quản đường biên, mốc quốc giới còn tham gia thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải, giải quyết được nhiều vụ việc mâu thuẫn trong nội bộ thôn. Nhiều năm qua, trong thôn Mỏ Phàng không có vụ việc nào phức tạp xảy ra, không có đơn thư khiếu nại vượt cấp".

CẦU NỐI "Ý ĐẢNG LÒNG DÂN" TRONG VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER

Không chỉ là Chủ tịch Hội Người cao tuổi của xã biên giới Phú Lợi, huyện Giang Thành, ông Tiên Lây còn được UBND tỉnh Kiên Giang công nhận là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2023-2027. Những năm qua, ông Tiên Lây rất tích cực và có nhiều đóng góp vào việc xây dựng quê hương, vận động nhân dân giữ gìn, phát huy các bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì lẽ đó, ông luôn được chính quyền địa phương tín nhiệm, bà con tin yêu, quý trọng.

Tích cực tham gia công tác xã hội

Đang bận bịu với "hàng núi" công việc cuối năm 2023 và chuẩn bị cho việc đón Xuân mới Giáp Thìn 2024, nhưng khi được sự giới thiệu của Trung tá Danh Tâm, Chính trị viên Đồn Biên phòng Phú Mỹ (BĐBP Kiên Giang), ông Tiên Lây đã thu xếp thời gian để tiếp đón các nhà báo. Câu chuyện giữa ông và chúng tôi liên tục bị gián đoạn bởi những cú điện thoại của bà con và các phật tử gọi tới. Người nhờ giải đáp vấn đề này, người thắc mắc vấn đề kia xoay quanh cuộc sống, quyền lợi của người dân vùng nông thôn. Sinh năm 1971, người dân tộc Khmer, ông Tiên Lây xuất thân là một nhà sư, từng là Đại đức, Trụ trì chùa Giồng Kè (xã Phú Lợi). Sau 30 năm tu luyện học giáo lý nhà Phật, học chữ, học nghề, ông xả giới, hoàn tục trở về cuộc sống đời thường.

Đại đức En Thunh, Trụ trì chùa Giồng Kè cho biết: Do có kiến thức về Phật giáo, nhiệt tình với công việc chung của phum, ấp, nên ông Tiên Lây đã kết hợp giữa giáo lý nhà Phật với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để tuyên truyền, vận động đồng bào. Ông luôn gương mẫu và nhiệt tình đứng ra vận động phật tử, các vị sư, sãi tích cực duy trì và tham gia vào các lễ hội văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Nam bộ; hướng cho con em trong phum, ấp hiểu thêm về văn hóa, tín ngưỡng, giáo lý nhà Phật, tạo ra các sân chơi, lễ hội truyền thống lành mạnh, bổ ích, an lành, tiết kiệm...

Để bà con địa phương có nơi hoạt động tín ngưỡng, duy trì các giá trị văn hóa của người Khmer, ông Tiên Lây đã đứng ra vận động các phật tử, mạnh thường quân đóng góp nguồn kinh phí để phụ vào xây cất chùa, nơi sinh hoạt cộng đồng, làm cầu, đường... Ông còn đi tìm các thợ xây có tay nghề, kinh nghiệm trong trang trí các họa tiết chùa chiền, nhờ họ đến tiếp giúp chùa với giá công thợ rẻ. Cứ như vậy mỗi ngày làm một phần việc, qua thời gian, các ngôi chùa trên địa bàn dần đã trang nghiêm, sạch, đẹp. Cùng với đó, ông Tiên Lây luôn tích cực đứng ra vận động bà con, phật tử tham gia vào các phong trào xóa đói, giảm nghèo, bài trừ tệ nạn xã hội, toàn dân giữ gìn an ninh phum, ấp. Từ đó, ông luôn được bà con tín đồ, phật tử tin yêu, quý trọng, chính quyền địa phương tín nhiệm.

Với những đóng góp của mình, năm 2018, ông Tiên Lây vinh dự được chọn ra Hà Nội dự lễ tôn vinh “Điểm tựa của bản, làng”. Ông phấn khởi nói: “Nhờ dịp đó nên mình vinh dự được chụp ảnh lưu niệm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu khắp mọi miền đất nước”.

Phát huy tốt vai trò của người có uy tín

Phú Lợi là xã biên giới với hơn 5.500 người (trong đó có trên 45% là đồng bào Khmer). Tuy là xã nghèo của huyện Giang Thành nhưng nhờ sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, cơ sở hạ tầng ở xã cơ bản đã hoàn thành, nhất là đường giao thông đã được bê tông hóa, nhựa hóa. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, địa lý nên Phú Lợi vẫn còn nhiều hộ nghèo, trình độ nhận thức của người dân không đồng đều. Với vai trò là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, ông Tiên Lây đã phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, vận động bà con chung sức xây dựng nông thôn mới, tích cực tham gia các phong trào đoàn thể, xã hội. Từ đó, đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, thúc đẩy nền kinh tế, giúp cho xã biên giới Phú Lợi ngày càng thêm khởi sắc, đi lên...Chính nhờ có hiểu biết, gắn liền giữa Phật pháp với cuộc sống nên qua công tác tuyên truyền, ông Tiên Lây đã từng bước giúp cho người dân hiểu hơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của bà con. Từ đó, bà con đã nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chính bản thân, gia đình, có nhiều nỗ lực vươn lên thoát khỏi đói nghèo.

