Thứ Năm, 9 tháng 5, 2024

Lời Bác Hồ dạy Ngày 09/5/1954

 

“Dy dn dn t ít đến nhiu, t d đến khó, t thp đến cao. Không tham nhiu, không nhi s. Dy mt cách thiết thc. Lý lun gn cht vi thc hành”.

-----------------------------

Đó là li dy ca Ch tch H Chí Minh trong giáo dc chi b và ct cán nông thôn, năm 1954.

Dưới s lãnh đạo ca Đảng và Bác, quân và dân ta đã giành thng li trong chiến dch Đin Biên Ph, kết thúc hơn 80 năm thc dân Pháp đô h và tiến hành vic ci cách rung đất. Do vy, yêu cu đặt ra phi sm xây dng nhng cán b ct cán gương mu, nht là nông thôn để làm đúng chính sách ca Đảng và Chính ph, đạt được nguyn vng ca qun chúng. Phương pháp giáo dc dy dn dn t ít đến nhiu, t d đến khó, lí lun gn vi thc hành ca Người thc s đem li hiu qu tích cc, không gây áp lc, mang đến s hào hng và nhu cu hc tp thiết thc cho người hc, để hiu biết thêm, nâng cao thêm trình độ, gn lý thuyết đã hc vào gii quyết các công vic do thc tin đặt ra. Li Bác dy, là nhng ch dn quan trng v phương pháp trong giáo dc, hun luyn cán b, coi trng cán b cp huyn, xã, góp phn không nh vào vic đào to mt đội ngũ cán b ct cán, tho vic, tư tưởng thông, lp trường vng, gii quyết tt các công vic mà Đảng và Nhà nước giao phó và các vn đề phát sinh t thc tiến…

Thm nhun li dy ca Bác, trong giai đon đổi mi hin nay, công tác giáo dc, nht là giáo dc, rèn luyn cán b, đảng viên cơ s, chi b, được cp y, t chc đảng, chính quyn các cp, các t chc chính tr xã hi, địa phương coi là công vic thường xuyên, gn vi chng suy thoái v chính tr, tư tưởng, đạo đức, li sng và nhng biu hin “t din biến”, “t chuyn hoá” trong ni bđã có nhiu chuyn biến quan trng, đáp ng yêu cu ca thc tin cách mng.

Hc tp và làm theo li Bác dy, công tác giáo dc, đào to, hun luyn trong Quân đội được Quân u Trung ương, B Quc phòng, cp u, ch huy các cp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, ch đạo, trin khai thc hin nghiêm túc, khoa hc, sáng to, đã tích cc đổi mi hun luyn theo hướng "cơ bn, thiết thc, vng chc", coi trng hun luyn đồng b và chuyên sâu các cp, hun luyn cơ bn cho các đối tượng, trên tt c các ni dung, theo trình t t đơn gin đến phc tp, t d đến khó, t phân đon đến tng hp, t luyn tp tng hp đến din tp vòng tng hp có bn chiến đấu; kết hp hun luyn lý thuyết vi thc hành, ly hun luyn thc hành làm chính; kết hp hun luyn vi rèn luyn, hun luyn chính khóa vi hun luyn ngoi khóa… đã trc tiếp nâng cao trình độ t chc, ch huy tác chiến ca cán b, kh năng làm ch vũ khí trang b ca b đội, góp phn nâng cao cht lượng tng hp, trình độ chiến đấu ca đơn v, xây dng quân đội cách mng, chính quy, tinh nhu, tng bước hin đại, đáp ng yêu cu nhim v bo v T quc trong tình hình mi.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 09/5/1954

 

“Dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. Không tham nhiều, không nhồi sọ. Dạy một cách thiết thực. Lý luận gắn chặt với thực hành”.

