Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

22. Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

 

22. Nhận diện và xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, cần nhận diện rõ bối cảnh mới, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó đề ra định hướng, giải pháp phù hợp.

Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. 

Đặc biệt, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra. Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn.

Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá chúng ta.

Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm.

Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội. Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng XHCN.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội (Zalo, Facebook, TikTok…), các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”. Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Thông tấn và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người.

Trong thời điểm tiến hành Đại hội đảng các cấp (năm 2020, 2021), các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”... Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

 

 

Nhận diện để đấu tranh

Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có thể nói, nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao.

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập Chủ nghĩa Mác với Chủ nghĩa Lênin, kêu gọi dùng “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng, sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của Mác, Ph.Ăng-ghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị XHCN bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng XHCN”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai, dịch Covid-19... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: Kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội.

Thứ tư, lợi dụng thông tin về những mặt hạn chế, bất cập của đất nước, các thế lực thù địch, phản động khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, các thế lực thù địch, phản động tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. Chúng không ngừng tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước. Để tăng thêm sức lan tỏa, độ tin cậy của thông tin, chúng chú ý tập hợp, dẫn dụ những ý kiến, phát biểu gây “sốc” trái với đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước từ những đối tượng “dân túy”, tạo dựng ra cái gọi là chân dung “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “những cán bộ của nhân dân”... nhằm trực tiếp tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái.

Thứ sáu, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xúy chủ nghĩa ly khai. Đáng chú ý, các đối tượng này triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo, kích động đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền.

 

 

Đề xuất một số giải pháp

Những âm mưu, thủ đoạn trên có thể nhận diện được nhưng để tạo sức mạnh đấu tranh có hiệu quả thì luôn cần có sự thông suốt, thống nhất tư tưởng, hành động trong toàn Đảng, tinh thần chiến đấu của từng đảng viên, sự thấu hiểu và ủng hộ của quần chúng nhân dân. Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan Đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.   

Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế-xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet. Cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, trước hết. Muốn đấu tranh, trước hết phải tránh xa cám dỗ, thói hư, tật xấu, xây dựng đạo đức thực thi công vụ trong sáng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; kiên trì, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về: Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.

Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

21. Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới

 

21. Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới

Việc ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng trong tổng thể công tác đấu tranh tư tưởng. Với lực lượng, phương thức, thủ đoạn, phương tiện, công nghệ chống phá liên tục thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tấn công trực tiếp vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đích cuối nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa các trào lưu tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống xã hội. Điều đó đòi hỏi công tác đấu tranh tư tưởng cần có những điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.

Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Với những ưu thế nổi trội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính siêu kết nối, tính mở, khó kiểm soát, tính nặc danh…, các phương tiện truyền thông mới bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Với lượng người dùng internet cao của nước ta (tính đến tháng 1-2021, số lượng người dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam lần lượt chiếm 70,3% và 73,7% tổng dân số)(1)những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hằng ngày, có hàng nghìn tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh hữu hiệu, để những thông tin xấu độc tràn lan trên không gian mạng sẽ gây nên những hệ lụy khôn lường.

 

Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

(1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.

(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.

(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Đảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam. Tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá…

 

Các thế lực thù địch phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu, độc trên không gian mạng, thực hiện thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu”, “tâm lý chiến” hết sức thâm độc. Mặt khác, chúng đan cài, trộn lẫn tinh vi thông tin thật - giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch; khoác áo “khách quan khoa học”, núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề lý luận chính trị, từ “giả khoa học” chuyển hóa thành “giả chính trị” hết sức phức tạp, tinh vi. Chọn thời điểm có những sự kiện chính trị lớn của Đảng, của đất nước, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội trong nước; những biến động lớn của thế giới, nhất là những vấn đề tại các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, có đảng cánh tả cầm quyền để thực hiện các “chiến dịch” cao điểm công kích, chống phá ta ở quy mô lớn. Có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước phương Tây…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, “nội công ngoại kích”, tạo thành nhiều mũi tấn công, trên nhiều lĩnh vực.

