Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động "ly khai", "tự trị"

 Nhằm thực hiện mưu đồ chống phá Nhà nước Việt Nam, thời gian qua, các thế lực thù địch, tổ chức phản động tăng cường các hoạt động tuyên truyền, kích động, vu cáo Ðảng, Nhà nước trên không gian mạng, với rất nhiều chiêu trò, thủ đoạn tinh vi.

Nổi lên gần đây là việc lập kênh mạng xã hội để cổ xúy, ca ngợi những đối tượng là người H’Mông có hành vi vi phạm chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước Việt Nam hiện đã bỏ trốn ra nước ngoài hoặc đang thụ án tại các cơ sở giam giữ trong nước, coi họ là nạn nhân của chế độ trong nước, qua đó lôi kéo, kích động hận thù và chia rẽ trong đồng bào dân tộc thiểu số, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam...

Theo ghi nhận của Cục An ninh nội địa (Bộ Công an), Tây Bắc và các vùng phụ cận vẫn là một trong những địa bàn cần được quan tâm, chú trọng khi thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng đồng bào người dân tộc thiểu số tiến hành các hoạt động tuyên truyền chia rẽ, kích động "ly khai", "tự trị" gắn liền với âm mưu thành lập cái gọi là "Nhà nước H’Mông".

Nổi lên trong số này là những tổ chức phản động như Hmong United for Justice (Liên minh người H’Mông vì công lý - HUJ), Hmong Human Rights Coalition (Liên minh nhân quyền người H’Mông - HmongHRC), Against Religion Oppression (Chống lại sự đàn áp tôn giáo), Xaivcialis CMA..., tự xưng là các tổ chức độc lập, ôn hòa, không liên quan đến bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào xúi giục thúc đẩy, âm mưu hoặc tiếp tay cho việc sử dụng bạo lực vì bất kỳ mục đích gì, song trên thực tế đây đều là những "tổ chức ma" do Vàng Chỉnh Mình (là người dân tộc H’Mông, sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, hiện đang định cư tại Mỹ) và số đối tượng trong HUJ lập ra. Từ đó, tạo thành hệ thống "chân rết" với nhiều kênh tuyên truyền để tìm kiếm, lôi kéo người H’Mông nhẹ dạ, cả tin nhằm thực hiện những mưu đồ đen tối.

Chỉ trong 9 tháng năm 2024, các đối tượng hoạt động cho cái gọi là "Nhà nước H’Mông" ở hải ngoại đã sử dụng hàng trăm tài khoản mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter thường xuyên đăng tải tin, hình ảnh xuyên tạc tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở trong nước, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Ðồng thời, các nhóm do Vàng Chỉnh Mình và đồng bọn đẩy mạnh việc bắt liên lạc, tuyển mộ thành viên, nhất là các phần tử từng tham gia tổ chức bất hợp pháp "Nhà nước H’Mông" ở trong nước.

Mục tiêu chính của chúng là tìm ra các đối tượng người H’Mông được học tập, đào tạo bài bản trong hệ thống giáo dục của nhà nước, được thụ hưởng những ưu đãi của chế độ dành cho người dân tộc thiểu số nhưng vì một lý do nào đó trở nên bất mãn, lầm lạc hoặc suy thoái, biến chất, cố tình lợi dụng quyền tự do, dân chủ để "trở cờ", xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước, đưa thông tin sai sự thật về công tác tôn giáo, dân tộc. Sau đó, chúng tập hợp, tổ chức, hỗ trợ cho các phần tử chống phá này cùng gia đình vượt biên trái phép sang Thái Lan, lập hồ sơ xin tị nạn sang các nước thứ ba như Mỹ, Canada để gửi tới Văn phòng của Cao ủy về Người tị nạn của Liên hợp quốc (UNHCR).

Bên cạnh đó, lợi dụng tập quán du canh, du cư của một số đồng bào H’Mông tại các khu vực biên giới, các đối tượng đã thu nạp thành công một số người dân nhẹ dạ, thiếu hiểu biết, cực đoan nhằm củng cố vây cánh để cùng thực hiện những thủ đoạn chống phá mới, mà nổi lên là các chương trình phỏng vấn "nạn nhân người H’Mông của Nhà nước Việt Nam".

Khách mời của loạt chương trình này tự xưng là đại diện cho những "người H’Mông không Tổ quốc", "tù nhân người H’Mông ở Việt Nam" nhằm che giấu danh tính thật là những thành viên, cộng tác viên mới được các tổ chức chống phá người H’Mông ở nước ngoài tuyển mộ. Qua sự mớm lời, dẫn dắt thông tin của người dẫn chương trình, nhóm đối tượng này sắm vai "nhân chứng sống" ra sức xuyên tạc sai sự thật về đời sống vật chất và tinh thần của người H’Mông ở Việt Nam.

