Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xây dựng đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam qua nghiên cứu tâc phẩm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

 Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” nhấn mạnh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Vì vậy, cuốn sách “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là cẩm nang lý luận, thực tiễn quý giá, định hướng phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị_Ảnh: TTXVN

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, sức mạnh đoàn kết là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cương vị là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn thấu hiểu tầm quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn quán triệt trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(1). Các bài viết trong cuốn sách là sự hiện thực hóa tư tưởng ấy, thể hiện tầm tư duy lý luận sâu rộng, biện chứng, thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như trách nhiệm của người đứng đầu Đảng, Nhà nước đối với nhân dân, với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, cuốn sách của Tổng Bí thư sẽ góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng cống hiến vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Cuốn sách của Tổng Bí thư nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh nội sinh, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với lịch sử đấu tranh giữ nước. Chính trong hoàn cảnh phải trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống ngoại xâm cũng như chống chọi với thiên tai, hiểm họa đã hun đúc nên con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam một truyền thống vô cùng quý báu, đó là tinh thần đoàn kết. Chỉ có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh để có thể “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để dân tộc mãi trường tồn. Đoàn kết là một trong những bài học mang giá trị lịch sử, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quá trình dựng nước, giữ nước; quá trình đấu tranh cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”(2); “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(3)Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, từ thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc, là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là đường lối chiến lược, có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam”(4)Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là một công việc hết sức hệ trọng, to lớn và vô cùng khó khăn. Nhiệm vụ đó chỉ có thể thành công khi quy tụ được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Nhờ tinh thần đoàn kết muôn người như một đã tạo thành sức mạnh vô địch, giúp chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành và bảo vệ vững chắc độc lập của Tổ quốc.

Trong công cuộc xây dựng xã hội mới, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, để xây dựng đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay, tạo tiền đề vững chắc cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới tiếp tục khẳng định mạnh mẽ đường lối đúng đắn của Đảng ta, trong đó có đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh bài học này trong những lần phát biểu của mình: Tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo tinh thần “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”. Đây không chỉ là tinh thần đoàn kết, thống nhất mà còn là bài học về ý chí, hành động phải triệu người như một của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và nhân dân ta ở mọi miền Tổ quốc trong tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây cũng chính là sự phát triển nhận thức trong quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn, là tư duy và tầm nhìn của Đảng ta gần 94 năm qua: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng; là cội nguồn sức mạnh, là giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời kỳ”(5).

Từ vai trò, tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc, Tổng Bí thư đã khái quát ngắn gọn quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ, hiểu thấu đáo tầm tư duy chiến lược của Đảng. Tổng Bí thư khẳng định, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy bản sắc cội nguồn văn hóa và truyền thống của dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã không ngừng đổi mới, phát triển tư duy lý luận về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thể hiện trong văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng: “Từ chỗ, chỉ nói đoàn kết, rồi nói đại đoàn kết toàn dân, rồi phát triển lên thành đại đoàn kết toàn dân tộc là những cột mốc đánh dấu sự đổi mới và phát triển quan trọng về tư duy nhận thức và lý luận đối với chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta, theo chiều hướng ngày càng mở rộng về biên độ, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ còn những “xơ cứng” đến ngày càng cởi mở hơn”(6). Tổng Bí thư cũng khẳng định, điểm tương đồng để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chính là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm điểm tương đồng”(7). Đây là mục tiêu lớn nhất, cũng là lợi ích chung lớn nhất của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; của mọi người dân, của toàn dân tộc. Chính nhờ điểm tương đồng này đã và sẽ tiếp tục động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân, huy động được mọi nguồn lực, tranh thủ mọi thời cơ, sự đóng góp của nhân dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng Bí thư cho rằng, điểm tương đồng này nếu biết khơi dậy đúng cách sẽ có sức cuốn hút, lay động lòng người, là lời hiệu triệu toàn dân, nhân lên lòng tự hào, tự tôn, ý chí của cả dân tộc. Đây cũng chính là định hướng cho việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm thu hút, tập hợp, đoàn kết các lực lượng xã hội trong khối đoàn kết thống nhất của toàn dân tộc.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung của đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết”(8), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ nội hàm của đại đoàn kết toàn dân tộc: “Nền tảng vững chắc của của đại đoàn kết dân tộc là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; là mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; giữa người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; là đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới”(9). Như vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc là tổng hòa của các mối quan hệ đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, giới, thành phần kinh tế, các vùng, miền; giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, trên nền tảng của liên minh công nhân - nông dân - trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; là đoàn kết với bạn bè quốc tế. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Với nội dung toàn diện ấy, những kết quả trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam thời gian qua đã giúp chúng ta vững vàng vượt qua những khó khăn, thách thức to lớn do tác động của mặt trái toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường. Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, nhờ có tinh thần đoàn kết, cùng ý chí, quyết tâm cao, chúng ta không những đã vượt qua đại dịch mà còn đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội được bạn bè quốc tế ghi nhận. “Trong gian khó, tinh thần yêu nước, nghĩa đồng bào, truyền thống “thương người như thể thương thân” của dân tộc ta và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy và nâng lên một tầm cao mới”(10).

Thắm tình quân dân_Nguồn: vanhocnghethuatlaichau.vn

Tổng Bí thư nhấn mạnh, việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội là nòng cốt. Tổng Bí thư đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,... phải quán triệt tư tưởng “dân là gốc”, lấy đó làm nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động, ở tất cả các cấp. Cuốn sách đã nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là các cán bộ trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội phải lấy “an dân làm cốt, lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm, xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sự đồng thuận của nhân dân”(11), sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, từ đó góp phần xây dựng đất nước ta ngày càng phát triển, văn minh và vững mạnh.