Các thế lực thù địch sử dụng, khuếch trương các phương tiện, kênh truyền thông phản động ngoài nước, đồng thời với công kích, phê phán hệ thống báo chí chính thống của ta. Hệ thống các phương tiện truyền thông phản động ngoài nước đa dạng, số lượng nhiều, một số là những tập đoàn truyền thông quy mô, có số lượng khán - thính - độc giả cao, diện bao phủ thông tin rộng, đa quốc gia, kết nối với các phương tiện truyền thông xã hội, nên sức chống phá lớn. Đa phần các kênh truyền thông phản động trên đều có máy chủ, trụ sở đặt ở nước ngoài nên công tác đấu tranh của ta gặp nhiều khó khăn. Cùng với việc phát triển các kênh truyền thông phản động, các thế lực thù địch ra sức đả kích, hạ thấp uy tín hệ thống báo chí chính thống trong nước của ta, với những luận điệu xuyên tạc về bản chất nền báo chí cách mạng Việt Nam, về sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, các chức năng xã hội của báo chí, về tự do báo chí… Chúng cung cấp tiền, o bế một số “ngọn cờ”, “cây bút” có lượng người theo dõi lớn, ít nhiều có khả năng chi phối, dẫn dắt dư luận xã hội; sử dụng ngày càng nhiều các bài bình luận, chuyên luận phân tích sâu, luận điệu giả trá lắt léo, tinh vi…

Do tầm quan trọng đặc biệt của công tác đấu tranh tư tưởng và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp, nên Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng, tập trung chỉ đạo và triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác đấu tranh được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu và đạt được những kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, nhìn nhận khách quan, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trên không gian mạng, vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế.

Đại hội XIII của Đảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(2).

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta, do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng.

Thứ nhất, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn, quyết liệt, nên tuyêt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng là phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng chống phá ta của các thế lực thù địch, theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng chính những ưu thế của các phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, thay vì phiến diện chỉ thấy các yếu tố tiêu cực, mặt trái của nó.

Thứ hai, làm loãng thông tin xấu, độc bằng xây dựng tuyến, luồng bài viết có thông tin tích cực hoặc trực diện phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để liên tục phủ lên và tiến tới chiếm thế thượng phong trên không gian mạng, không gian các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội. Kết hợp hài hòa giữa lan tỏa phổ rộng thông tin với ngày càng coi trọng chiều sâu thông tin, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch bằng lý luận, có hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, tính thuyết phục cao, giúp độc giả hiểu sâu, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là phương thức đấu tranh có chiều sâu, căn cơ, kịp thời và chủ động ngăn chặn thủ đoạn chuyển hướng chống phá của các thế lực thù địch nhằm vào những vấn đề cốt lõi thuộc hệ tư tưởng và nền tảng lý luận của Đảng ta.

 

Thứ ba, giữ vững vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng, đồng thời mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng; xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng từ tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội; tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn; mở các kênh truyền thông xã hội riêng như “cánh tay” nối dài của các báo, tạp chí, nếu phù hợp…

Coi trọng công tác dự báo khoa học về những xu hướng truyền thông mới, tác động trực tiếp tới sự thay đổi về thủ đoạn, cách thức, phương tiện chống phá kiểu mới của các thế lực thù địch, trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sát trúng, có tầm nhìn dài hạn, chủ động trong mọi tình huống. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài gỡ bỏ thông tin xấu độc; răn đe; xử lý hình sự…, để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn - nghiên cứu lý luận, xây dựng hệ thống luận cứ, luận chứng khoa học - thực tiễn nền tảng cho công tác đấu tranh phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch; gắn chặt nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận, nhất là việc tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 40 năm tiến hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) trong thời gian tới./.

20. Một số giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức trong Đảng hiện nay

 

20. Một số giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức trong Đảng hiện nay

 

Xây dựng Đảng về đạo đức được Đảng ta ngày càng coi trọng, bởi Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”. Văn hóa chính trị là một biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng cần được thực hành ngày càng rộng rãi để trở thành nhu cầu nội sinh trong mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

 

- Qua thực tiễn 90 năm lãnh đạo, Đảng ta luôn xác định, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng nền gốc tinh thần vững chắc của Đảng. Có thể thấy, qua mỗi lần chỉnh đốn, Đảng ta thêm trong sạch, vững mạnh, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao; hệ giá trị văn hóa, đạo đức cách mạng được củng cố, bồi đắp.