Thông qua chương trình, những đối tượng này đề cập đến một số vụ án, vụ việc vi phạm an ninh, trật tự, hộ tịch, đất đai, tôn giáo trong quá khứ liên quan đến một số người H’Mông vốn đã được cơ quan chức năng xử lý công bằng, dân chủ, minh bạch theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Tuy nhiên, bằng thủ đoạn ngụy tạo nhân chứng, đánh tráo khái niệm, họ vu cáo Ðảng và Nhà nước Việt Nam đàn áp, bắt bớ, phân biệt đối xử với người H’Mông khiến dân tộc này "bị cô lập", "bức hại", "mất đất đai", "không được thực hành niềm tin tôn giáo", "không được thụ hưởng các chính sách an sinh, xã hội", "không được cấp giấy tờ tùy thân". Thậm chí, họ còn bịa đặt trắng trợn rằng bản thân và gia đình sẽ gặp nguy hiểm, có thể bị sát hại nếu quay về Việt Nam.

Ðáng chú ý, các video trên đều dàn dựng kịch bản khá bài bản, một số chương trình còn được dịch phụ đề bằng nhiều thứ tiếng. Trong đó, nhiều đối tượng trao đổi trực tiếp bằng ngôn ngữ tiếng Việt thay vì tiếng H’Mông như trước đây. Từ đây cho thấy mục đích của chúng không chỉ là lan truyền những thông tin xấu độc, sai sự thật đến đồng bào người H’Mông mà còn hướng đến cộng đồng các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam, cũng như cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài.

Chưa dừng lại ở đó, khi khoác lên mình tấm áo "nạn nhân", các đối tượng chống phá cũng tích cực tham gia phỏng vấn trên các kênh truyền hình, tờ báo mang khuynh hướng chống cộng cực đoan ở hải ngoại, thể hiện mối quan hệ hợp tác công khai giữa tổ chức bất hợp pháp "Nhà nước H’Mông" với các hội, nhóm chống phá khác ở nước ngoài khác như BPSOS, Người Thượng vì công lý để hình thành một liên minh chống, phá Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền, tôn giáo, dân tộc.

Ðồng thời, tranh thủ sự ủng hộ của một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí để qua đó đánh bóng tên tuổi, gây sức ép nhằm can thiệp vào tình hình nội bộ của nước ta. Nghe theo sự xúi giục của kẻ xấu, một số người H’Mông đã tự ý rời khỏi địa phương, không khai báo thông tin về nơi cư trú mới, tham gia các hoạt động tẩy chay, phản đối, bất hợp tác trong quá trình làm thủ tục cấp, đổi thẻ căn cước mới.

Một số thành phần cực đoan khi vượt biên trái phép sang các quốc gia khác còn bỏ lại, tiêu hủy giấy tờ tùy thân để không bị trục xuất về Việt Nam. Chính vì vậy, cơ quan chức năng ở Việt Nam và các nước láng giềng trong khu vực gặp nhiều thách thức trong việc hoàn thiện thủ tục, hồ sơ để cấp giấy tờ tùy thân cho những trường hợp này.

Thực tế, các "nạn nhân" nêu trên chỉ là hiện tượng cá biệt, không phản ánh toàn cảnh đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng người H’Mông cũng như đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước, công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào tại các tỉnh miền núi phía bắc nói riêng, vùng sâu, vùng cao, vùng xa trên địa bàn cả nước nói chung không ngừng được cải thiện, nâng cao với nhiều chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực.

Ðảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng có tính chất chỉ đạo hệ thống chính trị các cấp quan tâm hơn nữa đến công tác ở vùng đồng bào dân tộc. Trên cơ sở này, chính quyền tại các địa phương đã triển khai nhiều biện pháp, cách làm hiệu quả giúp đồng bào vươn lên thoát nghèo, phát huy tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trong đó, nhấn mạnh đến các chính sách đối thoại, gặp gỡ, giải đáp các khúc mắc của đồng bào đang sinh sống tại địa bàn trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở để cùng nhau tìm ra các chính sách tối ưu nhất phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và tình hình thực tế.