Để tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư đã nêu ra những giải pháp cơ bản mang tính hệ thống. Đó là:

Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng làm hạt nhân cho đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam phải luôn coi việc giữ gìn đoàn kết thống nhất trên cơ sở đường lối chính trị và các nguyên tắc xây dựng Đảng là sinh mệnh của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng; “đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng”(12). Đây là điều kiện tiên quyết để quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân, bởi chỉ có một Đảng trong sạch, vững mạnh thì nhân dân mới thật sự tin tưởng, đoàn kết, ủng hộ, phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp chung dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bản thân Tổng Bí thư là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, một nhà lãnh đạo gần dân, trọng dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Hình ảnh dung dị, sự quan tâm, tình cảm yêu thương, đồng cảm của người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta với các tầng lớp nhân dân đã để lại ấn tượng sâu sắc, làm lay động lòng người; có tác dụng to lớn cổ vũ mọi giai tầng luôn nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia tích cực vào các phong trào thi đua, các cuộc vận động; phát huy mọi nguồn lực, khả năng sáng tạo, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn, với xu thế của thời đại, với nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân. Tổng Bí thư đánh giá cao về vị trí, vai trò của các giai tầng, các cá nhân tiêu biểu trong các giới đồng bào, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài,. Đây là nguồn lực to lớn, tạo thành sức mạnh để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật phải hướng vào khơi dậy, phát huy mọi nguồn lực, tiềm năng, sức sáng tạo của mỗi người Việt Nam; động viên nhân dân phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước. Những quan điểm của Tổng Bí thư về xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài là những định hướng quan trọng cho việc xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật, nhằm củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

Với vai trò quan trọng trong vận động, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Tổng Bí thư yêu cầu Mặt trận Tổ quốc phải phát huy vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; đi sâu, đi sát vào các tầng lớp nhân dân để nắm được những nhu cầu chính đáng của họ, từ đó thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tạo môi trường thuận lợi để nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, nguồn lực, động lực chủ yếu, là mục tiêu của đại đoàn kết toàn dân tộc trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng có năng lực, uy tín, tâm huyết, trách nhiệm, hết lòng vì công việc chung…

Cuốn sách “Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là tài liệu quý về xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Cuốn sách giúp cho cán bộ trong hệ thống chính trị, đảng viên và nhân dân hiểu rõ, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc - sức mạnh nội sinh, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cuốn sách đặc biệt có ý nghĩa đối với lực lượng Công an nhân dân Việt Nam bởi thực tế đã chỉ rõ, thành công trong thực hiện sứ mệnh bảo đảm an ninh, trật tự của lực lượng công an bắt nguồn từ sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức. Đoàn kết, thống nhất là phẩm chất, đồng thời còn là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của Công an nhân dân Việt Nam, là sức mạnh nội sinh để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Hiện nay, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của nước ta đang diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, trong đó có Công an nhân dân Việt Nam. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải hết sức quan tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-3-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII. Muốn vậy, điều quan trọng hàng đầu là phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Công an nhân dân Việt Nam, mà cốt lõi là sự đoàn kết thống nhất của tổ chức đảng trong công an. Đây được xem là một vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam./.

LHQ-ST

“Cán bộ và chiến sĩ đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định vượt được khó khăn... ”

 

“Cán bộ và chiến sĩ đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định vượt được khó khăn, sửa được sai lầm, giành được thắng lợi”. Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị cán bộ trung, cao cấp Quân đội”, tháng 11-1956.

Lời dạy của Bác là sự nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, lúc thường cũng như khi ra trận, phải đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tình thương yêu đồng chí, đồng đội, giúp đỡ nhau như ruột thịt; chỉ có đoàn kết mới có được sức mạnh để hoàn thành mọi nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng kẻ thù... Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, cán bộ và chiến sĩ thực sự đoàn kết trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội thân thiết, cởi mở, chân thành; thực sự thương yêu, gắn bó, coi cơ quan, đơn vị như gia đình, đồng chí, đồng đội là anh em. Đặc biệt, cán bộ luôn đồng cam cộng khổ, sẵn sàng nhận khó khăn, gian khổ, hi sinh về mình, nhường cơm sẻ áo cho chiến sĩ; sống nghĩa tình, tin tưởng, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân; toàn tâm toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN...

 Phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp, cán bộ, chiến sĩ luôn khắc ghi lời dạy của Bác về xây dựng mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ và chiến sĩ. Biểu hiện nổi bật của sự đoàn kết đó thể hiện ở tinh thần phát huy dân chủ, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Cán bộ chăm lo mọi mặt cho chiến sĩ; ngược lại, cấp dưới phải tôn trọng, phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Trên dưới đồng lòng, toàn quân thành một khối vững chắc, thống nhất ý chí và hành động. Cần thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; bảo đảm mọi cán bộ, chiến sĩ, cấp trên, cấp dưới đều bình đẳng về chính trị, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; phát huy đầy đủ dân chủ về chính trị, quân sự, kinh tế, đi đôi với giữ vững và tăng cường kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ và chiến sĩ phải gắn với đấu tranh, thực hiện tự phê bình và phê bình chân thành, thẳng thắn, nhằm giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, quân phiệt, vi phạm dân chủ, vi phạm nhân cách quân nhân.

Sưu tầm

Ngăn ngừa suy thoái trong công nghiệp văn hóa

 

Tư duy phiến diện và hành động “ăn xổi”

Công nghiệp văn hóa là một khái niệm có biên độ tư duy và phạm vi ứng dụng rộng, đa ngành, đa lĩnh vực, đa phương thức. Trên thế giới, tùy vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và đặc trưng văn hóa, mỗi quốc gia có cách phát triển CNVH khác nhau.

Tại Việt Nam, CNVH trên thực tế đang là lĩnh vực khá non trẻ. Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, Đảng, Nhà nước ta đã có định hướng phát triển CNVH từ sớm và tư duy phát triển CNVH được bổ sung, phát triển qua từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống trên lĩnh vực này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.

Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành CNVH của Chính phủ ngày 22-12-2023 đã chỉ rõ: Nội dung, hình thức sản phẩm, dịch vụ trong các lĩnh vực CNVH còn hạn chế (thiếu những sản phẩm, tác phẩm lớn, phản ánh được hơi thở, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; một số tác phẩm có biểu hiện "lệch chuẩn"); dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài...