Văn hóa chính trị là một biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng cần được thực hành ngày càng rộng rãi để trở thành nhu cầu nội sinh trong mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên (Trong ảnh:  Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng với nhân dân xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá)_Ảnh: TTXVN

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (năm 1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh 4 chuẩn mực đạo đức cách mạng: 1- “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. 2- “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”. 3- “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. 4- “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”(1).

Các chuẩn mực đạo đức cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, cho đến nay, vẫn giữ nguyên giá trị, là những tiêu chí, chuẩn mực để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa trong bối cảnh hiện nay.

“Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng” được thể hiện nổi bật nhất là sự trung thành với lý tưởng, với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đang nỗ lực thực hiện. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mặt trận tư tưởng. Giữ vững lý tưởng, không dao động trước các âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ, người cách mạng “là phải giữ chủ nghĩa cho vững”. Trong bối cảnh hiện nay, giữ vững lý tưởng của Đảng cần được nhấn mạnh ở cả khía cạnh đấu tranh với những biểu hiện chệch hướng, sai lầm về tư tưởng và tự đấu tranh với các biểu hiện cơ hội chính trị vốn là những mầm mống dẫn đến nguy cơ phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bản chất của những người cơ hội chính trị là sự thiếu trung thành và sự nhạt phai lý tưởng.

“Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng” không chỉ là làm cho hết công việc, mà cao hơn còn là sự cống hiến tâm huyết, tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, tôn trọng kỷ luật Đảng gắn liền với tuân thủ pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực thi công vụ. Ý thức giữ gìn kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước có mối liên hệ trực tiếp và chặt chẽ với giữ gìn văn hóa, đạo đức, lối sống. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng hầu hết đều có biểu hiện thiếu trách nhiệm, vi phạm các chuẩn mực đạo đức…

“Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc” là chuẩn mực quan trọng. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ, người cách mạng phải “ít lòng ham muốn về vật chất”; và khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(2). Nhìn lại thời gian qua, sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đều có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân. Khi chủ nghĩa cá nhân thắng thế, lợi ích cá nhân làm lóa mắt, lòng tham nổi lên, nhiều cán bộ, đảng viên đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, đánh mất phẩm giá của bản thân, làm hoen ố và tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức đảng. Chủ nghĩa cá nhân thực sự là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.

Tuy nhiên, “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình” không có nghĩa là đề cao thái quá chủ nghĩa tập thể, bài trừ lợi ích cá nhân chính đáng, mà cần có sự hài hòa, từ đó động viên, khuyến khích các cá nhân cống hiến tài năng, tâm huyết cho tập thể.

“Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” - học tập lý luận không những để giữ chủ nghĩa cho vững mà còn để vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn công tác của từng cán bộ, đảng viên, phù hợp với từng vị trí công việc cụ thể.

Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức đảng và đảng viên. Tuy nhiên, hiện nay, có tình trạng ngụy tự phê bình và phê bình, khi sự độc đoán, chuyên quyền ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý được núp dưới bóng “tự phê bình và phê bình”. Các buổi sinh hoạt, góp ý tự phê bình, phê bình trở thành cơ hội để người đứng đầu đưa ra ý kiến đánh giá đề cao những người thuộc phe cánh mình, hạ thấp những người không hợp ý; trở thành nơi các cán bộ không ưa nhau “đấu tố nhau”, hạ uy tín của nhau. Rõ ràng, khi động cơ không còn trong sáng nữa thì tự phê bình và phê bình trở thành mảnh đất cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. Do đó, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình luôn luôn phải đồng thời giữ được bản chất trong sáng, tính đúng đắn của nguyên tắc này, bảo đảm tự phê bình và phê bình phải thực chất, có cơ chế để ngăn chặn tình trạng lạm dụng, lợi dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình vì mục đích cá nhân. Tự phê bình và phê bình cũng trái ngược với cách ứng xử “dĩ hòa vi quý”, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, né tránh để “giữ phiếu”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được vai trò, trách nhiệm công vụ của mình và phải có bổn phận làm tròn trách nhiệm đó, xóa bỏ tâm lý “giữ thân” vì lợi ích cá nhân…

2- Sau khi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành, trong đó chỉ rõ 9/27 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống bên cạnh các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thì việc giáo dục đạo đức người cán bộ, đảng viên đã có căn cứ cụ thể hơn, nhiều ngành, nhiều đơn vị, tổ chức đã xây dựng tiêu chí đạo đức riêng cho cán bộ, đảng viên của ngành, đơn vị. Ý thức xây dựng văn hóa chính trị cũng đã và đang tiếp tục lan tỏa, các quy định hành vi văn hóa chuẩn mực trở thành nội dung không thể thiếu trong các quy định của nhiều cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể.

