14. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết và dân chủ
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết và dân
chủ là những vấn đề đặc biệt quan trọng mà mọi cấp ủy, tổ chức đảng, chính
quyền, đoàn thể và mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nghiên cứu, học tập, quán
triệt và thực hiện. Đoàn kết và dân chủ có mối liên hệ mật thiết với nhau: Đoàn
kết thật sự mới có dân chủ và thực hành dân chủ là nền tảng vững chắc để xây
dựng đoàn kết trong Đảng, là hạt nhân, động lực để xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
Đoàn kết,
thống nhất mục tiêu, ý chí và hành động có vai trò, ý nghĩa quyết định đến sự
thành công của mọi tổ chức, cộng đồng và quốc gia - dân tộc. Chân lý này đã
được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết như sau:“Muốn thắng lợi thì mỗi người
phải dựa vào lực lượng của số đông người, tức là của tập thể, của xã hội. Riêng
lẻ từng cá nhân thì nhất định không thắng nổi tự nhiên, không sống còn được. Để
sống còn, loài người lại phải sản xuất mới có ăn, có mặc. Sản xuất cũng phải
dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội. Chỉ riêng lẻ cá nhân cũng không sản
xuất được. Thời đại chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc
càng phải dựa vào của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ
mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”(1).
Chủ
tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã nông nghiệp Tân Lập, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà
Tây (8-7-1958)_Nguồn: hochiminh.vn
Thực tiễn
lịch sử đã chứng minh, đoàn kết là một nhu cầu khách quan, xuất phát từ mỗi cá
nhân trong cộng đồng, vì lợi ích tương đồng mà có xu hướng tập hợp lại, tạo
thành một khối, phát huy và cộng hưởng thế mạnh của từng cá nhân, tạo nên sức
mạnh cộng đồng để cùng đạt mục tiêu chung. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc hiện nay, đoàn kết là một trong những nguyên tắc sống còn được Đảng ta và
Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và thực hành trên ba nội dung cơ bản sau:
Một
là, xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là quan điểm chiến lược, cơ bản, nhất quán,
có ý nghĩa sống còn, quyết định thành công của cách mạng Việt Nam. Từ nghiên
cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đúc rút rằng, cách mạng là công việc khó khăn, phức tạp, nếu chỉ dựa
vào ít người, vào lực lượng của một tổ chức hay một đảng phái thì không thể
thành công. Vì vậy, bên cạnh ý chí quyết tâm, đường lối cách mạng đúng đắn,
phải có sự đồng tâm hiệp lực của nhiều người, phải dựa vào nhân dân, phải đoàn
kết được đông đảo nhân dân và phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân. Người nói:
“Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng
lực lượng đoàn kết của nhân dân”(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn
kết toàn dân là nền tảng căn bản, là quan điểm xuyên suốt của Đảng trong tiến
trình cách mạng Việt Nam. “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là
một thủ đoạn chính trị”(3). Để xây dựng, phát huy sức mạnh của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc và nhân nguồn sức mạnh đó lên, Người luôn coi trọng
việc giác ngộ, tập hợp nhân dân vào hàng ngũ cách mạng, biến ý chí, tư tưởng
cách mạng của Đảng thành ý chí, tư tưởng, động lực để phát huy sức mạnh của
nhân dân. Đặc biệt, Người chỉ rõ bước đi, cơ sở nền tảng trong quá trình xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn
kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các
tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn
kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây”(4). Đây là bài học
kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mọi giai đoạn của
cách mạng nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Thấm
nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định, nền tảng của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công nhân, nông dân với đội ngũ trí
thức; đồng thời, cần mở rộng đoàn kết, phát triển đội ngũ doanh nhân, khuyến
khích doanh nhân khởi nghiệp, sáng tạo, làm giàu chân chính, gắn với thực hiện
tốt trách nhiệm xã hội, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Đặc biệt, Đảng quan tâm giáo dục, bồi dưỡng, phát triển thế hệ trẻ;
bảo vệ bình đẳng giới và phát triển toàn diện phụ nữ; chăm sóc, phát huy kinh
nghiệm, trí tuệ và sự gương mẫu của người cao tuổi cũng như bảo đảm sự bình
đẳng, đoàn kết thực sự giữa các dân tộc, tôn giáo, giữa người dân trong nước
với đồng bào ở nước ngoài. Đó chính là điều kiện khách quan về chính trị, làm
nền tảng cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng,
an ninh của đất nước.