Ông Lê Minh Cường, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Phú Lợi cho biết: "Vốn là người có kiến thức sâu rộng, sống có ý thức cao và trách nhiệm với cộng đồng, tiếng nói của ông Tiên Lây ngày càng có tính thuyết phục cao. Nhờ đó, ông đã truyền tải được nhiều kiến thức pháp luật, các quy định của địa phương đến với bà con trên địa bàn. Ông chính là người cao tuổi, có trách nhiệm, góp phần rất lớn vào công cuộc xây dựng quê hương, chung tay vận động đồng bào chấp hành pháp luật, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia”...

Theo Trung tá Danh Tâm, ngoài cương vị là Chủ tịch Hội Người cao tuổi của xã Phú Lợi, ông Tiên Lây còn phát huy vai trò của người có uy tín, tích cực tham gia vào các phong trào do địa phương và đồn Biên phòng phát động. Ông luôn đồng hành cùng Đồn Biên phòng Phú Mỹ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về Luật Biên giới quốc gia, các quy định về ra vào khu vực biên giới, chống xuất, nhập cảnh trái phép, vận động bà con tích cực tham gia phong trào tự quản đường biên, cột mốc.

GIÀ LÀNG KHUN PHAN - "ĐIỂM TỰA" CỦA ĐỒNG BÀO KHƠ ME Ở TẦM PHÔ

Từ lâu, già làng Khun Phan đã trở thành “điểm tựa” của đồng bào Khơ me ở ấp Tầm Phô, (xã Tân Đông, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh) khi mỗi lời nói, hàng động của ông đều trở thành thước đo chuẩn mực để mọi người làm theo. Già làng Khun Phan cũng là tấm gương về phát triển kinh tế gia đình khi nhanh nhạy bắt nhịp với cây, con giống mới, áp dụng hoa học kĩ thuật để tăng năng suất cây trồng vật nuôi, cải thiện đời sống.

Ấp Tầm Phô có 216 hộ/938 khẩu với hơn 90% là người đồng bào dân tộc Khơ me. Người dân ấp Tầm Phô phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp như trồng mía, sắn. Xuất phát điểm dân trí, kinh tế thấp, đời sống của nhân dân ở Tầm Phô từng gặp rất nhiều khó khăn bởi vậy một trong những nhiệm vụ của Đồn Biên phòng Kà Tum (BĐBP Tây Ninh) đó là cùng địa phương củng cố cơ sở chính trị, giúp dân phát triển kinh tế. Việc đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đến với người dân ở Tầm Phô không dễ dàng nhất là khi để thực sự đi vào cuộc sống.

Thiếu tá Lê Đình Thảo, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Kà Tum cho biết: “Khi Đồn Biên phòng Kà Tum muốn tuyên truyền, vận động người dân thì một trong những phương pháp được áp dụng mang lại hiệu quả đó là thông qua già làng, người có uy tín trong ấp. Già làng Khun Phan với lối sống mẫu mực, được mọi người trong ấp kính trọng, tin tưởng, bởi vậy chúng tôi thường thông qua già mỗi khi cần truyền tải nội dung gì đó đến với người dân. Những năm qua, già làng Khu Phan trở thành “cánh tay nối dài, đắc lực” giúp cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Kà Tum”.

Thực ra, già làng Khun Phan uy tín với người dân trong ấp không chỉ vì nói hay, sống gương mẫu mà còn là điển hình về phát triển kinh tế gia đình. Gia đình già Khun Phan có gần 4ha đất nông nghiệp. Không như một số gia đình vì khó khăn đã bán luôn cả “sinh kế “ của gia đình để giải quyết nhu cầu trước mắt để rồi rơi vào cảnh làm thuê trên chính mảnh đất từng là của mình. Với diện tích đất của gia đình, già Khun Phan phần để trồng mía, phần trồng sắn và áp dụng kĩ thuật mới, phân bón để tăng năng suất nhờ đó mà có thu nhập tốt hơn. Con trai của già làng Khun Phan cũng theo gương cha tập trung vào làm ăn trên phần đất do cha mẹ để lại. Đã 75 tuổi nhưng già làng Khun Phan vẫn phụ giúp gia đình con trai chăm sóc ruộng mía khiến mọi người rất nể phục. Tấm gương về phát triển kinh tế gia đình già làng Khun Phan trở thành hình mẫu cho nhiều gia đình khác ở Tầm Phô.

Những năm trở lại đây, UBND huyện Tân Châu đa triển khai nhiều chính sách đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số (trong đó có ấp Tầm Phô), góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn ởcác lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nông thôn mới. Nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và đặc biệt là ý chí vươn lên của người dân, cuộc sống mới của bà con dân tộc Khơ me ở ấp Tầm Phô đã từng bước chuyển biến tích cực. Đến nay, cả ấp chỉ còn 9 hộ cận nghèo, không có hộ nghèo. Ấp Tầm Phô dần khoác lên mình một diện mạo mới khi đời sống kinh tế, tinh thần của người dân khá lên từng ngày.Ấp Tầm Phô có 2,9km đường biên giới, tiếp giáp với phum Tà Noòng Lếch, phum Tà Noòng Kớt và phum Tha Lôốk (xã Chan Mul, huyện Mê Mốt, tỉnh T’Bông Kh’Mun, Campuchia). Là ấp giáp biên, vậy nên vấn đề chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia luôn được quan tâm hàng đầu. Thời gian qua, chủ quyền lãnh thổ luôn được giữ vững, trong ấp không có trộm cắp, đánh nhau gây mất an ninh trật tự. Đó là kết quả của việc triển khai Phong trào "Toàn dân tham gia bảo về chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới" theo tinh thần Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 9 tháng 1 năm 2015. Già làng Khun Phan tuy tuổi đã cao nhưng vẫn dành nhiều thời gian nghiên cứu để từ đó “nói cho bà con hiểu cần tích cực cùng BĐBP tham gia tuần tra, bảo vệ đường biên cột mốc; gìn giữ an ninh trật tự trong ấp, chủ động báo cho BĐBP những thông tin về an ninh, trật tự để kịp thời xử lý các vụ việc”- già làng Khun Phan chia sẻ.