Để việc thực hành đạo đức cách mạng thực sự là nền tảng “sâu rễ bền gốc”, để đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức trong cán bộ, đảng viên, thực hành văn hóa chính trị trở thành ý thức hằng ngày trong quá trình thực thi công vụ, cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, giáo dục đạo đức cách mạng cần tiến hành thường xuyên, trở thành nền tảng cho xây dựng văn hóa chính trị. Xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa chính trị phải được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và được cụ thể hóa trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Hai là, xây dựng môi trường văn hóa chính trị lành mạnh. Các tổ chức đảng là những hạt nhân chính trị, nơi thể hiện rõ nét, sinh động và trực tiếp nhất hoạt động lãnh đạo của Đảng, nơi mỗi cán bộ, đảng viên sinh hoạt hằng ngày phải là môi trường giàu đạo đức, văn hóa chính trị.

Trong môi trường văn hóa chính trị đó, mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, “đi trước”, làm gương cho quần chúng. Xây dựng đạo đức đảng viên trong bối cảnh hiện nay cần được cụ thể hóa thành những việc làm giản dị hằng ngày, như trách nhiệm với công việc, ứng xử với nhau trong cuộc sống, có văn hóa, lối sống lành mạnh... Mỗi cá nhân thường xuyên tự tiết chế chính mình, tự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân vốn luôn thường trực trong mỗi con người; phải thực sự cầu thị, thực hiện tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, khắc phục tình trạng khắt khe với khuyết điểm của người khác, dễ dãi với mình, khi bản thân có khuyết điểm thì đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan mà không soát xét lại, tìm căn nguyên từ chính sự yếu kém, hạn chế của mình mà chỉnh đốn; khắc phục tư tưởng chỉ thiên về đòi quyền lợi, mà lảng tránh nghĩa vụ, trách nhiệm.

Ba là, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả, ứng dụng những phương tiện làm việc hiện đại, đẩy mạnh minh bạch thông tin gắn với trách nhiệm giải trình; xây dựng cơ chế, chế tài mạnh để “không dám tham nhũng”, “không thể tham nhũng”. Nâng cao thu nhập cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tương xứng với hiệu quả công việc và xây dựng văn hóa tự trọng để “không muốn tham nhũng” trong thi hành công vụ.

Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa thực hành đạo đức cách mạng với thực hành văn hóa chính trị

Xây dựng Đảng trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức được xác định có quan hệ tương hỗ, biện chứng, là cơ sở, tiền đề và hệ quả của nhau, nên cần coi trọng và tiến hành đồng thời, trong đó xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng phải được đề cao và gắn chặt với xây dựng và thực hành văn hóa chính trị.

Có thể thấy văn hóa và đạo đức đã thực sự hòa quyện, là hai yếu tố không thể tách rời, luôn được đề cao trong mọi hoạt động của Đảng, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, trong hành vi, ứng xử của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau Đại hội IX, Đảng đã phát động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII đã nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, cho thấy Đảng ta hết sức coi trọng và ngày càng đề cao việc phải bổ sung, tăng cường yếu tố văn hóa, đạo đức vào công tác xây dựng Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức chính là xây dựng gốc cho thực hành văn hóa chính trị, xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của Đảng.

Năm là, xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa văn hóa, đạo đức với pháp luật

Văn hóa, đạo đức và pháp luật là những thành tố tồn tại riêng biệt, nhưng luôn có mối liên hệ chặt chẽ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn rõ và giải quyết hài hòa mối quan hệ này, sự kết hợp “đức trị” và “pháp trị” đã trở thành một nét đặc sắc trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh. Trong tình hình hiện nay, cần gắn kết xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa chính trị với pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Sáu là, thực hiện tốt các giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ

Đạo đức cách mạng, văn hóa chính trị thể hiện ở tư cách của từng cán bộ, đảng viên và hoạt động của từng tổ chức đảng, do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất tốt, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, gương mẫu trong sinh hoạt và công tác là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Bên cạnh đó, trên cơ sở tiêu chí chung, các cấp, các ngành cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ riêng cho ngành mình. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với tình hình hiện nay, trong đó có các nội dung, yêu cầu về văn hóa, đạo đức, lối sống đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức… Cần sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm, theo hướng định danh và cụ thể hóa từng việc làm, từng hành động phản văn hóa, phi đạo đức của cán bộ, đảng viên và có chế tài xử lý thích đáng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng nghiêm minh. Nghiên cứu hoàn chỉnh bộ tiêu chí xây dựng Đảng về đạo đức, các yêu cầu cụ thể về thực hành văn hóa chính trị làm cơ sở để các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vận dụng. Chú trọng phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, quần chúng nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu ở cả nơi công tác và nơi cư trú… Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức và văn hóa truyền thống trong hệ thống các cấp học, góp phần xây dựng một xã hội giàu văn hóa, coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

19. Giải pháp đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay

 

19. Giải pháp đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay

 

Để hoàn thành nhiệm vụ đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về quyền con người. Thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch trên lĩnh vực quyền con người để đề xuất giải pháp phù hợp.

Thứ hai, tích cực, chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đồng thời, chủ động, tích cực tham gia và đóng góp trực tiếp vào việc định hình giá trị cũng như luật pháp về vấn đề quyền con người trong quan hệ quốc tế.

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh có hiệu quả trên lĩnh vực quyền con người. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp, công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Căn cứ vào nghị quyết và hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần xác định rõ nội dung, biện pháp, yêu cầu cụ thể trong nhiệm vụ phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phù hợp với từng giai đoạn, tình hình tại địa phương, cơ sở. Nâng cao cảnh giác cách mạng để mỗi cán bộ, đảng viên tự phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho mình và giúp đỡ những người xung quanh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp trong phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quyền con người trong cả hệ thống chính trị. Các bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương tiếp tục xây dựng, thực hiện kế hoạch giải quyết tốt các “điểm nóng” phức tạp, kéo dài, theo của Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20-7-2010, của Ban Bí thư khóa X,“Về công tác nhân quyền trong tình hình mới”, đặc biệt liên quan đến các vấn đề đất đai, tôn giáo, dân tộc,.... Chú ý trong xử lý các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân chủ, nhân quyền, phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập, phân hóa số ngoan cố chống đối. Phân biệt rõ mâu thuẫn địch - ta và mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân để lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp, không làm phức tạp thêm tình hình, tạo sơ hở cho địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Thứ năm, tiếp tục nâng cao năng lực của đội ngũ chuyên môn, chuyên trách (tư tưởng, lý luận, thông tin, truyền thông, văn hóa, ngoại giao, an ninh chính trị, bảo vệ chính trị nội bộ); xây dựng cơ sở dữ liệu chủ động công bố trên cổng thông tin điện tử bằng tiếng Việt và tiếng Anh về thành tựu trong bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và tư liệu về quyền con người bị xâm hại do hành động của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch gây ra đối với nhân dân Việt Nam để đấu tranh có hiệu quả về quyền con người.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội, thông tin đối ngoại về thành tựu bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân qua hơn 35 năm đổi mới. Phát huy hiệu quả vai trò của báo chí, truyền thông trong bảo vệ, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người, thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước(6).

Thứ bảy, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá, gây mất ổn định chính trị - xã hội tại Việt Nam. Đồng thời, chủ động công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng cả ở trong nước và quốc tế.

Thứ tám, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực quyền con ngườiĐồng thời, chú ý lắng nghe dư luận nhân dân, tiếp nhận ý kiến giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội để nâng cao hiệu quả đấu tranh. Coi trọng phát hiện các yếu tố tích cực, điển hình tiên tiến, những cán bộ, đảng viên, chức sắc tôn giáo, già làng, người có uy tín tiêu biểu để tuyên dương, rút ra những bài học, kinh nghiệm. Tiếp tục xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới./.

18. Quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa xã hội.

 

18. Quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa xã hội.

Về văn hóa, xã hội và con người, nhận thức lý luận của Đảng về văn hóa trong đời sống xã hội và trong xây dựng, phát triển đất nước có bước phát triển mới. Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển; con người trở thành trung tâm của chiến lược phát triển, là chủ thể và là mục tiêu quyết định sự phát triển, đồng thời cũng là động lực quan trọng nhất của phát triển. Đảng đã phát triển lý luận quản lý phát triển xã hội, chủ trương thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội toàn diện trên tất cả các lĩnh vực xã hội; Nhà nước giữ vai trò trung tâm, đồng thời động viên mọi nguồn lực xã hội cùng tham gia việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm cho mọi người dân được thụ hưởng xứng đáng, công bằng những thành tựu của đổi mới, phát triển.