Thứ
hai, giữ gìn
sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đây là một trong những nhiệm vụ
cốt yếu, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng, là hạt nhân của khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, một trong năm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo
đảm sự thống nhất ý chí, hành động của toàn Đảng, là cơ sở tạo nên sức mạnh to
lớn của Đảng. Đảng ta lấy lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm mục tiêu cao
nhất; đồng thời, Đảng cũng là hạt nhân tập hợp, định hướng và lãnh đạo khối đại
đoàn kết toàn dân tộc tiến hành sự nghiệp cách mạng. Muốn tập hợp, xây dựng và
lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì trước hết phải xây dựng và giữ vững
đoàn kết trong Đảng. Tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng vừa quyết định
sự tồn vong của Đảng, vừa là trung tâm, động lực của khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Quan điểm này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng,
thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên. Người nói: “Ngày nay, sự đoàn
kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt
chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”(5).
Theo
Người, việc xây dựng, duy trì, bảo vệ cho được sự đoàn kết, thống nhất trong
nội bộ Đảng, từ chi bộ cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương có ý nghĩa sống còn
đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trước lúc đi xa, Bác căn dặn:
“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân
ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất
trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(6). Quan điểm này
đã được toàn Đảng, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo cao nhất, cơ quan lãnh đạo
cao nhất của Đảng qua các thời kỳ luôn quán triệt và thấm nhuần. Lịch sử lãnh
đạo cách mạng của Đảng cho thấy, đoàn kết trong Đảng là động lực huy động sức
mạnh của cả dân tộc đưa đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là
trong những thời kỳ gay go, khó khăn, thách thức nhất.
Thứ
ba, đoàn kết
quốc tế. Là một chiến sĩ cộng sản chân chính, thấm nhuần khẩu hiệu “vô sản toàn
thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” và từ thực tiễn hoạt động cách
mạng phong phú, đi qua nhiều quốc gia, tiếp xúc, tìm hiểu, nắm bắt, tiếp thu
được giá trị, tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ
hơn ai hết vai trò quan trọng của đoàn kết quốc tế đối với sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo
Người, đoàn kết quốc tế trước hết là đoàn kết với những con người cụ thể,
những cộng đồng, những người có cùng thân phận, cùng hoàn cảnh; từ đó hình
thành nên “tình hữu ái”, sự đoàn kết giữa người Việt Nam, dân tộc Việt Nam với
các dân tộc trên thế giới. Người cho rằng, đoàn kết quốc tế là nguồn lực quan
trọng, tăng cường sức mạnh cho sự nghiệp cách mạng trong nước, giúp kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp của cách mạng vì độc
lập dân tộc, nền hòa bình, ổn định, phát triển và sự bình đẳng giữa các nước
trong khu vực và trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “sức mạnh, sự vĩ
đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân
Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới... Sự đoàn kết quốc tế có một ý
nghĩa to lớn đối với chúng tôi”(7). Giống như quan điểm về xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Người chỉ rõ lực lượng đoàn kết quốc tế rất
phong phú, đó là tất cả các quốc gia, tổ chức, cá nhân tôn trọng lợi ích chính
đáng của nhân dân và đất nước Việt Nam, nhưng nòng cốt là đoàn kết với phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Người
cũng xác định vai trò quan trọng của các quốc gia láng giềng và của các nước
lớn đối với Việt Nam.
Quan điểm
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế dựa trên những nguyên tắc cơ bản
sau: 1- Bình đẳng về lợi ích và trách nhiệm; 2- Thực sự tôn trọng lẫn nhau; 3-
Tự lực cánh sinh; 4- Có lý, có tình. Những nguyên tắc này đã được Người nêu:
“Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với
bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và
lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau,
bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”(8). Đây là quan điểm
chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đấu tranh giành độc
lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc hiện nay; đó là “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc,
trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có
lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác
và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách
nhiệm của cộng đồng quốc tế... Chú trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị
truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối
tác quan trọng. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây
dựng Cộng đồng vững mạnh. Mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ
đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(9).
Quan điểm
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ
Đứng trên
phương diện chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm đơn giản,
dễ hiểu, đúng bản chất về dân chủ. Trong bài Dân vận đăng trên
báo Sự thật, ngày 15-10-1949, Bác viết: “Nước ta là nước dân chủ.
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của
dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự
nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ
xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương
đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực
lượng đều ở nơi dân”(10).