Già làng Khun Phan cũng rất quan tâm đến việc học hành của trẻ em trong ấp. Trẻ em đến tuổi cần phải tới trường, gia đình khó khăn vẫn phải cố gắng cho con em học tập. Vậy nên khi Đồn Biên phòng Kà Tum triển khai Chương trình “Nâng bước em đến trường-Con nuôi đồn biên phòng”, hỗ trợ cho học sinh tiền hàng tháng già Khun Phan mừng lắm vì biết rằng nhiều trẻ em có thêm cơ hội, động lực để tới trường. Già làng Khun Phan đã gợi ý cho những người lính Biên phòng nhận cháu Chăn Đi và Danh Đa làm "con nuôi đồn biên phòng". Thực ra, gia đình của Danh Đa và Chăn Đi đều biết rằng đây là cơ hội để con mình có điều kiện học tập, sinh sống tốt hơn, thế nhưng nhưng vẫn phân vân lắm vì không nỡ xa con, cháu. Già Khun Phan đã tới từng nhà, phân tích “Về ở với các chú Biên phòng sẽ không còn phải lo cái ăn, cái mặc và đặc biệt, các cháu sẽ có lối sống nền nếp, nhất định sẽ tốt cho hai đứa”. 4 năm trôi qua, đúng như lời của già làng Khun Phan nói, Danh Đa, Chăn Đi trưởng thành hơn rất nhiều từ lời ăn, tiếng nói đến suy nghĩ nhờ sự dìu dắt của những người cha nuôi Biên phòng.

Lời nói đi đôi với việc làm và lời nói luôn được minh chứng bằng kết quả thực tế- những điều trên đã khiến già làng Khun Phan ngày càng có uy tín đối với người dân ở Tầm Phô.

NHÂN LÊN GIẤC MƠ ĐẾN TRƯỜNG CHO TRẺ EM VÙNG CAO NẬM CHẠC

Ngày nào cũng vậy, khi mặt trời khuất sau những ngọn núi, bóng tối dần bao trùm, thấp thoáng trên con đường nhỏ ngược dốc là bóng dáng của bà con dân tộc đến điểm trường thôn Nậm Giang 2, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Bà con đến đây với mong muốn biết đọc chữ, có kiến thức để phát triển kinh tế, sớm thoát nghèo.

Đón tôi là Thiếu tá Đinh Thái Đạt, cán bộ Đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng A Mú Sung, BĐBP Lào Cai. Anh gắn bó với công việc dạy học cho đồng bào đã nhiều năm nay. Lớp học chỉ rộng khoảng 50m2, với chiếc bảng mới dựng và những bộ bàn ghế cũ. Lớp học có 20 học viên tuổi từ 15-60; học từ lúc 19 giờ đến 21 giờ 30 phút tối thứ Hai đến tối Chủ nhật hằng tuần. “Chúng tôi không thể mở lớp học vào ban ngày, bởi thời gian đó, bà con đi làm nương và những công việc khác của gia đình” - Thiếu tá Đinh Thái Đạt cho biết.

19 giờ, học viên đến khá đầy đủ với những trang phục truyền thống của địa phương. Chị Chảo Ú Mẩy, sinh năm 1983, ở thôn Nậm Rang 2, xã Nậm Chạc, là học viên của lớp học chia sẻ: “Khi có thông báo của trưởng thôn về lớp học này và được sự vận động của chính quyền địa phương cùng các anh Biên phòng, em đã đăng ký học. Được cô giáo ở trường và các anh Biên phòng dạy học, bây giờ em đã biết đọc, viết và tính toán mỗi khi đi chợ, mua bán ở dưới xã. Biết chữ, mọi công việc thuận lợi hơn rất nhiều!”.

Đồn Biên phòng A Mú Sung được giao nhiệm vụ quản lý đường biên giới dài hơn 26km thuộc địa bàn 2 xã Nậm Chạc và A Mú Sung với 4 cột mốc biên giới. Đây là 2 xã vùng cao, điều kiện địa hình đồi núi phức tạp, núi cao, vực sâu. Để góp phần củng cố, xây dựng địa bàn biên giới vững mạnh, từng bước nâng cao dân trí, đời sống kinh tế, xã hội cho người dân, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện các chương trình, đề án, phong trào, trong đó có công tác xóa mù chữ do Đội Vận động quần chúng đảm nhiệm.