Bên cạnh đó, các cấp chính quyền cũng tăng cường các biện pháp nhằm ngăn chặn hiệu quả, từ sớm, từ xa nhiều âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo, lợi dụng quyền tự do, dân chủ để thực hiện những hành vi chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính quyền và cơ quan chức năng cũng ngày một chủ động hơn trong việc tạo cơ hội, điều kiện cho những người dân từng lầm đường, lạc lối đi theo các đối tượng xấu có cơ hội được hòa nhập, sinh sống ổn định bên gia đình và cộng đồng...

Ðáng tiếc là vẫn có những tổ chức quốc tế, cơ quan chuyên môn làm công tác nhân quyền tại một số quốc gia lại dựa vào các cáo buộc sai sự thật về đời sống vật chất và tinh thần của người H’Mông tại Việt Nam như những "bằng chứng", "nhân chứng" xác thực để từ đó, lập nên những báo cáo, khuyến nghị phiến diện, thiếu khách quan về cuộc sống của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam, đưa ra những yêu sách phi lý đòi thay đổi pháp luật Việt Nam.

Bởi vậy, thời gian tới, bên cạnh việc quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách đối với đồng bào người dân tộc thiểu số, Việt Nam cần tiếp tục quan tâm, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thông tin, đối ngoại để những thành tựu trong bảo vệ, bảo đảm, phát huy đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, người H’Mông nói riêng được cộng đồng quốc tế biết đến một cách rộng rãi, đầy đủ, thuyết phục.

Cùng với đó, cần nhanh chóng vạch trần âm mưu, quyết liệt đấu tranh trước các thủ đoạn lợi dụng quyền tự do, dân chủ để đòi "ly khai", "tự trị" các tổ chức chống phá người H’Mông lưu vong. Song song với việc phát huy hiệu quả công tác dân tộc, cần lồng ghép công tác này với các nhiệm vụ chuyên môn để các cơ quan chức năng thường xuyên bám sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, không để xảy ra các "điểm nóng" về an ninh, trật tự../.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 


Trong thời kỳ quá độ, do trình độ của lực lượng sản xuất ở mức thấp, còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nên kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Phát triển nền kinh tế thị trường để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế. Phát triển nền kinh tế thị trường phải gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hạn chế những tiêu cực do mặt trái của nền kinh tế thị trường gây nên. Phương hướng này, đảm bảo cho nền kinh tế vận hành theo các quy luật khách quan của thị trường, tham gia mạnh mẽ vào thị trường quốc tế, song phải có sự quản lý của Nhà nước và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính, chính sách, nguồn lực để điều tiết nền kinh tế, ngăn chặn, đẩy lùi những ảnh hưởng, những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường; đồng thời phát huy tối đa những lợi thế, những mặt mạnh của kinh tế thị trường, phát triển mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội.

Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường

 


Vấn đề cơ bản, suy đến cùng để chủ nghĩa xã hội thành công và tạo ra nhiều của cải, đa dạng sản phẩm cho xã hội đó là phải phát triển nhanh lực lượng sản xuất. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tạo bước nhảy cho nước ta phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển như vũ bão, vai trò quan trọng của tài nguyên, môi trường, đòi hỏi phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải gắn với tăng yếu tố tri thức, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trên mọi lĩnh vực xã hội. Phải có chiến lược, giải pháp khoa học để bảo vệ tài nguyên, môi trường và khai thác hợp lý tài nguyên, các yếu tố của môi trường cho sự phát triển kinh tế.

Thành tựu qua 35 năm đổi mới tạo cả thế và lực mới cho Việt Nam vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 


Công cuộc đổi mới, kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại cùng các nguồn lực khác, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực tăng cường hợp tác, mở rộng hội nhập quốc tế đã đem lại những thay đổi to lớn, thành tựu có ý nghĩa lịch sử cho đất nước trong hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay[1]. Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh cách mạng khoa học và công nghệ có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi mọi phương diện của đời sống kinh tế - xã hội, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, Việt Nam sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 25.

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển

 


Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Là một quốc gia đa dân tộc (tộc người), việc tạo sự bình đẳng, xây dựng tinh thần đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam trực tiếp tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thực hiện đặc trưng này nhằm rút ngắn khoảng cách chênh lệch trình độ phát triển về mọi mặt, tạo sự bình đẳng trên thực tế giữa các dân tộc. Phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tính đồng thuận trong cộng đồng 54 dân tộc anh em. Chống lại âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch.

Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng thể hiện tính ưu việt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là công cụ nhà nước đủ mạnh, hợp lòng dân để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo là nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Nhà nước giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.

Đảng và Nhà nước ta chủ trương “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại... Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”[1]. Việt Nam luôn củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Tích cực đóng góp vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1,  Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 161 - 162.