Sự “lệch chuẩn” trong CNVH, từ những góc nhìn cận cảnh trên thực tế, có thể thấy, nó xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển CNVH của Đảng. Từ đó dẫn đến tư duy phiến diện trong một bộ phận tổ chức, cá nhân làm văn hóa. Lối tư duy ấy sinh ra cách làm thực dụng, “ăn xổi”. Đơn cử, tại TP Hồ Chí Minh, ngành công nghiệp giải trí có sự bứt phá, vươn lên bằng các mô hình xã hội hóa. Sự huy động các nguồn lực, trong đó có nguồn lực từ kiều bào và hợp tác quốc tế đã thổi một luồng gió mới cho thị trường giải trí ở TP Hồ Chí Minh.

Hàng loạt mô hình sân khấu xã hội hóa, hãng phim tư nhân, công ty dịch vụ giải trí... ra đời, đem đến cho thị trường sự đa dạng về loại hình, phong phú về sản phẩm. Nhưng rồi, chỉ được một thời gian, nhiều mô hình đã bị thoái trào, nhiều doanh nghiệp giải thể, nhiều sân khấu đóng cửa, một số hãng phim chỉ còn cái tên trong quá khứ. Thậm chí, không ít tổ chức, cá nhân (trong đó có một số người nổi tiếng) vi phạm pháp luật đã bị truy tố.

Nhìn từ khía cạnh văn hóa tư tưởng, có thể thấy, điều đáng lo ngại hiện nay chính là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong CNVH. Để kiếm nhiều tiền, muốn nhanh chóng nổi tiếng, không ít tổ chức, cá nhân sẵn sàng sử dụng chiêu trò phản cảm bằng mọi giá. Sự xuất hiện nhan nhản các danh hiệu tự phong, kiểu như: “Nữ hoàng”, “ông vua”, “nam thần”, “thánh nữ”, “ngôi sao”... cùng việc “bội thực” các cuộc thi nhan sắc khiến tình trạng “lệch chuẩn” trong thị trường giải trí ngày càng phức tạp. Bên cạnh đó là sự “lệch chuẩn” về tư tưởng, nội dung tác phẩm.

Những ồn ào dư luận xoay quanh một số bộ phim điện ảnh, tác phẩm văn học thời gian qua cho thấy, nhiều giá trị cốt lõi của văn hóa, truyền thống dân tộc bị “hư cấu” theo những góc nhìn phiến diện. Phẩm chất anh hùng, lòng yêu nước hun đúc nên cốt cách dân tộc bị “pha loãng”, trở nên hời hợt, nhạt nhòa. Thậm chí, có lúc nó bị biến thành công cụ, chi tiết để chọc cười, câu khách...

Xu thế tất yếu và tính cấp thiết “lấy xây để chống”

Nguyên nhân căn bản của những hạn chế, bất cập nêu trên chính là do môi trường CNVH bị chi phối, ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cá nhân. Thực trạng này đòi hỏi phải chấn chỉnh, khắc phục cách làm “ăn xổi”, manh mún, chụp giật; đồng thời phải đổi mới mạnh mẽ nhận thức, tư duy và hành động trong CNVH. Báo cáo tổng kết công tác năm 2023 của ngành tuyên giáo TP Hồ Chí Minh do đồng chí Phan Nguyễn Như Khuê, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh trình bày tại hội nghị ngày 28-12-2023 cũng nêu rõ: Công tác đấu tranh, phòng, chống luận điểm xấu độc trên không gian mạng thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật chưa kịp thời; việc thực hiện cơ chế đặt hàng tác phẩm văn học nghệ thuật đối với đội ngũ sáng tạo ngoài công lập chưa tạo được sự thu hút đối với các nguồn lực xã hội...

Phát triển CNVH là xu thế tất yếu. Trong chiến lược phát triển Việt Nam hùng cường, tiềm năng, thế mạnh từ văn hóa dân tộc cần được khai mở, tận dụng, phát triển một cách mạnh mẽ, toàn diện. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khẩn trương triển khai có trọng tâm, trọng điểm ngành CNVH và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”.

Để CNVH phát triển bền vững với tinh thần khẩn trương theo định hướng của Đảng, phương châm kết hợp “xây” và “chống”, “lấy xây để chống” cần được nhất quán từ chủ trương vĩ mô đến ứng dụng, phát triển các mô hình, loại hình từ cơ sở. Chính sách kinh tế trong văn hóa và văn hóa trong kinh tế được Đảng ta xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) chính là một trong những nguyên tắc nền tảng để đổi mới tư duy, hành động “xây” và “chống” trong CNVH. Mục tiêu phát triển đã được Chính phủ xác định rõ, đến năm 2030 đạt 7% tổng sản phẩm trong nước (GDP) từ CNVH.

Cơ cấu CNVH bao gồm nhiều lĩnh vực, song ưu tiên phát triển các ngành có nhiều lợi thế, tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, quảng cáo, phần mềm và các trò chơi giải trí, truyền hình và phát thanh, thời trang, du lịch văn hóa...

Các ngành ưu tiên phát triển cũng chính là những lĩnh vực chứa đựng nhiều yếu tố nhạy cảm. Thời cơ cho CNVH rất lớn, nhưng thách thức cũng đến từ chính yếu tố nhạy cảm của nó mà nhiều khi hiệu lực luật pháp không can thiệp được.

Để “xây” và “chống” có hiệu quả, phải lấy vũ khí văn hóa đạo đức đẩy lùi mầm mống phản văn hóa, quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong hoạt động văn hóa. Mục tiêu kinh tế của CNVH không chỉ có việc nâng tầm, nâng chất lượng các yếu tố về nhân lực, vật chất, công nghệ... mà cần coi trọng giá trị cốt lõi của văn hóa. Cùng với đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường CNVH, cần phát huy vai trò của các tổ chức hội, đoàn, hiệp hội từ Trung ương đến địa phương trong quản lý, định hướng lao động nghề nghiệp của văn nghệ sĩ và doanh nghiệp.