Trung tá Nguyễn Văn Thắng, Chính trị viên Đồn Biên phòng A Mú Sung cho biết: “Địa bàn rộng, đường sá đi lại khó khăn; các gia đình ở xa, kinh tế chủ yếu dựa vào nương rẫy; bà con còn duy trì các hủ tục... nên công tác tuyên truyền, vận động bà con đến lớp rất khó khăn. Việc duy trì sĩ số cũng không hề đơn giản. Bởi vậy, chúng tôi phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, một số trường học trên địa bàn và phát huy vai trò của người có uy tín trong bản để vận động bà con đi học. Đồng thời, chọn những cán bộ có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, có uy tín và gắn bó mật thiết với nhân dân để tham gia quá trình vận động và giảng dạy”.Theo Thiếu tá Đinh Thái Đạt, Đảng ủy, Ban Chỉ huy Đồn Biên phòng A Mú Sung đã phân công anh phối hợp với giáo viên Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở xã Nậm Chạc giúp địa phương mở 2 lớp học buổi tối. “Quá trình lên lớp dạy học gặp nhiều khó khăn vì đường sá xa xôi, đèo dốc, bà con theo thói quen đi làm về muộn, đến lớp được 30 phút là muốn về đi ngủ. Sau mỗi buổi dạy, tôi trăn trở suy nghĩ tìm ra phương án dạy và học đạt hiệu quả, chất lượng tốt hơn. Hằng ngày, sau giờ hành chính, tôi thường đi đến nhà các học viên để động viên bà con đến lớp, ai cần hỗ trợ công việc gì thì tôi sẵn sàng giúp đỡ. Từ đó, các học viên đều cố gắng thu xếp việc gia đình để đi học” - Thiếu tá Đạt cho biết.

Thiếu tá Đinh Thái Đạt chia sẻ, trong quá trình đứng lớp phải đa dạng hóa các hình thức dạy học. Không chỉ bám sát nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mà còn lồng ghép các nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật, lan tỏa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiến thức, kinh nghiệm trong hoạt động lao động sản xuất cũng như đời sống xã hội, nhằm góp phần giảm nghèo, tăng năng suất lao động, từ bỏ hủ tục trong ma chay, cưới hỏi, chống tảo hôn để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Được biết, từ tháng 9/2022, Trung tâm giáo dục cộng đồng xã Nậm Chạc đã xây dựng kế hoạch phối hợp với Đồn Biên phòng A Mú Sung tiến hành rà soát tại các thôn trên địa bàn xã Nậm Chạc để mở lớp xóa mù chữ. Sau khi rà soát, lớp xóa mù chữ tại thôn Nậm Giang 2 đã được mở với tổng số 29 học sinh tham gia và phân công giáo viên giảng dạy vào buổi tối các ngày trong tuần, từ 19 giờ đến 21 giờ 30 phút. Đến tháng 4/2023, hai đơn vị tiếp tục mở một lớp học tại thôn Nậm Giang 2 với tổng số 20 học sinh.

CHÁP CÁNH ƯỚC MƠ CHO TRẺ EM NGHÈO VÙNG BIÊN

Có nhiều ước mơ tươi đẹp, nhiều dự định cho tương lai tươi sáng, nhưng vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó mà biết bao em nhỏ trên địa bàn biên giới biển Cà Mau phải ngậm ngùi gác lại việc đèn sách. Nhưng từ khi BĐBP tỉnh triển khai và thực hiện Chương trình "Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn biên phòng”, đến nay, đã có hàng trăm lượt trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tiếp tục được chắp cánh ước mơ tìm đến tương lai.

Thực hiện Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng”, từ năm học 2015 - 2016 đến nay, BĐBP Cà Mau đã trực tiếp hỗ trợ gần 400 lượt học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn. Riêng năm học 2023 - 2024, đơn vị tiếp tục hỗ trợ 38 em với số tiền 500.000 đồng/tháng. Khai giảng năm học mới, các đồn, hải đội Biên phòng đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương làm tốt công tác tuyên truyền về thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn. Theo đó, đơn vị đã tặng 35 chiếc xe đạp, hơn 10.000 quyển vở học sinh và đồ dùng học tập, 350kg gạo, 200 áo cờ đỏ sao vàng, hỗ trợ 12 suất học bổng bằng tiền mặt (mỗi suất 500.000 đồng), tổng trị giá trên 330 triệu đồng. Ngoài ra, đơn vị thường xuyên hỗ trợ thêm sách vở, đồ dùng học tập để các em có đủ đầy hơn.

Theo giới thiệu của Trung tá Nguyễn Chí Nguyện, Phó Chủ nhiệm Chính trị BĐBP Cà Mau, chúng tôi tìm đến gia đình cháu Trần Nhã Yên, trú tại khóm 8, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển. Em Yên hiện đang học lớp 10, Trường Trung học phổ thông Bông Văn Dĩa, thị trấn Rạch Gốc, là một trong những học sinh trên địa bàn biên giới biển tỉnh Cà Mau có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang được Đồn Biên phòng Rạch Gốc nhận hỗ trợ từ nhiều năm qua.

Mong muốn các con sinh ra và lớn lên được bình yên nên cha mẹ đã đặt tên các em là Trần Nhã Bình và Trần Nhã Yên. Nhưng cuộc sống không may mắn với hai chị em. Năm Nhã Yên đang học lớp 4 thì mẹ lâm bệnh qua đời, lên lớp 6 thì người cha cũng bị bệnh hiểm nghèo bỏ lại hai chị em thơ dại. Cha mẹ mất sớm, ông bà nội già yếu, nên hai chị em Nhã Bình, Nhã Yên được chia ra ở hai nơi, Nhã Bình ở lại với ông bà nội, còn Nhã Yên được người dì mang về nuôi. Tình cảm yêu thương của dì dượng đã giúp Nhã Yên phần nào quên đi nỗi mất mát, nhất là từ khi Nhã Yên được các chú ở Đồn Biên phòng Rạch Gốc hỗ trợ. Bằng tình thương và trách nhiệm, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Rạch Gốc đã chia sẻ một phần khó khăn với hoàn cảnh của gia đình. Ngoài số tiền hỗ trợ 500.000 đồng mỗi tháng để Nhã Yên có thêm kinh phí mua sách vở, đồ dùng học tập, cán bộ, chiến sĩ thường xuyên đến thăm hỏi, động viên các em khắc phục khó khăn, vươn lên trong cuộc sống.