Lan tỏa các tác phẩm thông tin đối ngoại để bạn bè quốc tế hiểu và yêu Việt Nam hơn

 Tối 3/12, Lễ trao Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ X sẽ diễn ra tại Nhà hát Lớn, Hà Nội. Trước thềm Lễ trao giải, đồng chí Nguyễn Quế Lâm, Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo công tác Thông tin đối ngoại Trung ương đã trao đổi với phóng viên TTXVN về các nội dung xung quanh Giải thưởng năm nay.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Trưởng Ban Tuyên giao Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa trao giải Nhất, Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ IX cho các cá nhân và tập thể. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Trưởng Ban Tuyên giao Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa trao giải Nhất, Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ IX cho các cá nhân và tập thể. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

PV: Năm 2024 là năm thứ 10 của Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại. Xin đồng chí cho biết một số đánh giá tổng quan về mùa giải thứ 10 lần này?

Đồng chí Nguyễn Quế LâmNhư chúng ta đã biết, năm 2024 đánh dấu chặng đường 10 năm hình thành và phát triển của Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại. Và cho đến nay, Giải thưởng đã khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống các giải thưởng quốc gia uy tín của Việt Nam cũng như góp phần triển khai thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong từng giai đoạn.

Giải thưởng Thông tin đối ngoại không chỉ là một giải thưởng báo chí thông thường mà còn là diễn đàn để những người yêu Việt Nam, ủng hộ Việt Nam sáng tạo và lan tỏa hình ảnh Việt Nam, giá trị Việt Nam, trí tuệ Việt Nam ra thế giới.

Với gần 1.300 tác phẩm dự thi ở 10 hạng mục, Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ X tiếp tục thu hút được sự quan tâm, tham gia từ các tác giả trong và ngoài nước.

Điểm nổi bật là hình thức thể hiện tiếp tục cho thấy sự đa dạng, hiện đại, tích cực sử dụng các phương tiện truyền thống mới (đối với các sản phẩm/tác phẩm hạng mục video clip). Các tác phẩm/sản phẩm của người nước ngoài thể hiện được tầm nhìn sâu, đánh giá khách quan, tích cực về Việt Nam trên nhiều khía cạnh.

Đặc biệt giải thưởng năm nay có các tác phẩm dự thi được thể hiện đa dạng ở nhiều ngôn ngữ, ngoài các ngôn ngữ quen thuộc như Anh, Pháp, Tây Ban Nha thì lần này có nhiều ngôn ngữ mới như Arab, Uzbekistan, Sinhala (ngôn ngữ phổ biến ở Sri Lanka)... Việc thu nhận tác phẩm thông qua phương thức gửi thư điện tử cũng đã tạo thuận lợi cho các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài gửi tác phẩm/sản phẩm tham dự Giải thưởng.

Trong số các tác phẩm tham gia Giải thưởng ở hạng mục báo in, báo điện tử tiếng nước ngoài thì TTXVN tiếp tục là cơ quan có nhiều tác phẩm gửi tham dự nhất. Điều này khẳng định vị thế đi đầu của TTXVN trong vai trò là một cơ quan báo chí đối ngoại chủ lực. Với các ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp, TTXVN có số lượng bài vượt trội, đặc biệt chất lượng. Hai giải cao ở hạng mục báo in, báo điện tử tiếng nước ngoài năm nay thuộc về TTXVN chính là sự ghi nhận cho những nỗ lực cống hiến, sáng tạo của lực lượng phóng viên báo chí TTXVN trong thực hiện công tác thông tin đối ngoại năm qua.

PV: Như đồng chí đã đánh giá, điểm nổi bật trong các tác phẩm đoạt giải năm nay là có nhiều tác phẩm có hình thức thể hiện đa dạng, hiện đại cũng như có nhiều tác phẩm của người nước ngoài phản ánh cái nhìn tích cực về Việt Nam. Xin đồng chí có thể chia sẻ cụ thể hơn về những tác phẩm như vậy?

Đồng chí Nguyễn Quế Lâm, Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo công tác Thông tin đối ngoại Trung ương trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. (Ảnh: TTXVN)

Đồng chí Nguyễn Quế Lâm, Phó Trưởng Ban Chuyên trách Ban Chỉ đạo công tác Thông tin đối ngoại Trung ương trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. (Ảnh: TTXVN)

Đồng chí Nguyễn Quế LâmVới tôi thì âm nhạc luôn là một thứ gì đó dễ chạm đến cảm xúc, đặc biệt là âm nhạc quốc tế đỉnh cao mà trước đây chúng ta thường chỉ theo dõi trên báo đài, cho đến khi IB Group khởi động chuỗi dự án âm nhạc đưa những thần tượng âm nhạc quốc tế đến Việt Nam biểu diễn như Modern Talking, Boney M, Chris Norman... và gần đây là Bond và Kenny G.