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục chi bộ và cốt cán ở nông thôn, năm 1954.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc hơn 80 năm thực dân Pháp đô hộ và tiến hành việc cải cách ruộng đất. Do vậy, yêu cầu đặt ra phải sớm xây dựng những cán bộ cốt cán gương mẫu, nhất là ở nông thôn để làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đạt được nguyện vọng của quần chúng. Phương pháp giáo dục dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, lí luận gắn với thực hành của Người thực sự đem lại hiệu quả tích cực, không gây áp lực, mang đến sự hào hứng và nhu cầu học tập thiết thực cho người học, để hiểu biết thêm, nâng cao thêm trình độ, gắn lý thuyết đã học vào giải quyết các công việc do thực tiễn đặt ra. Lời Bác dạy, là những chỉ dẫn quan trọng về phương pháp trong giáo dục, huấn luyện cán bộ, coi trọng cán bộ cấp huyện, xã, góp phần không nhỏ vào việc đào tạo một đội ngũ cán bộ cốt cán, thạo việc, tư tưởng thông, lập trường vững, giải quyết tốt các công việc mà Đảng và Nhà nước giao phó và các vấn đề phát sinh từ thực tiến…

Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, công tác giáo dục, nhất là giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên ở cơ sở, chi bộ, được cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, địa phương coi là công việc thường xuyên, gắn với chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ…, việc học tập, đào tạo, bồi dưỡng đã gắn liền với thực hành trong công tác đã có nhiều chuyển biến quan trọng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng.

TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM LUÔN ĐẶT DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

 


Tôn giáo du nhập, hình thành ở Việt Nam từ rất sớm, được người dân đón nhận bởi những giá trị nhân văn mà tôn giáo mang lại phù hợp với đạo lý, văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt. Trải qua chiều dài lịch sử dân tộc, tôn giáo luôn gắn kết chặt chẽ, đồng hành cùng dân tộc, biểu hiện rõ nét nhất là các giá trị đạo đức, văn hóa. Việt Nam đã công bố Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, minh bạch hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và thành tựu bảo đảm quyền tự do tôn giáo ở nước ta trong thời gian qua. Như vậy, khẳng định rằng, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “(1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; (2). Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân.

Thế nhưng, gần đây nhất, trên trang Doithoainoline.com Phạm Trần có bài viết “Có tự do tôn giáo ở Việt Nam không?”.... Họ tự cho mình quyền được khuyến khích, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân. Họ xuyên tạc rằng “cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo”. Họ cho rằng “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”. Họ lợi dụng triệt để quan điểm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” để cho rằng “tự do tôn giáo của Việt Nam chỉ là hình thức”.. Họ dựa vào việc các tổ chức đội lốt tôn giáo, có những hoạt động vi phạm pháp luật, như: tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), tịnh thất Bồng Lai (Long An),… bị chính quyền xử lý để vu khống Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp tôn giáo”, v.v.

Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, công tác tôn giáo ở Việt Nam ngày càng tốt hơn. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị khoá VI về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” và Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo đã có những bước đổi mới có tính đột phá, thừa nhận “tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” và “tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đây là những vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện một cách rõ ràng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không chỉ khẳng định sự “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, mà còn phát triển lên mức cao hơn, làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Với quan điểm đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh việc chống lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Hòa trong dòng chảy lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam, với sức mạnh được hun đúc từ mạch nguồn văn hóa: lòng yêu nước nồng nàn, ý thức độc lập dân tộc, tự chủ, tự cường, đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “thương người như thể thương thân”, các tôn giáo ở Việt Nam đều có đóng góp nhất định trong những mức độ khác nhau vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không chỉ đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, tôn giáo còn là một bộ phận cấu thành của văn hoá Việt Nam. Những giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của tôn giáo đã góp phần tạo nên sự phong phú, đặc sắc của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Bằng những giáo lý nhân văn, bác ái của mình, các tôn giáo ở Việt Nam đã phát huy, lan toả các giá trị văn hóa, đạo đức nhân văn, bác ái ấy vào đời sống xã hội, góp phần tạo nên những chuẩn mực đạo đức, văn hóa, ứng xử nhân văn, nhân ái của dân tộc ta, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, cụ thể hóa thành những hành động thiết thực, cứu người, giúp đời, chung tay cùng đồng bào tôn giáo và đồng bào không có tôn giáo xây dựng đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết dân tộc, đồng lòng đồng sức của toàn thể nhân dân Việt Nam, kiều bào ở nước ngoài, chúng ta tin tưởng rằng, sự tương đồng trong mục tiêu phấn đấu vì con người, vì sự phồn vinh của đất nước, tín đồ các tôn giáo, trước hết là con dân Việt, công dân Việt, sẽ sống “tốt đời, đẹp đạo”, mãi tiếp bước trên con đường “đồng hành với dân tộc”, vượt lên mọi thách thức và đập tan mọi âm mưu đen tối của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Đưa đất nước vững bước đi lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