Để “xây” tốt thì phải ngăn ngừa mầm mống suy thoái ngay từ tư duy, ý tưởng sáng tạo, biểu diễn, phổ biến tác phẩm. Vai trò nòng cốt của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong các hội, đoàn, hiệp hội cần được đề cao để hội viên các ngành, các lĩnh vực có môi trường lao động, cống hiến lành mạnh, đúng định hướng của Đảng. Muốn CNVH phát triển bền vững, phải đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để có tác phẩm lớn.

Tác phẩm lớn xứng tầm thời đại luôn được hình thành trên nền tảng truyền thống văn hóa, cốt cách dân tộc. Rời bỏ giá trị cốt lõi ấy, tác phẩm chỉ là sự vay mượn, lai căng, nó có thể gây sốt thị trường ở một lúc, một nơi nào đó, nhưng chắc chắn khó tránh khỏi "chết yểu". Mà bản chất CNVH thì không thể nào chấp nhận những "cái chết" kiểu như vậy.

Sưu tầm

Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên hiện nay

 Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn quan tâm tới việc rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên. Hơn 93 năm qua, phần lớn cán bộ, đảng viên của Đảng luôn gương mẫu tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, bản lĩnh cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đó là những con người luôn đi đầu trên mọi trận tuyến, trong thời chiến cũng như trong thời bình, xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và bản lĩnh cách mạng, thoái hóa, biến chất, lập trường tư tưởng không vững vàng; có biểu hiện hoang mang, dao động; có thái độ thiếu quyết đoán, ngại va chạm, sợ đấu tranh, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chỉ ra: “Một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt không được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh”(23). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, tiếp tục chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên là: “Thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”(24). Những biểu hiện này, dưới cấp độ cá nhân, chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên; còn ở cấp độ tập thể, chính là biểu hiện của một tổ chức thiếu dân chủ, thiếu tính đoàn kết, tinh thần xây dựng trong nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng.

Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 20-6-1988, của Hội nghị Trung ương 5 khóa VI, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng”, lần đầu tiên, Đảng đưa vấn đề “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” thành một tiêu chuẩn để đánh giá cán bộ lãnh đạo, là yêu cầu cần có trong rèn luyện bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đến ngày 16-11-2012, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, đặt ra yêu cầu phải có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Phát triển quan điểm của Đại hội XI, Đại hội XII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cần thực hiện trong công tác cán bộ, nhất là ở khâu tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ, sao cho lựa chọn được “những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu”(25). Đồng thời, Đảng cũng ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, nhấn mạnh họ phải gương mẫu đi đầu nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình; thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; không tranh công, đổ lỗi. Gần đây nhất, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã nêu quan điểm, cán bộ, đảng viên phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động vì lợi ích chung. Đây được coi là một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giá và là thước đo bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Ngày 22-9-2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, cụ thể hóa chủ trương “... khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”(26). Đây chính là sự kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về rèn luyện bản lĩnh đội ngũ đảng viên theo phương châmthấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” của Đảng ta trong thời kỳ mới.

Để tiếp tục phát triển, vận dụng chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực hiện tốt chủ trương của Đảng về rèn luyện bản lĩnh đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thời kỳ hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, nghị quyết, quy định của Đảng về nâng cao đạo đức, rèn luyện bản lĩnh cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên(27). Việc quán triệt phải được thực hiện gắn liền với đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng để cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính chất quan trọng của việc rèn luyện bản lĩnh người cán bộ, đảng viên; từ đó, tạo sự đồng thuận, tinh thần quyết tâm, tính tích cực, tự giác đấu tranh với các biểu hiện sai trái, nhất là trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch hiện nay.

Hai là, xây dựng môi trường rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu của cán bộ, đảng viên; xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh, duy trì bầu không khí dân chủ, chấp hành kỷ luật, kỷ cương, tạo điều kiện cho họ thường xuyên làm tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hành nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, tăng cường sự giám sát của tập thể đối với cấp ủy, cán bộ lãnh đạo và đảng viên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là vũ khí sắc bén và rất cần thiết để đấu tranh, ngăn chặn tiêu cực, suy thoái. Tự phê bình và phê bình phải thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc. Thông qua tự phê bình và phê bình để đấu tranh khắc phục những biểu hiện sai trái, sai lầm, khuyết điểm; góp phần thiết thực xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Cán bộ, công chức ngành kiểm sát huyện Bình Liêu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và giúp đồng bào làm rẫy tại thôn Khe Mó, xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: baovephapluat.vn

Ba là, xây dựng và triển khai thực hiện quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên. Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, đảng viên trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, đảng viên và từng lĩnh vực hoạt động, nhằm bảo đảm sự liêm chính, trách nhiệm và bản lĩnh của cán bộ, đảng viên. Các chuẩn mực và quy tắc ứng xử trong công vụ cần được đề ra theo hướng khuyến khích cán bộ, đảng viên dám thể hiện bản lĩnh, bảo vệ cái đúng, đấu tranh ngăn chặn cái sai. Để làm được điều này, trước hết lãnh đạo cấp cao, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải làm gương, thể hiện tinh thần và thái độ đúng, sẵn sàng đấu tranh, sẵn sàng đối mặt với khó khăn, thử thách.

Bốn là, tăng cường công tác tổng kết, kiểm tra, đánh giá của cấp ủy các cấp về chất lượng, hiệu quả, hiệu lực thực hiện chỉ thị, nghị quyết, quy định về rèn luyện bản lĩnh cách mạng của cán bộ, đảng viên. Một trong những nguyên nhân khiến cán bộ, đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh là do công tác tổng kết, kiểm tra, đánh giá chưa được nhận thức đúng và triển khai hành động quyết liệt; có lúc, có nơi, công tác tổng kết, kiểm tra, đánh giá còn tạo ra vùng “ưu tiên” hoặc mắc “bệnh thành tích”, “bệnh hình thức”. Do đó, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực, phẩm chất đạo đức của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong lãnh đạo, quản lý; tập trung kiểm tra, đánh giá thái độ tích cực, tự giác của cán bộ, đảng viên trong công việc và đối với nhân dân; tổng kết, kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống và rèn luyện bản lĩnh cách mạng của cán bộ, đảng viên thể hiện qua hiệu quả, chất lượng công việc được giao.