Đặc biệt là sự kiện IB Group và Báo Nhân dân ra mắt video âm nhạc được quay tại Hà Nội cho bản nhạc bất hủ “Going home”. Video này đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của khán giả trong và ngoài nước, góp phần lan tỏa những giá trị văn hóa, lịch sử, đất nước và con người Việt Nam ra thế giới, hỗ trợ phát triển du lịch Hà Nội và Việt Nam. Những hình ảnh danh thắng nổi bật nhất của Thủ đô Hà Nội đã được lựa chọn cho từng góc máy quay trong bản video đặc biệt này.

Tác phẩm thứ hai đoạt giải cao mà tôi muốn chia sẻ đó là Di tích Trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, địa điểm ra đời Tờ báo đầu tiên của nền Báo chí cách mạng Việt Nam, đó là số nhà 248-250 phố Văn Minh, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tại nơi này 100 năm trước, từ tháng 11/1924 đến tháng 5/1927, với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên Việt Nam và thành lập tờ “Thanh niên" để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin. Những năm gần đây, Bảo tàng Lịch sử Cách mạng Quảng Đông đã triển khai tu tạo, sửa chữa, nâng cấp di tích và hiện nay, bất cứ ai khi đến đây đều như cảm thấy bước vào một "Bảo tàng Hồ Chí Minh thu nhỏ" tại Quảng Châu. Năm 2024, Khu di tích cũng vinh dự được đón tiếp các đồng chí lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước ta đến tham quan. Với cách làm sáng tạo và thể hiện sự trân trọng của bạn bè Trung Quốc đối với lãnh tụ cách mạng Việt Nam, Di tích Trụ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đã được Hội đồng chung khảo Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại lần thứ X đánh giá cao là sáng kiến, sản phẩm có giá trị thông tin đối ngoại.

PV: Sau 10 lần tổ chức giải, theo đồng chí, có thể đúc kết được kinh nghiệm gì để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng và sức lan tỏa của Giải?

Đồng chí Nguyễn Quế LâmMặc dù đã đạt được những kết quả rất tích cực, song cùng với yêu cầu, nhiệm vụ mới của công tác thông tin đối ngoại trong giai đoạn mới, Giải thưởng toàn quốc về Thông tin đối ngoại cần tiếp tục đổi mới để nâng cao chất lượng hơn, đóng góp hiệu quả hơn nữa vào công tác thông tin đối ngoại cũng như thực hiện các mục tiêu chiến lược mà Đảng ta đã đề ra.

Sau 10 năm tổ chức, Giải thưởng thực sự đã tạo nên một phong trào, động lực thúc đẩy mạnh mẽ những người làm thông tin đối ngoại không ngừng sáng tạo mang đến những tác phẩm chất lượng. Giờ đây, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao chất lượng hơn nữa, lan tỏa rộng rãi ra ngoài nước, tác động mạnh mẽ hơn nữa để bạn bè quốc tế hiểu Việt Nam hơn, yêu Việt Nam hơn và đồng hành cùng Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bên cạnh các loại hình báo chí, cũng cần có thêm nhiều hình thức thể hiện truyền thông hiện đại khác, sáng tạo hơn, xúc tích hơn, đa dạng hơn, phải thực sự kể được những câu chuyện hấp dẫn, giàu cảm xúc về Việt Nam.

Tóm lại, Giải thưởng Thông tin đối ngoại cũng như công tác thông tin đối ngoại trong thời gian tới cần hết sức nỗ lực và tập trung để tuyên truyền tốt hơn nữa về cơ đồ, vị thế đất nước, đặc biệt khi chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của giàu mạnh và hạnh phúc, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!./.

Thủ tướng: Phát triển logistics là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược

 Sáng 2/12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự phiên toàn thể Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024 với chủ đề “Khu thương mại tự do, giải pháp đột phá thúc đẩy tăng trưởng logistics” do Bộ Công Thương phối hợp với UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức.

Thủ tướng Phạm Minh Chính với các đại biểu tham dự Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024. (Ảnh: TTXVN)

Thủ tướng Phạm Minh Chính với các đại biểu tham dự Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024. (Ảnh: TTXVN)

Cùng dự sự kiện có: Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên; Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Trần Hồng Minh; Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu Phạm Viết Thanh; lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước, với tổng số hơn 2.000 đại biểu dự trực tiếp và trực tuyến.