Tiếp chuyện với chúng tôi, bà Trần Kim Thoa, bà nội Nhã Yên thường xuyên nhìn lên di ảnh con trai và con dâu rồi nói: “Cha mẹ mất, các cháu hụt hẫng và thiệt thòi đủ bề, nên vợ chồng tôi luôn cố gắng chăm sóc và dành tình cảm cho các cháu. Từ ngày được các chú ở đồn Biên phòng hỗ trợ Nhã Yên mỗi tháng 500.000 đồng đến khi học hết lớp 12, gia đình phần nào vơi đi nỗi lo cơm áo, sách vở cho cháu”.Một trường hợp khác cùng ngụ tại thị trấn Rạch Gốc, đó là em Võ Thị Ngọc Huyền, sinh năm 2009, hiện đang học lớp 9, Trường Trung học cơ sở Bông Văn Dĩa, được Đồn Biên phòng Rạch Gốc nhận hỗ trợ theo Chương trình “Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn biên phòng”. Huyền mồ côi mẹ từ nhỏ, cha thì sức khỏe yếu nên từ nhiều năm nay đi làm công quả trong chùa ở tận Bình Dương. Không nơi nương tựa, Huyền được gia đình của cô ruột là bà Võ Thị Trúc, ở khóm 1, thị trấn Rạch Gốc đưa về nuôi.

Bà Võ Thị Trúc cho biết, hoàn cảnh của gia đình khó khăn, không có đất sản xuất, không có vốn làm ăn. Cuộc sống gia đình phục thuộc vào nghề làm bánh bao và đi bán dạo của ông Liêm chồng bà. Tuy khó khăn, nhưng ông bà cũng ráng gồng gánh nuôi cháu Huyền thay cha mẹ. Cháu Huyền ngoan, ham học. "May mắn được các chú ở đồn Biên phòng hỗ trợ có thêm tiền đi học, thi thoảng, các chú còn đến nhà thăm hỏi, động viên cháu. Gia đình tôi cảm ơn các chú BĐBP rất nhiều" - bà Trúc nghẹn ngào.

Được đồn Biên phòng nhận hỗ trợ từ năm học lớp 3, em Võ Thị Ngọc Huyền luôn cố gắng học tập và đạt được từ học sinh tiên tiến trở lên. Ước mơ của Huyền sau này là được trở thành người chiến sĩ quân hàm xanh như các chú bộ đội thường xuyên đến thăm hỏi, chỉ dạy em.

Ông Lâm Sỹ Em, Phó Chủ tịch UBND thị trấn Rạch Gốc cho biết: "Trên địa bàn thị trấn còn rất nhiều em có hoàn cảnh khó khăn, như mồ côi cha hoặc mẹ, có em mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cha mẹ ly hôn, các em phải ở với ông bà, người thân nội, ngoại. Với tấm lòng của người lính BĐBP, bằng việc làm thiết thực, hiệu quả, các anh đã giúp nhiều em học sinh vượt qua khó khăn, đem lại bao hy vọng tốt đẹp cho tương lai. Đó là tấm lòng và thể hiện tình đoàn kết, gắn bó giữa BĐBP với người dân nơi biên giới, đặc biệt là các em nhỏ vượt khó hiếu học. Điển hình như 2 em Trần Nhã Yên và Võ Thị Ngọc Huyền là những học sinh mồ côi. Các em đã vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống là tấm gương cho nhiều học sinh học tập noi theo".

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI MÔNG QUYẾT TÂM THOÁT NGHÈO, VƯỢT KHÓ

Những năm qua, việc thực hiện 3 Chương trình mục tiêu quốc gia và triển khai Nghị quyết số 05/NQ-TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang khóa XVII về cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ đã có tác động mạnh mẽ tới ý thức và hành động của đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang trong việc vượt khó, quyết tâm vươn lên thoát nghèo ngay trên quê hương mình. Một trong những hộ gia đình tiêu biểu cho ý chí, quyết tâm đó là gia đình anh Giàng Chẩn Dì, sinh năm 1980, người dân tộc Mông tại cụm Lao Sán, thôn Bản Pắng, xã Bản Máy, huyện Hoàng Su Phì.

Một sáng mùa Đông, chúng tôi theo chân cán bộ Đội Vận động quần chúng của Đồn Biên phòng Bản Máy đến nhà anh Giàng Chẩn Dì. Vượt qua những cung đường đèo cheo leo, cụm dân tộc Mông ở Lao Sán chìm trong sương mù với cái rét cắt da thịt, từng nếp nhà trình tường cũ chênh vênh trên những ngọn núi khô cằn đầy cát sỏi mới thẩu hiểu được cuộc sống khó khăn, vất vả của bà con dân tộc Mông nơi đây. Với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ấy, gia đình anh Dì trước đây cũng như nhiều hộ gia đình khác trên địa bàn xã chỉ trông chờ vào một vụ lúa, ngô và sự hỗ trợ của Nhà nước. Thậm chí, nhiều hộ gia đình không muốn thoát nghèo để được hưởng hỗ trợ của Nhà nước, mặc dù có tiềm năng để phát triển kinh tế. Cũng vì thế mà cái nghèo tồn tại dai dẳng từ bao đời nay, len lỏi trong mỗi căn nhà, ngõ xóm, in hằn lên bóng dáng lam lũ, tần tảo của người dân nơi đây.