Đảng đã có những đổi mới, sáng tạo trong nhận thức lý luận về tính chất, đặc điểm của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, quan điểm về đối tác, đối tượng là một nhận thức mới, phù hợp với tình hình thế giới với những mối quan hệ chính trị, lợi ích phức tạp; trong đó, nhấn mạnh, những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi là đối tác. Đảng chủ trương tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh. Về lĩnh vực đối ngoại, Đảng nêu cao đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Trong bối cảnh thế giới biến động khôn lường, các mối quan hệ lợi ích đan xen, chồng chéo lẫn nhau, Đảng giữ vững quan điểm đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm nâng cao vị thế của đất nước; đồng thời, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, để tiếp tục nghiên cứu và phát triển lý luận của Đảng, chúng ta cần thống nhất nhận thức đối với một số nội dung cụ thể:

Thứ nhất, kiên định và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mối quan hệ không tách rời với thực tiễn đổi mới và hội nhập của đất nước hiện nay. Kiên định nền tảng lý luận của Đảng là kiên định với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện ở lập trường cách mạng triệt để của giai cấp công nhân; ở quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật; và ở phương pháp biện chứng để giải quyết các vấn đề tự nhiên, xã hội. Cần tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và những kinh nghiệm có giá trị phù hợp; làm rõ tinh hoa văn hóa và những những luận điểm nào của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cần phải bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới; từ đó, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, đánh giá đầy đủ, chính xác thực tiễn, tập trung nghiên cứu lý luận, giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận do thực tiễn đặt ra.

Thứ hai, phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu đối với công tác nghiên cứu, phát triển lý luận. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 01-NQ/TW, ngày 28-3-1992, của Bộ Chính trị (khóa VII), về “Công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” và Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9-10-2014, của Bộ Chính trị (khóa XI), về “Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”, phát huy hơn nữa vai trò nền tảng của lý luận đối với công tác lãnh đạo của Đảng và vai trò của lý luận đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu lý luận và hoạch định đường lối, chính sách. Chỉ có nghiên cứu và phát triển lý luận mới tạo ra tiềm lực lâu dài, sức mạnh nội sinh của Đảng; xây dựng Đảng về lý luận là nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp nghiên cứu, phát triển lý luận trên sơ sở phát huy tối đa dân chủ trong hoạt động lý luận. Nghiên cứu phát triển lý luận phải bảo đảm thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa hiểu biết và thực hành, đó cũng là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong quá trình nghiên cứu, phát triển lý luận và thực hành phải bảo đảm tính khoa học, cách mạng và nhân văn với yêu cầu về tính khách quan, toàn diện, phát triển và lịch sử - cụ thể. Đồng thời, quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để đào tạo, bồi dưỡng những con người có đủ phẩm chất, năng lực, đạo đức và lý tưởng, phát huy dân chủ và trí tuệ tập thể để kế tục sự nghiệp nghiên cứu và phát triển lý luận cách mạng.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế, kiện toàn hệ thống các cơ quan nghiên cứu lý luận và mở rộng hợp tác quốc tế trong hoạt động nghiên cứu lý luận. Đổi mới việc tổ chức, triển khai nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ cũng như đánh giá, nghiệm thu sản phẩm nghiên cứu, bảo đảm tính khoa học, khách quan, trung thực. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan lý luận với cơ quan tư vấn, hoạch định chính sách, cơ quan tham mưu, cơ quan chỉ đạo thực tiễn. Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về lý luận theo hướng đa dạng hóa các hình thức hợp tác và các tổ chức hợp tác, nâng cao hiệu quả hợp tác, từ đó tìm ra và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn đất nước đặt ra.

Thứ năm, tăng cường các biện pháp đấu tranh trên lĩnh vực lý luận chống lại các luận điệu xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần chủ động, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nhận thức và cảnh giác trước những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, tăng cường sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, cũng cần phải nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá lại chính mình trước những biến đổi nhanh chóng của thực tiễn để bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và bối cảnh mới của Việt Nam hiện nay./.

-------------------------