Năm là, chú trọng công tác thi đua, khen thưởng. Kịp thời nêu gương người tốt, việc tốt, có chính sách thỏa đáng đối với người phát hiện và đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, những hành vi sai trái. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật đối với cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc có biểu hiện sai phạm; đồng thời, xây dựng cơ chế khuyến khích việc phát hiện và tố giác hành vi, biểu hiện lệch lạc, sai trái bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; làm tốt công tác tiếp nhận và xử lý thông tin liên quan đến tố giác, tố cáo hành vi sai trái của cán bộ, đảng viên và bảo vệ những người dám lên tiếng, dũng cảm tố cáo hành vi đó, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tố cáo và đấu tranh với hành vi sai trái, tiêu cực./.

LHQ-ST

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản lĩnh “Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” của đội ngũ đảng viên

 “Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh” - Một biểu hiện về bản lĩnh người đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa riêng về bản lĩnh “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh”, mà tùy điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng, Người nêu những ý kiến cụ thể, những so sánh phù hợp để mọi người dễ hiểu, dễ hình dung thế nào là bản lĩnh ấy của người đảng viên.

Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh so sánh “... một người cách mệnh có gan, hơn một ngàn người vô chí”(1) để chỉ những người dân Pháp có thể đứng lên làm cách mạng tư sản Pháp thành công trong khi lương thực ít, súng ống thiếu, gầy guộc, bụng đói... chỉ bởi họ “có gan”, nghĩa là họ dám hy sinh, dám đấu tranh. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dùng từ “có gan”, “dám”, “dũng khí”, “dũng cảm”... để nói về bản lĩnh. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (tháng 10-1947), lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức phân tích, giải thích và chỉ ra cách xử lý công việc của một người cán bộ, đảng viên có bản lĩnh: “... cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra”(2). Nghĩa là, nếu thấy chính sách, cách làm không hợp thì người cán bộ, đảng viên phải “có gan” đề nghị sửa bỏ, còn khi thấy chính sách, cách làm đúng và cần thiết thì phải “có gan” đề nghị cấp trên ban hành để thực hiện; thậm chí, “Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc”(3). Để cho rõ hơn, Người còn so sánh họ với những người “chỉ biết khư khư giữ nếp cũ. Cái không hợp cũng không dám sửa bỏ, cái cần thiết cũng không dám đặt mới./ Đó là vì thói không phụ trách “quá hữu”, gặp sao hay vậy”(4)nghĩa là có thái độ mặc kệ, đúng sai gì cũng không lên tiếng, miễn sao không ảnh hưởng đến mình.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đảng viên có bản lĩnh là những người dũng cảm, gan góc, “... gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa”(5), mạnh dạn, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những quyết định cũng như hành động của mình, nhằm đem lại lợi ích cho tập thể, tổ chức và cho nhân dân; bởi lẽ, người lãnh đạo có bản lĩnh thì mới dám xây dựng cái mới, xóa bỏ cái cũ lỗi thời, lạc hậu. Người cho rằng, những người đã “có gan” như vậy sẽ không e sợ bất kỳ việc gì, cho dù đó là việc khó, việc khổ hay trước áp lực thế lực cường quyền và “... việc gì là việc phải họ đều làm được”(6).

Tuy nhiên, Người cũng nhấn mạnh, “có gan” không có nghĩa là làm vội, làm ẩu, làm liều; mà trước khi tiến hành, ta phải xem xét cho rõ ràng mọi mặt, mọi phương diện, trong mọi mối quan hệ, “... cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ”(7), tức là phải xem xét toàn diện rồi mới xác định phương pháp tiến hành công việc, cách thức đấu tranh với sai lầm, khuyết điểm sao cho phù hợp.

Vì sao thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê bình biểu hiện của một số cán bộ, đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, “... ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình”(8); những cán bộ “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”(9) miễn sao không ảnh hưởng đến mình. Những người này có chung đặc điểm là ngại va chạm, né đấu tranh, “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”, có tư tưởng cầu an, sợ trách nhiệm, sợ liên đới, sợ mất lòng... Nguy hại hơn là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên “Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích”(10), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liệt vào nhóm những biểu hiện của “bệnh cá nhân”. Cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh này chỉ tôn thờ lối sống thực dụng, trong tiếp xúc, giải quyết công việc hằng ngày với nhân dân; bệnh này thể hiện qua hành vi, cử chỉ không thân thiện, không văn hóa, sự thờ ơ, dửng dưng trước khó khăn, mất mát của người dân.

Nói tóm lại, cán bộ, đảng viên thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh sẽ có tác hại: Một mặt, ở phạm vi nhỏ, khi thấy sai không phê bình, không thẳng thắn góp ý, cứ để cho đồng chí mình sa vào sai lầm sẽ dẫn đến hỏng việc, như vậy chẳng “... khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ”(11)mặt khác, gây tác hại ở phạm vi lớn hơn đối với tổ chức đảng, đối với toàn Đảng, khi những cán bộ, đảng viên với biểu hiện “mũ ni che tai” sẽ “khiến cho Đảng xệch xoạc... Đảng xa rời dân chúng”(12), thậm chí những đảng viên này dần dần sẽ sinh ra thói “không nói trước mặt, hục hặc sau lưng”, dẫn đến “sự uất ức và không đoàn kết trong Đảng... để cho bọn vu vơ có thể chui vào hoạt động trong Đảng... để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất lại và phát triển ra”(13), khiến cho quần chúng nhân dân mất lòng tin với Đảng, dẫn đến giảm sút uy tín, ảnh hưởng đến sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh trở thành tiêu chí phân loại thái độ của mỗi người đối với khuyết điểm và là thước đo đánh giá đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đứng trước những sự việc đúng, sai, tốt, xấu, thiện, ác..., sự lựa chọn, thể hiện thái độ, quan điểm, lập trường của cán bộ, đảng viên là đấu tranh, bảo vệ hay im lặng, né tránh sẽ cho thấy bản lĩnh và tư cách của mỗi người. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân thành năm loại thái độ:

1- Thái độ của bọn phản động, nghĩa là “... lợi dụng những khuyết điểm đó và tô vẽ thêm để phá hoại Đảng ta”(14).