Trước thực tế đó, cấp ủy, chính quyền địa phương xã đã thường xuyên phối hợp với Đồn Biên phòng Bản Máy, Đội Sản xuất và xây dựng cơ sở chính trị số 4 thuộc Đoàn Kinh tế quốc phòng 313 đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả 3 Chương trình mục tiêu quốc gia và triển khai Nghị quyết số 05/NQ-TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang khóa XVII về cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ. Chia sẻ với chúng tôi, anh Dì cho biết: "Trước kia, nhà mình nghèo lắm, chỉ cấy một vụ lúa, vụ ngô thôi. Lợn, gà, trâu, bò ít, thu nhập của gia đình 8 người chưa được 10 triệu đồng/năm. Cuộc sống khó khăn khiến mình càng thương vợ con, cái bụng nghĩ phải làm ăn chăm chỉ để thoát nghèo thôi!".

Được sự vận động của BĐBP, Đoàn Kinh tế quốc phòng 313 và cấp ủy, chính quyền địa phương, gia đình anh Giàng Chẩn Dì đã tìm được hướng đi đúng đắn cho bài toán thoát nghèo. Từ số vốn 20 triệu đồng vay mượn, anh đã mua 15.000 cây sa nhân giống để trồng cải tạo vườn tạp quanh nhà và 2ha rừng được giao. Hàng ngày, cả gia đình miệt mài chăm sóc sa nhân theo đúng hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ khuyến nông xã, đồn Biên phòng và Đoàn Kinh tế quốc phòng 313. Cây sa nhân không phụ công người, phát triển thuận lợi, không tốn phân bón, thuốc trừ sâu, lại còn chống xói mòn đất và giữ ẩm tốt.

Năm 2021, gia đình anh Dì được hưởng thành quả đầu tiên khi thu hoạch 1 tạ sa nhân với giá 120.000 đồng/kg, được 12 triệu đồng. Năm 2022, thu hoạch được 2 tạ với giá 35.000 đồng/kg, được 7 triệu đồng. Nhận thấy cây sa nhân có tiềm năng lớn để xuất khẩu, dù giá thấp nhưng gia đình anh vẫn kiên trì chăm sóc để sang năm cho năng suất cao. Năm 2023 vừa qua, gia đình anh thu hoach được 1,3 tấn sa nhân, bán cho thương lái thu mua xuất khẩu sang Trung Quốc với giá 78.000 đồng/kg, thu lãi 102 triệu đồng; bán 15.000 cây giống với giá 3.500 đồng/cây, được 52,5 triệu đồng, tổng thu hoạch từ bán quả và cây giống được 154,5 triệu đồng. Ngoài ra, gia đình anh còn tích cực chăn nuôi lợn đen, gà, vịt, trâu, bò, tự trồng rau sạch để cải thiện cuộc sống và tăng thêm thu nhập.Đến nay, gia đình anh Dì đã trả hết nợ, mua sắm được nhiều đồ dùng tiện nghi trong gia đình, cuộc sống đã ấm no hơn. Không chỉ lao động sản xuất tốt, gia đình anh còn giúp nhiều bà con trong xã về cây giống, kỹ thuật chăm sóc và đầu ra sản phẩm. Khâm phục trước ý chí, nghị lực vươn lên thoát nghèo của gia đình anh Dì, đến nay, đã có nhiều hộ là đồng bào các dân tộc La Chí, Tày, Nùng trên địa bàn xã đến tham quan, học hỏi mô hình trồng cây sa nhân của gia đình với ước mong về một cuộc sống tươi sáng hơn.

Vui mừng, phấn khởi trước thành quả mà gia đình anh Dì đạt được, Trung tá Nguyễn Công Giang, Phó Bí thư Đảng ủy xã Bản Máy cho biết: "Bản Máy là xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn của huyện Hoàng Su Phì, với tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm hơn 75% dân số. Một trong những nguyên nhân dẫn tới cái nghèo nơi đây chính là một bộ phận đồng bào còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, thiếu ý chí quyết tâm vươn lên thoát nghèo. Gia đình anh Giàng Chẩn Dì thực sự là tấm gương sáng về nghị lực vượt khó vươn lên phát triển kinh tế. Trong thời gian tới, Đảng ủy, UBND xã sẽ tiếp tục phối hợp với Đồn Biên phòng Bản Máy, Đội Sản xuất và xây dựng cơ sở chính trị số 4 (Đoàn Kinh tế Quốc phòng 313) đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân rộng gương điển hình này".

Tết năm nay chắc chắn sẽ là cái Tết vui tươi nhất của gia đình anh Giàng Chẩn Dì sau một năm lao động miệt mài lao động, thu về nhiều thành quả. Chia tay gia đình, đoàn chúng tôi ra về dưới ánh nắng vàng rực rỡ, lòng ai cũng rạo rực niềm vui và cảm phục trước những lời tâm sự mộc mạc của anh Dì: "Muốn thoát khỏi đói nghèo, mình phải có quyết tâm, kiên trì, cả gia đình cùng chăm chỉ làm việc. Mỗi người phải phấn đấu vươn lên để xây dựng quê hương, giữ gìn nét đẹp văn hóa của người Mông mình và bảo vệ biên giới cùng cán bộ Biên phòng chứ!”.

TẾT SUM VẦY CÙNG QUÂN VÀ DÂN TRÊN KHẮP NẺO BIÊN CƯƠNG

Một mùa Xuân mới nữa lại về, đất trời biên giới như đang bừng sáng hơn. Nhằm chung tay chăm lo cho người dân khu vực biên giới được đón Tết Giáp Thìn 2024 thêm đủ đầy, no ấm, trong những ngày này, các đơn vị BĐBP trên khắp cả nước đang tích cực phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các ban, ngành, đoàn thể và các mạnh thường quân đồng loạt tổ chức Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”. Những hoạt động đầy thiết thực này không chỉ góp phần thắt chặt tình đoàn kết quân dân, mà còn xây dựng nền biên phòng toàn dân ngày càng vững chắc.