NÉT NHÂN VĂN QUÂN SỰ ĐẶC SẮC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Trong các cuộc chiến tranh giữ nước suốt chiều dài lịch sử dân tộc, cùng với sử dụng sức mạnh quân sự để đánh bại kẻ thù xâm lược, dân tộc Việt Nam đã phát huy cao độ yếu tố chính nghĩa và nhân văn của cuộc chiến tranh đang tiến hành để đánh bại kẻ xâm lược phi nghĩa. Tiếp nối truyền thống đó, trong và sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương đối xử khoan hồng, nhân đạo đối với tù, hàng binh.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị mở cuộc tiến công chiến lược trong Đông Xuân 1953-1954, để toàn quân thực hiện tốt chính sách đối với tù, hàng binh, ngày 27/11/1953, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phổ biến bản “Tóm tắt chính sách đối với tù hàng binh của Tổng cục Chính trị trong Đông Xuân 1953-1954” tới tất cả các đơn vị, với nội dung gồm năm điểm:

“1- Binh lính địch đã hạ vũ khí hay chịu bắt làm tù binh thì đối xử tử tế, không khinh bỉ dọa nạt, không vuốt ve suồng sã, đồng thời phải đề cao cảnh giác.

2- Tuyệt đối không chửi mắng, đánh đập, bắn giết tù hàng binh.

3- Phải cứu chữa tù hàng binh bị thương.

4- Không được lấy đồ dùng và tiền bạc riêng của tù hàng binh. Vũ khí quân dụng và tài liệu quân sự thì phải tịch thu quỹ công.

5- Luôn luôn tuyên truyền giải thích giác ngộ cho tù hàng binh” (1).

Cũng trong tháng 11/1953, Cục Địch vận, Tổng cục Chính trị được giao nhiệm vụ nghiên cứu, tổ chức các trại tù binh, hàng binh tiền phương; chỉ đạo củng cố lại các trại của Cục, các trạm tù binh, hàng binh của các đại đoàn, trung đoàn để chuẩn bị mọi mặt cho việc tiếp nhận tù, hàng binh.

Tháng 1/1954, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ban hành “Năm điều kỷ luật chiến trường thi hành trong chiến dịch Đông-Xuân”, trong đó xác định rõ chính sách đối xử nhân đạo và chấp hành đúng chính sách thương binh, tử sĩ một nội dung cốt lõi của năm điều kỷ luật đó.

Để toàn bộ cán bộ, chiến sĩ nắm vững và thực hiện tốt chính sách tù, hàng binh, các đơn vị đã tổ chức quán triệt và yêu cầu tất cả mọi người đều phải nghiêm chỉnh chấp hành. Theo kế hoạch đã chuẩn bị sẵn, toàn bộ tù, hàng binh được các đại đoàn đưa ngay về tuyến sau cách mặt trận 3-4 km, từ đó chuyển giao cho các trại tù binh. Tại các trại, họ được chăm sóc y tế và ăn uống đầy đủ theo chế độ quy định; đồng thời được phổ biến, giáo dục chính sách khoan hồng, nhân đạo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ đó, giúp họ yên tâm, ổn định tinh thần, tâm lý.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi với số tù, hàng binh lớn chưa từng có trong kháng chiến chống Pháp. Yêu cầu công tác quản lý, dẫn giải về phía sau, giáo dục và bảo đảm đời sống, ăn, ở cho họ đặt ra rất lớn. Đối với số tù binh bị thương, bị bệnh nặng không thể đi theo các đoàn dẫn giải về phía sau, Bộ Chỉ huy mặt trận thiết lập bốn trạm quân y dã chiến tổ chức cứu chữa và nuôi dưỡng. Bộ Tổng Tư lệnh đã phóng thích và trao trả ngay tại mặt trận cho phía Pháp 858 sĩ quan và binh sĩ Pháp bị thương, trong đó có một tù binh nữ duy nhất là cứu thương Geneviève de Gallard được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc cách cho thả trước (2).