2- Thái độ của đảng viên và cán bộ đầu cơ, nghĩa là “Lợi dụng những sai lầm và khuyết điểm đó, để đạt mục đích tự tư tự lợi của họ”(15), lợi mình hại người, “miễn sao mình béo mặc thiên hạ gầy”.

3- Thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt, nghĩa là “... sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình”(16).

4- Thái độ của những người máy móc quá, nghĩa là đối với những người mắc sai lầm, khuyết điểm, họ “... đòi phải đuổi bọn kia ra khỏi Đảng ngay. Nếu Đảng không làm như thế thì họ cho rằng: Thôi, hỏng hết rồi! Do đó, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng”(17).

5- Thái độ đúng đắn của người cách mạng là: “a) Phân tách rõ ràng, cái gì đúng, cái gì là sai./ b) Không chịu nổi ảnh hưởng của những chủ trương sai lầm, những phần tử không tốt. Ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt./ c) Không để mặc kệ. Mà ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, không để nó phát triển ra, không để nó có hại cho Đảng./ d) Không làm cách máy móc. Nhưng khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp đồng chí khác sửa đổi những sai lầm và khuyết điểm, giúp họ tiến bộ./ đ) Đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ. Nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng”(18).

Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán nghiêm khắc những cán bộ và đảng viên có biểu hiện thấy sao cũng mặc kệ và gọi tên họ là “bọn thứ ba”. Những cán bộ, đảng viên này ứng xử theo lối “dĩ hòa vi quý”, “mũ ni che tai”, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, thái độ này khiến cho cái tốt không có điều kiện nảy nở, phát huy, cái sai không được phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời và đấu tranh loại bỏ...; suy cho cùng, đây cũng là một hình thức tự thủ tiêu tinh thần đấu tranh chân chính, một biểu hiện tinh vi của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Người khẳng định, nếu mỗi cán bộ, đảng viên đều có bản lĩnh và thái độ đúng “... thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”(19).

Về cách thức “bảo vệ” và “đấu tranh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, khi đối mặt với một vấn đề cần đưa ra cách giải quyết, người cán bộ, đảng viên phải xem xét một cách toàn diện, phải phân tích rõ ràng để nhận rõ cái gì đúng, cái gì sai, “... vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó”(20). Trong đấu tranh với cái sai, Người căn dặn, tuyệt đối “không làm cách máy móc” mà phải “khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”, khéo phê bình sẽ góp phần tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, tăng cường sự giám sát của tập thể đối với đảng viên. Người khẳng định, đảng viên nào dù mắc khuyết điểm, nhưng nếu thật thà tự phê bình, có quyết tâm sửa chữa, dám đấu tranh với sai lầm, khuyết điểm thì mới trở nên đảng viên xứng đáng, chân chính. Người cũng chỉ rõ, tiến hành tự phê bình và phê bình là phải có lý, có tình, trên tinh thần thương yêu đồng chí, tôn trọng nhân cách của mỗi con người.

Rèn luyện bản lĩnh người đảng viên là một việc quan trọng và cần thiết.

Ngay từ năm 1925, trong tập bài giảng ở lớp huấn luyện chính trị cách mạng tại Quảng Châu, Trung Quốc cho những thanh niên Việt Nam ưu tú, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra 23 chuẩn mực đạo đức cần có của một người cách mạng chân chính; trong đó, có  các chuẩn mực thuộc về bản lĩnh của người cách mạng trên hai mối quan hệ: Mối quan hệ thứ nhất, đối với người, cần có bản lĩnh giúp đỡ, nâng đỡ đồng nghiệp, bạn bè; thấy cái hay, cái tốt, cái đẹp của người khác thì phải “bày vẽ” để họ phát huy, phát triển hoặc khi thấy cái dở, cái chưa tốt ở người khác thì nhất định phải cương trực, thẳng thắn góp ý, nhưng cần chú ý đến cách thức góp ý sao cho khéo léo. Mối quan hệ thứ hai, đối với công việc, phải dũng cảm, nghĩa là gặp việc khó phải “có gan” làm; gặp việc chưa đúng phải “có gan” sửa chữa, góp ý; thấy việc sai “có gan” đấu tranh, thấy việc đúng có gan bảo vệ... như vậy, mới đúng là người có bản lĩnh cách mạng, trở thành người đảng viên có nhân cách, đạo đức và phẩm hạnh, mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng đầy khó khăn, gian khổ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là một tổ chức rất tiến bộ, đã có những thành tích rất vẻ vang./ Trong Đảng ta, gồm có những người có tài, có đức. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất đều ở trong Đảng ta.../ Tuy vậy, không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”(21), “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu”(22). Từ đó, Người yêu cầu, mỗi cán bộ, đảng viên luôn có ý thức chăm lo, bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh cách mạng để có thể xây dựng đội ngũ đảng viên dám đứng ra đấu tranh, bảo vệ cái đúng, làm cho phần chính, phần thiện trong mỗi người ngày càng tăng thêm; để phần tà, phần ác, việc xấu được ngăn chặn và bớt dần

LHQ-ST

Không ngừng xây dựng, chỉnh đốn để Đảng gánh vác và thực hiện sứ mệnh lịch sử

 

Toàn bộ công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là công việc được tính toán chiến lược và tổng thể của toàn Đảng. Đó cũng là nhu cầu của lịch sử và khát vọng của Nhân dân đối với Đảng.

Trong lịch sử 94 năm hình thành và phát triển, Đảng ta đã trải qua không ít thăng trầm, vượt qua nhiều gian nan, thử thách để lãnh đạo đất nước, dẫn dắt dân tộc nhịp bước cùng thời đại. Xuyên suốt quá trình đó, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là Đảng không ngừng xây dựng, chỉnh đốn mình ngang tầm trọng trách lịch sử giao phó. Đó là vấn đề có tính quy luật.