Trong những ngày giáp Tết cổ truyền của dân tộc, dưới cái lạnh tê tái của tiết trời mùa Đông, khu vực biên giới các tỉnh miền núi phía Bắc dường như đã được tăng nhiệt bởi sức nóng của các hoạt động trong Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”. Tại xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, Đồn Biên phòng Chiềng On phối hợp với UBND huyện Yên Châu cùng nhóm thiện nguyện Vùng cao tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa. Đồn Biên phòng Chiềng On đã tặng 30 lá cờ Tổ quốc, 30 ảnh Bác Hồ cho 30 bản của xã Phiêng Khoài; nhóm thiện nguyện Vùng cao tặng 400 suất quà (500.000 đồng/suất) cho 400 học sinh có hoàn cảnh khó khăn; Hội Chữ thập đỏ huyện Yên Châu tặng 20 suất quà (300.000 đồng/suất) cho 20 hộ nghèo. Bên cạnh đó, người dân địa phương còn được tham gia hội thi gói bánh chưng và giã bánh giầy, tham gia các trò chơi dân gian; cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Chiềng On tổ chức cắt tóc miễn phí cho học sinh; tư vấn sức khỏe, khám và cấp phát thuốc miễn phí cho 470 hộ nghèo, gia đình chính sách, người cao tuổi xã Phiêng Khoài.

Đồng chí Thào Thị Mai Anh, Trưởng ban Dân vận huyện Yên Châu chia sẻ: Với không gian văn hóa chuẩn bị đón Tết vui tươi, ấm áp, bằng những hoạt động thiết thực, cụ thể, phù hợp theo truyền thống văn hóa của địa phương cùng các trò chơi dân gian đã lan tỏa truyền thống văn hóa tốt đẹp của người dân nơi đây. Đồng thời lan tỏa yêu thương, động viên người dân gắn kết cộng đồng, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân dân, tham gia cùng BĐBP bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Tại Thừa Thiên Huế, hòa mình vào không khí hân hoan, náo nức của Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” do Đồn Biên phòng cửa khẩu A Đớt, BĐBP Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện A Lưới và chính quyền địa phương tổ chức, bà A Viết Thị Pi (dân tộc Tà Ôi), ở thôn Tru Chai, xã Đông Sơn, huyện A Lưới chia sẻ: “Mùa Xuân năm nay tôi được BĐBP Thừa Thiên Huế cùng chính quyền địa phương và các nhà hảo tâm tặng căn nhà "Mái ấm tình thương", bản thân tôi cùng gia đình rất xúc động và hạnh phúc. Từ nay, gia đình tôi không phải sống trong căn nhà xập xệ nữa, đây là động lực rất lớn giúp gia đình tôi vươn lên thoát nghèo để dần ổn định cuộc sống”.Tiếp nối chuỗi hoạt động trong chương trình, các đồn Biên phòng trên địa bàn huyện A Lưới tổ chức tặng quà 5 em học sinh trong Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng”; tặng 2 suất quà cho các gia đình được hỗ trợ trong mô hình “Hũ gạo tình thương”. Bên cạnh đó, các đơn vị đã tặng 258 suất quà cho các gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, gia đình bị ảnh hưởng bởi chất độc màu da cam và các em học sinh tại các xã Lâm Đớt, Đông Sơn, Hương Phong.

Trung tá Lê Văn Tiến, Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu A Đớt cho biết: "Đây là lần đầu tiên các đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn huyện biên giới A Lưới phối hợp với các đơn vị, nhà hảo tâm tổ chức Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” và đơn vị được chọn làm điểm. Chính vì vậy, đơn vị đã huy động các nguồn lực tập chung chăm lo Tết cho đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới với tổng trị giá hơn 200 triệu đồng".

Những ngày này, mai vàng bắt đầu khoe sắc, cây cối đâm chồi nảy lộc, cũng là lúc Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh Bình Thuận, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Long An, Tây Ninh, Kiên Giang, Cà Mau... đồng loạt tổ chức các hoạt động Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”. Tại Đồn Biên phòng Cái Đôi Vàm, BĐBP Cà Mau, đông đảo bà con tập trung đến sân đồn để tham dự chương trình. Tại đây, đơn vị đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội tại địa phương khám bệnh, cấp thuốc miễn phí, tặng 65 suất quà, 300 đòn bánh tét cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn và 2 chiếc xe đạp cho các em học sinh trong Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng” với tổng số tiền gần 60 triệu đồng.Lan tỏa những thông điệp yêu thương từ chương trình, Thượng tá Nguyễn Văn Việt, Chính trị viên Đồn Biên phòng Cái Đôi Vàm cho biết: "Chương trình là hoạt động rất thiết thực mỗi dịp Tết đến, Xuân về. Qua đó, góp phần chăm lo cho các gia đình chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn ở khu vực biên giới biển được vui Xuân, đón Tết. Đồng thời, hoạt động này còn thể hiện truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc, tô thắm thêm phẩm chất cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ" trong lòng nhân dân, chung tay góp sức nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới biển".

RỘN RÀNG XUÂN BIÊN CƯƠNG NƠI VÙNG CAO BIÊN GIỚI

Trong những ngày cận kề Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024, trên địa bàn khu vực biên giới do Đồn Biên phòng cửa khẩu Lóng Sập, BĐBP Sơn La quản lý lại trở nên rộn ràng bởi nhiều hoạt động, chương trình hướng về nhân dân biên giới. Những chương trình này đã góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, giúp người dân trên địa bàn vui Xuân, đón Tết, qua đó, vun đắp tình đoàn kết, gắn bó quân dân, xây dựng thế trận Biên phòng toàn dân ngày một vững chắc.