NỀN TẢNG BƯỚC ĐẦU CHO LOGISTICS VIỆT NAM PHÁT TRIỂN

Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng, hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển dịch vụ logistics gắn với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại, phát triển hạ tầng giao thông vận tải, công nghệ thông tin... đem lại giá trị giá tăng cao.

Việt Nam được đánh giá là có nhiều cơ hội để thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ logistics với hạ tầng giao thông đường bộ, cảng hàng không, cảng biển, kho bãi, hạ tầng thương mại, trung tâm logistics không ngừng được mở rộng với quy mô lớn, rộng khắp. Các dịch vụ đi kèm đã, đang đáp ứng kịp thời những yêu cầu hết sức đa dạng của thị trường.

Tốc độ phát triển ngành logistics ở Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14 - 16%, với quy mô khoảng 40 - 42 tỷ USD/năm. Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 43/155 nước về hiệu quả logistics và thuộc nhóm 5 nước dẫn đầu khu vực ASEAN.

Năm 2023, cả nước có 7.919 doanh nghiệp logistics thành lập mới; đến nay toàn thị trường có hơn 5.000 doanh nghiệp logistics. Một số doanh nghiệp đã chứng minh khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế. Việt Nam đứng đầu ASEAN về số doanh nghiệp được cấp phép vận chuyển đường biển đi và đến Hoa Kỳ.

Trong 9 tháng của năm 2024, cả nước có gần 6,5 nghìn doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký là 36,55 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 28,9 nghìn lao động, tăng 13,5% về số doanh nghiệp, tăng 18,3% về số lao động, nhưng lại giảm 11,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2023.

Nhìn chung, bên cạnh một số công ty logistics có sự tăng trưởng ổn định, ấn tượng thì các doanh nghiệp logistics nhỏ và vừa ghi nhận sự sụt giảm trong kết quả kinh doanh, thua lỗ và thậm chí rút khỏi thị trường.

Chú thích ảnh
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024. (Ảnh: TTXVN)

Thời gian qua, Việt Nam tích cực nghiên cứu về các khu thương mại tự do trên thế giới. Đây là một loại hình khu kinh tế có thể mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, góp phần thúc đẩy dịch vụ logistics. Hiện tại Việt Nam chưa có khu thương mại tự do.

Diễn đàn Logistics Việt Nam do Bộ Công Thương tổ chức hàng năm từ năm 2013 đến nay. Diễn đàn năm nay nhằm thúc đẩy doanh nghiệp logistics ứng dụng công nghệ tiến bộ, hiện đại trong việc vận hành chuỗi cung ứng; tìm giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và khu vực Đông Nam Bộ; đặc biệt tạo môi trường để liên kết giữa các doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhằm phát triển logistics Việt Nam.

Với chủ đề “Khu thương mại tự do, giải pháp đột phá thúc đẩy tăng trưởng logistics”, Diễn đàn muốn gửi đi thông điệp về việc Việt Nam khuyến khích, thu hút phát triển các khu thương mại tự do, nhằm đưa Việt Nam thành quốc gia mạnh về logistics, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tại phiên toàn thể, các đại biểu thảo luận sôi nổi về tình hình phát triển logistics; tiềm năng, thế mạnh; cơ chế, chính sách, định hướng phát triển logistics Việt Nam. Đặc biệt, các đại biểu có nhiều tham luận đề xuất định hướng phát triển logistics Việt Nam vươn mình tiến vào kỷ nguyên mới; doanh nghiệp logistics Việt Nam trước bước ngoặt thời đại; kinh nghiệm, xu hướng phát triển logistics và khu thương mại tự do - cơ hội, khuyến nghị cho ngành logistics Việt Nam…

Các đại biểu đề xuất giải pháp thúc đẩy hình thành khu thương mại tự do, cảng trung chuyển quốc tế, xây dựng đội tàu container, đội tàu bay chuyên dụng vận tải hàng hóa. Đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế, xây dựng các doanh nghiệp logistics mạnh của Việt Nam, phát triển mạnh hạ tầng giao thông, kho bãi, đổi mới công nghệ, đào tạo, nâng cao nhân lực ngành logistics, phát triển các mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực logistics. Cùng với đó là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, có chính sách khuyến khích người nước ngoài phát triển logistics Việt Nam như chính sách thuế, thị thực…