Tuy nhiên, trong 40 năm nay, chưa khi nào và chưa bao giờ chúng ta chứng kiến một thời kỳ mà công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được cả xã hội quan tâm như ở thời kỳ này. Trả lời phỏng vấn phóng viên VOV nhân kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đảng, nhà báo, TS. Nhị Lê- nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản cho rằng: Mục tiêu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn là để Đảng gánh vác thành công sứ mệnh lịch sử và sự trao gửi của Nhân dân cho mình.

Ba tố chất làm nên vị thế, bản chất, sức mạnh và uy tín của Đảng

PV: Trong lịch sử 94 năm hình thành và phát triển, Đảng ta đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng. Trong mấy nhiệm kỳ gần đây, đặc biệt là từ khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ vai trò lãnh đạo cao nhất thì theo ông, dấu ấn nổi bật của Đảng là gì?

Nhà báo Nhị Lê: Từ khi đồng chí Nguyễn Phú Trọng giữ cương vị Tổng Bí thư, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã trở thành một mũi đột phá quan trọng ở tầm mức mới cả về quy mô, tính chất và chiều sâu. Trước kia, thường nói xây dựng Đảng nhưng từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VIII thì vấn đề xây dựng song hành với chỉnh đốn Đảng đã trở thành công việc kép. Chỉnh đốn chính là để xây dựng và xây dựng buộc phải thông qua chỉnh đốn. Xây dựng và chỉnh đốn là chỉnh thể công việc phát triển Đảng một cách toàn diện và thống nhất.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng toàn Đảng đã dụng công rất lớn thực hiện công việc to lớn, nặng nề và có ý nghĩa quyết định thành công này.

Mục tiêu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn là để Đảng gánh vác và thực hiện sứ mệnh lịch sử và sự trao gửi của Nhân dân một cách ngang tầm đất nước và thời đại, trong 3 tư cách căn bản: Đảng phải thực sự xứng đáng là người lãnh đạo; Đảng phải thực sự xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân; Đảng phải thực sự xứng đáng là đứa con nòi của nhân dân lao động.

Đó là 3 tố chất làm nên vị thế, bản chất, sức mạnh và như uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trải 94 năm lịch sử xây dựng và phát triển của đất nước, dưới ngọn cờ của Đảng.

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng bắt đầu làm Tổng Bí thư từ năm 2011. Kế thừa rất nhiều thành tựu, kinh nghiệm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong lịch sử 94 năm, đặc biệt từ Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã trở thành một trọng sự có ý nghĩa thành bại, thậm chí sinh tử đối với vị thế, vai trò và trách nhiệm lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Nhìn lại gần 15 năm cho đến ngày hôm nay, điều đặc biệt, rất ấn tượng tôi lấy làm tâm đắc, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là trọng tâm của 3 Hội nghị lần thứ 4 của Đảng dọc 3 nhiệm kỳ liên tiếp: Hội nghị Trung ương 4 khóa XI bàn về trách nhiệm người đứng đầu; Hội nghị Trung ương 4 khóa XII bàn về những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng; Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII ra Kết luận 21 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục thực hiện hai Hội nghị lần thứ 4 của hai nhiệm kỳ XI và XII, trong bối cảnh mới.

Nhìn như thế để thấy toàn bộ công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng chính là công việc được tính toán chiến lược và tổng thể của toàn Đảng. Đó cũng là nhu cầu của lịch sử và khát vọng của Nhân dân đối với Đảng.

Từ 3 Hội nghị Trung ương 4 mà đỉnh cao là các Đại hội thứ XII và XIII của Đảng, tỏa sáng một phát kiến rất lớn về phương diện lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển một chính Đảng Cộng sản nói chung và Đảng ta nói riêng, đó là cùng với xây dựng Đảng về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức thì từ Đại hội XII của Đảng xác quyết xây dựng Đảng về mặt đạo đức.

Tới Đại hội XIII, cùng với xây dựng Đảng về các mặt: chính trị, tư tưởng, đạo đức, thì xây dựng Đảng về cán bộ là một bước tiến dài về mặt nhận thức lý luận và tổ chức thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta. Không có cán bộ xứng tầm thì mọi kế hoạch tốt đẹp nhất cũng chỉ dừng lại ở mơ ước

PV: Thưa ông, xây dựng Đảng về đạo đức và xây dựng Đảng về cán bộ có thể hiểu như thế nào?

Nhà báo Nhị Lê: Nhân nói về xây dựng Đảng về mặt đạo đức, tôi nhớ một nhà sử học danh tiếng của nước Nga nói rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt vấn đề đạo đức là một phương diện quan trọng của công tác xây dựng Đảng - điều này Đảng Cộng sản Liên Xô trước kia không có được. Nhưng kỳ thực, ta biết, đó chính là một trong những phát kiến sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào năm 1927. Nghĩa là 3 năm trước lúc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Ngày 5/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định vấn đề này về mặt thực tiễn lãnh đạo của Đảng. Người nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đại hội thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác quyết đạo đức là một lĩnh vực xây dựng Đảng rất quan trọng.

Đó là một trong những thành tựu rất căn bản trên phương diện lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của chúng ta trong 15 năm qua, kể từ Đại hội XI đến nay.

Thứ hai, về phương diện cán bộ. Đây là việc then chốt của then chốt. Lịch sử 94 năm của Đảng ta càng chứng minh rõ điều này. Sau khi có đường lối đúng thì nhân tố quyết định thành công của việc thực hiện quyết sách chính trị đó là cán bộ. Không có cán bộ xứng tầm thì mọi kế hoạch tốt đẹp nhất cũng chỉ dừng lại ở mơ ước.

Thực tiễn 3 nhiệm kỳ gần đây, trên lộ trình đổi mới, tái cấu trúc đội ngũ cán bộ các cấp, trước hết là cấp chiến lược, đã thanh lọc xử lý rất nhiều cán bộ ở tất cả các cấp, trong đó nhiều cán bộ là Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị. Cũng là vì điều căn bản đó. Điều đó càng cho thấy, nếu không chỉnh đốn công tác cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ nói riêng thì sức mạnh của Đảng sẽ khó có thể được giữ vững và phát triển.