Đồn Biên phòng cửa khẩu Lóng Sập quản lý, bảo vệ đoạn biên giới dài 31,147km với 17 mốc quốc giới và địa bàn 2 xã biên giới Lóng Sập và Chiềng Khừa (huyện Mộc Châu), với gần 2.000 hộ dân, 6 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước cùng cấp ủy, chính quyền địa phương luôn quan tâm xây dựng cơ bản và đầu tư cơ sở vật chất để nâng cao đời sống cho nhân dân vùng biên giới. Tuy nhiên, hiện cơ sở vật chất của một số điểm trường trên địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn, chưa đáp ứng tốt cho việc dạy và học của cô và trò; một số bà con nhân dân tại các bản vùng cao kiến thức tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình còn hạn chế.

Nhằm chung tay cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương kịp thời chăm lo đời sống nhân dân và các em học sinh trên địa bàn đơn vị quản lý, đầu tháng 10/2023, Đảng ủy, Ban Chỉ huy Đồn Biên phòng cửa khẩu Lóng Sập đã tổ chức vận động và kết nối với Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an); Tổng Công ty Công nghệ - Viễn thông toàn cầu (Bộ Công an) và Bệnh viện Phụ sản Trung ương (thành phố Hà Nội), cùng các mạnh thường quân ủng hộ kinh phí xây dựng công trình “Phòng học yêu thương - nâng bước em tới trường” với diện tích 96m2, cùng các nhiều hạng mục phụ trợ, tổng kinh phí 270 triệu đồng. Đến nay, sau 2 tháng khởi công xây dựng, công trình đã bàn giao và đưa vào sử dụng. Sân trường có một phần mái che rộng gần 200m2, cổng trường, hệ thống tường rào bao quanh dài gần 30m dành cho điểm trường mầm non bản Pu Nhan, xã Lóng Sập.

Thiếu tá Cầm Bá Thành, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng cửa khẩu Lóng Sập cho biết: "Cùng với việc vận động các mạnh thường quân ủng hộ kinh phí, đơn vị đã cử cán bộ, chiến sĩ phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và cán bộ, nhân dân bản Pu Nhan góp ngày công xây dựng. Đây là một trong những hoạt động thể hiện sự quan tâm sâu sắc, sẻ chia, động viên kịp thời của cán bộ, chiến sĩ đối với chính quyền và nhân dân trên địa bàn, góp phần xây dựng hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" trong lòng đồng bào các dân tộc trên biên giới".

Cô Lường Thị Hậu, giáo viên điểm trường mầm non Pu Nhan chia sẻ: “Lúc chưa có phòng học kiên cố, chúng tôi thương học sinh lắm. Các em phải học ở phòng học tạm bợ, mùa Đông đến, thời tiết rất lạnh nên ảnh hưởng rất nhiều đến sĩ số học sinh đến lớp. Nay có phòng học khang trang thế này, chúng tôi rất vui vì từ nay, cả cô và trò sẽ được học ở môi trường mới, sạch đẹp hơn”.

Đặc biệt, cũng trong ngày khánh thành công trình, Đồn Biên phòng cửa khẩu Lóng Sập đã phối hợp với Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Đa khoa huyện Mộc Châu và Trạm y tế xã Lóng Sập tổ chức khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho 1.000 người dân ở các bản biên giới của xã Lóng Sập và trên 30 đồng chí là cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới của nước bạn Lào; tặng các thiết bị y tế cho các trạm y tế trên địa bàn huyện Mộc Châu và Trạm xá quân dân y kết hợp của Đồn Biên phòng cửa khẩu Lóng Sập, với tổng giá trị 200 triệu đồng.

Thiếu tá Von Xy Na Va Ny, Trạm phó Trạm cửa khẩu Pa Háng, Công an tỉnh Hủa Phăn (Lào) cho biết: “Là quân nhân thường xuyên công tác trên biên giới, ít có thời gian để đi khám bệnh, kiểm tra sức khỏe. Hôm nay, được các bác sĩ BĐBP nhiệt tình khám, tư vấn sức khỏe cho tôi và còn cấp cho chúng tôi rất nhiều loại thuốc. Chúng tôi xin cảm ơn cán bộ, chiến sĩ BĐBP rất nhiều”.Cùng với các hoạt động an sinh xã hội, hướng về nhân dân khu vực biên giới, Đồn Biên phòng cửa khẩu Lóng Sập thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của BĐBP và trách nhiệm của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đặc biệt, thông qua các chương trình đã góp phân nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ đoàn, đoàn viên, thanh niên trên địa bàn về các vấn đề chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia và chức năng, nhiệm vụ của BĐBP; góp phần đẩy mạnh hoạt động hướng về biên giới gắn với các công tác Đoàn và phong trào thanh niên.

Trong những ngày đầu năm 2024, một trong những nội dung được Đồn Biên phòng cửa khẩu Lóng Sập đẩy mạnh triển khai thực hiện, đó là hoạt động "Chào cột mốc chủ quyền”. Đây là hoạt động hết sức ý nghĩa, nhằm tuyên truyền, giáo dục cho mọi người hiểu biết về mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước Việt Nam - Lào. Từ đó, người dân tham gia hoạt động này thấy rõ được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong tham gia cùng với BĐBP thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.