Phát biểu tại Diễn đàn, đánh giá vai trò, tiềm năng phát triển logistics, Thủ tướng nhấn mạnh, thời gian qua, nhận thức về phát triển logistics ở Việt Nam được nâng lên; khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách được tiếp tục hoàn thiện. Hạ tầng logistics phát triển nhanh với nhiều công trình lớn, hiện đại, thúc đẩy cơ cấu hợp lý, kết nối hài hòa các phương thức vận tải, bao gồm hệ thống giao thông, sân bay, cảng biển, hạ tầng điện, sóng internet; đang thúc đẩy khai thác, phát triển không gian biển, không gian vũ trụ, không gian ngầm…

Chú thích ảnh
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2024. (Ảnh: TTXVN)

Cho rằng, thể chế còn có những ràng buộc nên một số lĩnh vực như hạ tầng, mô hình hợp tác công - tư còn hạn chế, Thủ tướng cho biết, số doanh nghiệp logistics tiếp tục gia tăng. Phát triển logistics có xu hướng tích cực hơn, phát huy đa dạng các phương thức vận tải, giảm dần phụ thuộc vào vận tải bằng đường bộ; phát triển nhân lực được đẩy mạnh, nhiều chỉ số xếp hạng quốc tế về logistics của Việt Nam được cải thiện...

Ghi nhận, đánh giá cao và chúc mừng sự nỗ lực, những kết quả quan trọng về sự phát triển vượt bậc của hệ thống logistics, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của cả nước, Thủ tướng thẳng thắn chỉ rõ hạn chế, tồn tại trong phát triển như nhận thức vai trò của logistics trong việc xây dựng Việt Nam thành trung chuyển hàng hóa của thế giới còn hạn chế; chi phí logistics tại Việt Nam còn cao. Quy mô ngành logistics so với quy mô nền kinh tế, thị trường và so với thế giới còn thấp; nhân lực quản lý nhà nước về logistics còn thiếu và yếu. Doanh nghiệp logistics phát triển chưa mạnh, thiếu cơ chế; mối liên kết giữa các phương thức vận tải với kho bãi còn thiếu; chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong xử lý cả chuỗi logistics chưa nhiều…

3 MỤC TIÊU, 7 NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN LOGISTICS VIỆT NAM

Phân tích tình hình thế giới, với quan điểm “sáng tạo để bay cao, đổi mới vươn xa, hội nhập để phát triển” và xác định phát triển logistics là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên để phát triển đất nước, Thủ tướng chỉ rõ 3 mục tiêu và 7 nhiệm vụ cho phát triển logistics. Để góp phần tăng trưởng GDP của đất nước ở mức 2 con số trong năm tới, phải giảm chi phí logistics từ 18% xuống 15% trong năm 2025; nâng quy mô logistics trong GDP từ 10% lên 15%, phấn đấu đạt 20%; nâng quy mô logistics của Việt Nam trong quy mô logistics thế giới từ 0,4% lên 0,5%, phấn đấu đạt 0,6%; tốc độ tăng trưởng của ngành logistics 14-15% nâng lên 20%.

Thủ tướng chỉ rõ, phải nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của logistics trong quá trình phát triển đất nước, nhất là với Việt Nam là trung tâm của khu vực châu Á - Thái Bình Dương để khai thác tối đa tiềm năng khắc biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của đất nước. Đột phá về thể chế, hoàn thiện thể chế để ngành logistics phát triển đúng theo 3 mục tiêu, góp phần đưa đất nước đạt tăng trưởng 2 con số, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đất nước phát triển giàu mạnh và thịnh vượng. Phát triển hạ tầng logistics hiện đại, thông suốt, giảm chi phí đầu vào, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trong đó phải đẩy mạnh, phát triển hàng không, hàng hải, đường sắt tốc độ cao. Xây dựng quản trị thông minh, nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh ngoại giao logistics đồng phải đẩy mạnh, hiện đại hóa logistics trong nội địa. Xây dựng và phát triển quốc gia thương mại tự do; kết nối chặt chẽ giữa các phương thức giao thông hàng không, hàng hải, đường sắt, đường thủy nội địa và cao tốc để kết nối các khu thương mại tự do của thế giới, kết nối hệ thông giao thông quốc tế.

Chú thích ảnh
Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện nghi thức công bố Báo cáo Logistics Việt Nam 2024. (Ảnh: TTXVN)

Trên cơ sở đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành, địa phương trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ khẩn trương tập trung xây dựng quốc gia thương mại tự do; hoàn thiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam; xây dựng các khu thương mại tự do quốc tế.