Về đạo đức, thực tiễn cảnh báo nghiêm khắc, khi cán bộ hủ bại về đạo đức, hủ bại về lối sống thì tất yếu sẽ dẫn đến hủ bại về chính trị, thậm chí phản bội về chính trị. Cho nên, điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Ban Chấp hành Trung ương qua 3 nhiệm kỳ và Đảng ta đã đặt ra yêu cầu, mỗi đảng viên phải xứng đáng là một tấm gương đạo đức, một nhân cách văn hóa, khi “danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Đây cũng chính là yêu cầu của Nhân dân đối cán bộ là đảng viên và với Đảng - “đứa con nòi” của mình.

Không như thế thì không thể xây dựng Đảng ta thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của Nhân dân, thực sự là đứa con nòi của Nhân dân.

Nhân đây, xin nói thêm, để thực hiện tư tưởng đó. Ngoài những công việc về đạo đức, Đảng ta đã tổ chức lại hệ thống của mình về bộ máy, tức là cấu trúc lại từ bên trong đội ngũ bằng một tổ chức tương dung và tương hợp. Trong đó, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực và hệ thống 63 tỉnh, thành phố là một ví dụ, được bổ sung phát triển không chỉ về quy mô mà quyết định là tính chất và trọng trách, góp phần thực hiện toàn bộ công việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trước hết trên phương diện cán bộ.

Không chỉnh đốn, không xây dựng một cách ngang tầm nhiệm vụ thì Đảng không thể dẫn dắt được dân tộc.

PV: Vì sao trong 3 nhiệm kỳ gần đây, Đảng thường chọn hội nghị Trung ương 4 để bàn về việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thưa ông?

Nhà báo Nhị Lê: Ta biết, Hội nghị Trung ương 4 của Đảng thường vào năm thứ 2 của nhiệm kỳ. Đây là tổng thể và lộ trình phù hợp bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống chính trị, rường cột là Quốc hội và Chính phủ. Như thế để thấy được tính hệ thống, tính liên tục, tính khả thi các quyết sách về chính trị, về tổ chức và về cán bộ của Đảng. Đó là tính hệ thống tự nhiên và tất yếu trong đời sống hoạt động của Đảng với tư cách là Người lãnh đạo, cầm quyền đất nước.

PV: Như vậy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng như một lời cam kết của Đảng đối với Nhân dân?

Nhà báo Nhị Lê: Xin được nhấn mạnh và khắc sâu, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên, chỉnh thể và không thể đứt đoạn. Vì thế, tất cả các Hội nghị Trung ương đều xem xét vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau, ngoài những Hội nghị chuyên đề về xây dựng dựng, chỉnh đốn Đảng, như đã thấy.

Đó cũng là yêu cầu của Nhân dân để Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện. Không chỉnh đốn, không xây dựng mình một cách ngang tầm nhiệm vụ thì Đảng rất khó dẫn dắt dân tộc phát triển, như đã xác quyết.

Đó không chỉ là sự cam kết chính trị đơn thuần mà đó là sự cam kết về lòng tin của Đảng đối với dân tộc; đồng thời, là sự cam kết của Đảng đối với bạn bè quốc tế với tư cách là người lãnh đạo, người cầm quyền cách mạng Việt Nam.

Rộng hơn và sâu hơn, đó là lời thề danh dự trước dân tộc, lời thề thiêng liêng trước các bậc tiên hiền về trọng trách lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam.

PV: Trong cuộc đấu tranh làm trong sạch Đảng, khó khăn nhất là gì thưa ông?

Nhà báo Nhị Lê: Đó là vấn đề mấu chốt: quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Tất cả các căn bệnh của Đảng cầm quyền đều bắt nguồn từ sự lệch lạc về tầm nhìn chính trị và xử lý quyền lực. Khi những chứng bệnh trên phương diện này lâm trọng, như: tha hóa quyền lực, thoái hoá quyền lực, sỉ nhục quyền lực, chiếm đoạt và sở hữu quyền lực (biến quyền lực công thành quyền lực tư), hủ bại quyền lực (mua bán quyền lực)… thì công việc này càng mệnh hệ tới vị thế lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Có thể hình dung, quyền lực như con ngựa bất kham vậy. Không khắc chế và dẫn dụ được nó thì sẽ thất bại. Vì, nếu quyền lực được giao cho con người có đạo đức họ có thể kinh bang tế thế nhưng nếu không kiểm soát, nhất là những kẻ vô đạo đức nắm quyền lực, thì không những những người này hóa thành những con thú dữ hoành hành ngoài xã hội, mà đáng thương thay, quyền lực nhớp nhúa vô đạo đức, không nghi gờ gì, nhất định biến thành sợi dây để họ tự thắt cổ mình.

Mọi sự phát triển đúng hướng đều nằm ở việc sử dụng và kiểm soát quyền lực. Đối với Đảng, đó là quyền lực chính trị và quyền lực về công tác cán bộ… Tức là quyền hoạch định đường lối và kiến tạo bộ máy. Nếu đường lối chính trị của Đảng bị thao túng bởi lợi ích nhóm chẳng hạn, thì dứt khoát quyền lực sẽ lâm vào hủ bại và lệch lạc. Do đó, kiểm soát quyền lực đối với những cơ quan tổ chức cán bộ là sự kiểm soát của kiểm soát, rất quan trọng, thậm chí quyết định thành bại trong công tác cán bộ.

Nhân dân trao và ủy thác quyền lực của mình cho Nhà nước, ở từng tổ chức và mỗi cá nhân. Nếu ảo tưởng về quyền lực hoặc quyền lực không được kiểm soát bằng pháp luật và đạo đức, rốt cuộc sẽ chẳng có dân chủ và pháp quyền nào. Khi đó, lợi ích quốc gia bị băm nhỏ hoặc không thống nhất và quyền lực cá nhân và phường hội lên ngôi và ngự trị. Lợi ích của quốc gia và hạnh phúc của Nhân dân có cơ bị lâm nguy!

Nói gọn lại, quyền lực và cán bộ là hai phương diện căn bản, Đảng cần phải nắm lấy, quyết không buông!

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thanh Hà- Kim AnhVOV.VN

Nhà báo, TS. Nhị Lê- nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.