Định
nghĩa đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của xã hội dân chủ và nêu rõ
mô hình nhà nước dân chủ ở nước ta là “nhân dân bầu ra các hội đồng nhân dân,
ủy ban kháng chiến hành chính địa phương và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương”(11).
Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng, nhân dân là chủ thể gốc của
quyền lực nhà nước, nhân dân ủy quyền cho Nhà nước thực hiện quyền lực nhân
dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của nhân dân; Nhà nước nhận sự ủy
quyền của nhân dân để bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của mọi công dân; đồng
thời, Người khẳng định, “nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì
phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức
công dân, tức là: Tuân theo pháp luật Nhà nước. Tuân theo kỷ luật lao động”(12).
Theo Bác, dân chủ không có nghĩa là vô chính phủ, ai muốn làm gì thì làm; Nhà
nước nhận ủy quyền của nhân dân, xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp
luật cho nhân dân, tổ chức thực thi và bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật,
người dân phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước.
Dân chủ
trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trong chính trị mà bao chứa trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là quan hệ giữa con người với con người, là
các giá trị đạo lý làm người. Trong phát triển kinh tế - xã hội, mà Người gọi
là “công cuộc đổi mới và xây dựng” hay sự nghiệp “kiến quốc”, cũng do dân, vì
dân với mục tiêu trước tiên là làm cho nhân dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành”. Trong phân phối, nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi được
Người chỉ rõ: “Ai không làm thì không được ăn” và “làm nhiều hưởng nhiều, làm
ít hưởng ít”(13), trừ người già cả, trẻ em và người ốm đau.
Thực hành
dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cá nhân phải nhận thức mình là
thành viên trong tập thể, phải đặt mình trong tập thể và lắng nghe ý kiến của
các thành viên khác, có trách nhiệm phát biểu, trình bày ý kiến của mình vì lợi
ích chung; đồng thời, phải phục tùng quyết định của tập thể trong khi vẫn có
quyền đề nghị được bảo lưu ý kiến khác biệt của bản thân mình hoặc các thành viên
khác. Mỗi thành viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu cần nhận
thức rõ trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và
tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Mọi
hành vi dùng quyền lực để đe dọa, ép buộc, tạo nên sự phục tùng trong sợ hãi,
hoặc dùng lợi ích vật chất, chức vụ để mua chuộc, mặc cả, tạo nên sự đồng thuận
đều là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu, thậm chí là phản dân chủ, cần phải
lên án và đấu tranh loại bỏ.
Thấm nhuần
tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, trong suốt quá trình hình thành, phát triển và
được nhân dân giao phó sứ mệnh là đảng cầm quyền, Đảng ta luôn xác định rõ việc
phục vụ nhân dân, chấp nhận gian khổ, hy sinh đấu tranh vì lợi ích của nhân dân
là tôn chỉ, mục đích, là lẽ sống của Đảng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ
rõ: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được
nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả
các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống
của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá
trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp
đến quyền làm chủ của nhân dân... Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”(14).
Thực hiện
đoàn kết và dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Đoàn kết
thực sự mới có dân chủ thực sự
Theo quan
điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đoàn kết” và “dân chủ” có mối quan hệ biện
chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau. Người có tinh thần đoàn kết thực sự luôn biết
tôn trọng lợi ích của các thành viên khác trong tập thể; biết lắng nghe, hợp
tác, giúp đỡ các thành viên khác; có tinh thần cầu thị, tiếp thu ý kiến góp ý,
phê bình từ các thành viên khác; biết vận động những thành viên khác lấy lợi
ích của tập thể làm trung tâm; nhận thức rõ lợi ích cá nhân mình chỉ có được
khi trở thành một phần hữu cơ trong lợi ích của tập thể. Như vậy, có thể thấy
rõ, nếu mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo, có tinh thần đoàn
kết thực sự thì mới tập hợp được quần chúng thành một tập thể gắn bó với nhau,
trong đó quyền lợi của mỗi cá nhân đều được bảo đảm. Thực tiễn đã chứng minh, ở
bất cứ quốc gia - dân tộc nào, nếu đảng cầm quyền biết tôn trọng và phát huy
tốt quyền làm chủ của nhân dân, hay nói cách khác dân chủ được thực thi, thì ở
đó, có sự đồng thuận xã hội cao. Đây chính là biểu hiện đầy đủ nhất của sự đoàn
kết.