Nhấn mạnh, Chính phủ với vai trò kiến tạo, tập trung xây dựng xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tạo cơ chế huy động nguồn lực, tạo môi trường phát triển và thiết kế công cụ giám sát kiểm tra, Thủ tướng yêu cầu các địa phương tăng tính chủ động, tự lực, tự cường, tự chủ trong phát triển logistics, với tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Các doanh nghiệp nâng cao tính tự chủ, tham gia đề xuất, đóng góp xây dựng thể chế, với phương châm “hài hòa lợi ích Nhà nước, người dân, doanh nghiệp; giải quyết tốt mối quan hệ thị trường, Nhà nước và xã hội, “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ".

Nêu rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới; nước ta đang thúc đẩy 3 đột phá chiến lược, tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp phát triển bền vững, Thủ tướng kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài hợp tác, đầu tư tại Việt Nam trên tinh thần “cùng lắng nghe và thấu hiểu; cùng chia sẻ tầm nhìn và hành động; cùng làm, cùng hưởng, cùng thắng và cùng phát triển”.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tin tưởng, với bước đi, nền tảng ban đầu quan trọng, ngành logistics Việt Nam sẽ hòa cùng khí thế chung của cả nước, bước vào thời kỳ phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trong đó Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những địa phương đi đầu trong phát triển logistics và năng lượng của cả nước../.

Khái niệm giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học song để làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết phải hiểu rõ giai cấp công nhân là gì? C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”[1].

Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời.

Trong quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê, giai cấp công nhân, hay các thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau: công nhân nông nghiệp, công nhân công nghiệp, công nhân cơ khí, công nhân khai khoáng… Cho dù các ông sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau song bản chất chỉ là một - đều chỉ giai cấp vô sản hiện đại hay giai cấp công nhân. Trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, Ph.Ăngghen đã viết: “tôi thường dùng những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa”[2].

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra hai tiêu chí để phân biệt giai cấp công nhân với những người lao động khác: Thứ nhất, về nghề nghiệp. Giai cấp công nhân là những lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Đây là tiêu chí cơ bản xác định rõ môi trường lao động và phương thức lao động của họ là các ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật khác nhau. Lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp ngày càng phát triển là bộ phận cơ bản, hạt nhân của giai cấp công nhân. Hiện nay, khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng với tính chất xã hội hoá ngày càng cao, cơ cấu của nền sản xuất công nghiệp có sự thay đổi. Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành sản xuất và dịch vụ mới. Cùng với công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp với trình độ kỹ thuật cao ở các dây chuyền sản xuất tự động hoá, làm cho giai cấp công nhân cũng có sự phát triển mới về nghề nghiệp. Những sự biến đổi đó không hề làm giảm giai cấp công nhân trong nền kinh tế mà trái lại càng làm cho giai cấp công nhân tăng thêm cả về số lượng và chất lượng. Bởi vậy, những người lao động trong các ngành dịch vụ mà phần lớn là dịch vụ công nghiệp vẫn là công nhân, xét về tiêu chí nghề nghiệp. Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất. Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”[3].

Với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, hiện nay, giai cấp công nhân ngày càng được trí thức hoá, nâng cao trình độ mọi mặt, đời sống của công nhân ở các nước tư bản phát triển cũng được cải thiện so với trước đây, một bộ phận công nhân đã có chút ít tư liệu sản xuất, hoặc, có bộ phận công nhân có cổ phần trong xí nghiệp… Tuy nhiên, không có nghĩa địa vị của họ trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã thay đổi, họ vẫn là giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công nghiệp. Trước kia công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu, thì nay họ bán cả lao động chân tay và lao động trí óc, thậm chí có bộ phận chủ yếu bán sức lao động trí óc như những công nhân lao động sản xuất ở những dây chuyền công nghệ cao, các lĩnh vực sáng chế, ứng dụng sản xuất công nghiệp, vì vậy, họ còn bị bóc lột giá trị thặng dư bằng những hình thức tinh vi hơn.

Khác với giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền và lãnh đạo cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới (mặc dù, ít nhiều họ còn bị bóc lột, song về hình thức và mức độ không giống như công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa), họ đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của nền sản xuất mới, cùng với nhân dân lao động hợp tác, lao động cho chính mình. Vì vậy, trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân được xác định chủ yếu bằng tiêu chí nghề nghiệp, còn tiêu chí thứ hai - địa vị trong quan hệ sản xuất mới đã có sự thay đổi căn bản, họ đã được giải phóng khỏi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Cho đến nay, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là cơ sở để luận giải và nhận diện giai cấp công nhân hiện nay.



[1] C.MácPh.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 56.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 328.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605.