Ngoài số tù binh nêu trên, toàn bộ tù, hàng binh ở Điện Biên Phủ sau khi phân loại sơ bộ, được tổ chức thành từng đoàn theo đội ngũ, được dẫn giải về phía sau theo hai hướng: Điện Biên Phủ-Yên Bái, Tuyên Quang và Điện Biên Phủ - Thanh Hóa. Đây là những địa điểm đã chuẩn bị sẵn các trại để tiếp nhận, quản lý, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và dự định sẽ là nơi trao trả cho phía Pháp. Sau thời gian khoảng từ 28 đến 40 ngày tùy theo từng cung đường, các đoàn tù, hàng binh về đến vị trí tập kết. Thực hiện đúng các điều khoản của Hiệp định Geneva và những thỏa thuận ở Hội nghị Trung Giã với phía Pháp, tùy theo điều kiện cụ thể, toàn bộ tù binh đã được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho phía Pháp hoặc tổ chức cho hồi hương hay ở lại Việt Nam làm ăn sinh sống theo nguyện vọng. Đợt trao trả thứ nhất bắt đầu từ ngày 15/8/1954 và đợt cuối kết thúc vào hạ tuần tháng 9/1954.

Cùng với việc thực hiện chính sách nhân đạo đối với tù, hàng binh tại mặt trận Điện Biên Phủ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn nêu rõ chính sách đối với binh lính và nhân viên chính quyền Bảo Đại tự nguyện bỏ hàng ngũ trở về quê hương, gia đình ở vùng tạm chiếm. Tháng 3/1954, Hội đồng Chính phủ thông qua Chính sách đối với ngụy binh và nhân viên ngụy quyền bỏ hàng ngũ địch trở về với Tổ quốc, trong đó nêu rõ: “Sĩ quan, binh lính ngụy bỏ hàng ngũ địch trở về với Tổ quốc được khoan hồng, được hưởng tự do và quyền lợi công dân. Những người mang vũ khí về với kháng chiến, những người giết địch lập công thì sẽ được khen thưởng tùy theo công trạng.

Nhân viên ngụy quyền bỏ hàng ngũ địch trở về với Tổ quốc sẽ được khoan hồng, được hưởng tự do và quyền lợi công dân… Sĩ quan, binh lính ngụy quân, nhân viên ngụy quyền có gia đình ở vùng tự do mà bỏ hàng ngũ địch về nhà làm ăn lương thiện sẽ được chiếu cố” (3).

Chính sách khoan hồng, nhân đạo của Chính phủ đối với binh sĩ người Việt trở về với Tổ quốc được tuyên truyền rộng rãi, cùng với tác động của những thắng lợi ở khắp các chiến trường, đặc biệt là ở Điện Biên Phủ, đã tác động sâu sắc tới tư tưởng, tinh thần binh sĩ và nhân viên chính quyền địch. Từ cuối năm 1953 đến tháng 9/1954, có tới hơn 15 vạn binh sĩ, sĩ quan trong “Quân đội quốc gia” của chính quyền Bảo Đại bỏ ngũ trở về quê (4). Trước tình hình đó, Trung ương nêu rõ chủ trương đối với binh lính bỏ về quê gồm bốn điểm, trong đó nhấn mạnh việc lập trạm chiêu đãi tiếp nhận, chính quyền xã phải sắp xếp công ăn việc làm cho họ nếu họ không có điều kiện sinh sống, cấm không được phát động quần chúng tiến hành tố cáo…” (5).

Những chủ trương kịp thời và đầy tính nhân văn của Đảng, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần làm cho binh lính người Việt ổn định tâm lý, yên tâm trở về gia đình, quê hương làm ăn; đồng thời, những chính sách đó cũng góp phần nhanh chóng ổn định tình hình sau chiến tranh, bảo đảm trật tự, trị an và đời sống, sinh hoạt của đông đảo nhân dân.

Trong và sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện nhất quán chính sách khoan hồng, nhân đạo đối với tù, hàng binh... Đó chính là một nét đặc sắc của truyền thống văn hóa quân sự Việt Nam./.