Đại đoàn
kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta đi tới thắng lợi. Để làm được điều đó, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam phải
được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi công việc của
đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ
nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những
người có trách nhiệm trong đảng, tất cả các ban lãnh đạo của đảng, tất cả các
cơ quan của đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị
bãi miễn”(15). Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở
là nền tảng vững chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt
nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (tháng
2-2018)_Ảnh: Tư liệu
Tự phê
bình và phê bình để đoàn kết, thực hành dân chủ trong Đảng
Theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh, để có đoàn kết và dân chủ thực sự, trong Đảng phải nghiêm túc
thực hiện tự phê bình và phê bình: “Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết
và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người
phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không
có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình... Phê bình
là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là
thực hành dân chủ... Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng tiến
bộ. Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình”(16).
Mỗi cán
bộ, đảng viên khi thực hiện tự phê bình cũng như được góp ý phê bình phải dũng
cảm nhận khuyết điểm và đề ra biện pháp sửa chữa khuyết điểm. Để thực tâm đoàn
kết và thực hành dân chủ, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực tâm tự phê bình,
“phải thật thà... có khuyết điểm gì nói hết, không giấu giếm chút gì. Phải tìm
cho ra vì sao mà sai lầm? Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách gì mà sửa chữa? Và
phải kiên quyết sửa chữa. Tự phê bình và sửa khuyết điểm có khi dễ,
nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân
khác”(17). Một mặt, thực tâm tự phê bình là tự mình nêu
lên những hạn chế, khuyết điểm của bản thân để đồng chí, đồng nghiệp giúp đỡ
mình khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, đồng thời giúp cho người khác biết để
tránh. Mặt khác, người có can đảm, thực tâm tự phê bình thì mới
thực tâm, chân thành khi phê bình đồng chí, đồng nghiệp: “Phê bình là cốt giúp
nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình
phải thành khẩn, nghiêm trang... Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo
thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói
sau lưng””(18).
Chỉ có
tinh thần đoàn kết thực sự thì mới có sự chân thành, xây dựng trong phê bình
đồng chí mình và có thái độ thực sự cầu thị khi tiếp thu phê bình từ đồng chí,
đồng nghiệp. Chỉ có môi trường dân chủ thực sự thì cán bộ, đảng viên mới thấy
tự tin, yên tâm để góp ý, phê bình khuyết điểm của đồng chí, của cấp trên, đồng
thời mới có sự tỉnh táo, bình tĩnh để nhận thức đúng đắn và chân thành đón nhận
sự phê bình, góp ý để tiến bộ. Thực tế cho thấy, để tự phê bình và phê bình
thực sự có hiệu quả, việc nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức có ý
nghĩa quyết định. Người đứng đầu cần dũng cảm, quyết liệt tự soi xét, phê bình
bản thân mình, từ công việc, đời sống cho đến trong các quan hệ gia đình, xã
hội, không né tránh, không giấu giếm; cần khiêm tốn, cầu thị khi tự đánh giá
bản thân; có thái độ nghiêm khắc với những thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế của
bản thân mình. Chỉ khi người đứng đầu gương mẫu tự phê bình thì mới tạo ra được
động lực để cả cơ quan, tổ chức tự phê bình một cách thực chất.
Đồng
thời, người đứng đầu cũng cần nêu gương trong khi thực hiện phê bình đồng chí,
cấp dưới của mình; phải xuất phát từ thực tâm mong muốn đồng chí mình tiến bộ,
hoàn thiện hơn; đặc biệt, cần có phương pháp, cách thức phê bình sao cho người
được phê bình thấy rõ được sai sót, khuyết điểm và quan trọng hơn là thấy mình
trưởng thành hơn về nhận thức, qua đó có động lực khắc phục, sửa chữa sai sót
để tiến bộ. Muốn nêu gương về phê bình, người đứng đầu cần phải thực tâm lắng
nghe ý kiến nhận xét của quần chúng, đồng nghiệp và cấp dưới; từ đó, không chỉ
thấy được khuyết điểm của mình để tìm ra biện pháp khắc phục, mà còn rút ra được
những phương pháp, cách thức phê bình phù hợp, hiệu quả; vận dụng phương pháp
phê bình hiệu quả để thực hành cho bản thân và phổ biến trong cơ quan, tổ chức
cho đồng chí, đồng nghiệp cùng tham khảo. Tập thể lãnh đạo, người đứng đầu nêu
gương tự phê bình và phê bình chính là hạt nhân, là động lực để xây dựng và
phát huy được tinh thần đoàn kết, không khí dân chủ thực sự trong tổ chức, địa
phương, cơ quan, đơn vị./.