Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG QUÂN ĐỘI TRƯỚC YÊU CẦU MỚI LÀ MỘT VẤN ĐỀ CẤP BÁCH HIỆN NAY

                  

Công tác tư tưởng, lý luận của Đảng trong quân đội là một bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, một mặt cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, là công tác tác động vào đối với con người, trực tiếp bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức cách mạng, phát triển đời sống tinh thần của lực lượng vũ trang phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và quân đội.

NGUY HẠI TỪ CĂN BỆNH “THỜ Ơ, VÔ CẢM, THIẾU TRÁCH NHIỆM” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY.

          

“Thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm” trước những bức xúc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân là một trong các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; “căn bệnh” nguy hại tác động sâu sắc đến niềm tin của Nhân dân với Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Vì thế, cần sớm phát hiện, điều trị triệt để “căn bệnh” này để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM XEM NHẸ ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, TUYỆT ĐỐI HÓA VAI TRÒ VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO TRONG CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI


Những năm gần đây, nhất là từ khi xảy ra xung đột Nga-Ucraine, trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh xuất hiện một số quan điểm nhấn mạnh, đề cao vai trò của vũ khí công nghệ cao trong tác chiến, coi nhẹ yếu tố con người. Thậm chí còn có quan điểm cho rằng: Chỉ có các lực lượng sở hữu vũ khí công nghệ cao mới có thể đánh thắng trong chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, dẫn đến phủ nhận giá trị của quốc phòng, an ninh truyền thống, coi nhẹ vai trò của nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân. Sự thật, có vũ khí công nghệ cao để chống lại kẻ địch là tốt, nhưng dù vũ khí hiện đại thế nào đi nữa vẫn phải do con người sử dụng, do đó, con người là yếu tố quyết định, còn vũ khí tốt sẽ nâng cao hiệu suất tác chiến. Nhưng không phải nước nào và bao giờ các nước cũng có vũ khí công nghệ cao ngang bằng nhau, vì thông thường nhiều quốc gia phải tiến hành chiến tranh bằng vũ khí, trang bị kém hơn, thậm chí là rất kém để chống lại đối phương có vũ khí công nghệ cao. Do đó, phải có đường lối xây dựng nền quốc phòng, an ninh và tiến hành chiến tranh phù hợp điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia.

NHẬN DIỆN ĐÚNG, QUYẾT TÂM CAO, BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Ở phía bên kia chiến tuyến, những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, vẫn “ngựa quen đường cũ”, tìm mọi cách để chống phá đường lối đổi mới, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Chiêu trò thâm độc nhất, nguy hiểm nhất đang được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng khai thác là viết bài, tung lên trên mạng xã hội, dưới nhiều hình thức, để cản trở công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của Nhân dân ta. Họ ra sức tuyên truyền xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng. Họ viện dẫn, đưa ra các lý do khác nhau để biện minh cho quan điểm sai trái, thù địch của họ, nào là chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ, chủ nghĩa Mác - Lênin đã “cáo chung” cùng với sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô; nào là chỉ có CNTB mới là mô hình phát triển tốt đẹp nhất, “hợp lý nhất”, Việt Nam cần học tập và đi theo.

BẢO VỆ NỀN TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY


                                                                                 

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra là dấu mốc lịch sử trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc. Đến nay, suốt 94 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 38 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 33 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn phải đối mặt với nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Không từ một thủ đoạn nào, chúng ra kích động, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng làm lung lạc niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

KIÊN ĐỊNH, ĐẤU TRANH BẢO VỆ TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI


Trong suốt quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành, Quân đội Việt Nam luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc; luôn kiên định, tuyệt đối trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề quân sự, quốc phòng.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và giáo dục, rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH BÁC BỎ CÁC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN, LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, PHỦ NHẬN NHỮNG THÀNH QUẢ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động ráo riết đẩy mạnh việc công kích, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng ta trên nhiều phương tiện truyền thông, nhất là trên internet, các mạng xã hội, như xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước trong bối cảnh thế giới có nhiều bất ổn, làm cho đất nước lâm vào tình trạng yếu thế, lạc hậu trước xu hướng bùng nổ thông tin và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, kết cấu xã hội ở Việt Nam đã có sự chuyển biến theo hướng đa dạng, nhiều tầng nấc, xu hướng dân chủ hóa ngày càng được coi trọng. Để tuyên truyền cho luận điệu thâm độc trên, các thế lực thù địch, phản động đưa ra nhiều lý lẽ mang tính chất tấn công, chống phá sau:

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CHỦ NGHĨA CƠ HỘI - CHÌA KHÓA BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

   

Chủ nghĩa cơ hội là các quan điểm phi mácxít, mang tính chất phản động trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Hiện nay trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước, khu vực và quốc tế, xuất hiện nhiều quan điểm, tư tưởng cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc rất phức tạp, rất khó nhận diện đã và đang phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đe dọa trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, nhận diện và đấu tranh loại bỏ những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội trong nội bộ đảng và trong xã hội là một tất yếu, khách quan trong sự nghiệp cách mạng của đảng ta để bảo vệ Cương lĩnh, mục tiêu, đường lối, những thành quả của cách mạng Việt Nam.

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2025

 KHI NÀO MỚI TỈNH NGỘ..


Volodymyr Zelensky là cái tên tạo ra “lịch sử” cho Ukraine vốn xuất thân là diễn viên hài đắc cử Tổng thống với tỉ lệ chưa từng có kể từ khi quốc gia này độc  lập. Zelensky chiến thắng ở vòng thứ hai cuộc bầu cử với 73,22% phiếu bầu so với tổng thống đương nhiệm Poroshenko thu được 24,45% phiếu bầu.


Lịch sử Ukraine chưa từng ghi nhận một diễn viên hài nào lại giữ vị trí quan trọng như vậy trong chính phủ. Từ cuộc đời của Zelensky tới chiếc ghế Tổng thống thuộc hàng “vô tiền khoáng hậu” độc nhất vô nhị trên thế giới. Đất nước Ukraine đã trải qua nhiều biến động thăng trầm từ khi tách khỏi Liên bang Xô Viết. Dưới sự xúi giục, chống phá thông qua truyền thông phương Tây, Ukraine đã dứt áo ra đi, họ quay ngoắt lại với chủ nghĩa cộng sản và mơ về một giá trị phương Tây, một nền dân chủ kiểu Mỹ.


Có thể nói trong bối cảnh rối ren, loạn lạc của đất nước Ukraine, truyền thông phương Tây đã làm quá tốt, biến một anh hề của Ukraine trở thành tổng thống. Một người trẻ tuổi, không dính dáng gì tới chính trị, không có kinh nghiệm chính trường, đang hoạt động trong làng giải trí lại đường hoàng bước lên chức vụ cao nhất của một quốc gia với 70% phiếu bầu chỉ với một bộ phim : “Слуга народу (Đầy tớ của nhân dân). Truyền thông phương Tây đã xây dựng hình ảnh anh hề đủ sức lãnh đạo đất nước Ukraine vượt qua trì trệ sau cuộc cách mạng đường phố Euromaidan. Nhưng “đời không như là mơ”, anh hề đã nhận ra rằng làm chính trị khó hơn làm nghệ thuật; không đủ sức, đủ tầm để chèo lái chính trường Ukraine vượt qua sóng gió mà càng khiến đất nước mình ngày càng phải trả giá nhiều hơn.


“Công lao” của Zelensky sẽ được lịch sử Ukraine nghiên cứu sau nhiều thế hệ nữa. Trước năm 2014, Ukraine là một quốc gia thịnh vượng, giàu tài nguyên với dân số 45 triệu người. “Giấc mộng NATO” và “Vườn địa đàng EU” đã khiến cho đất nước hoang tàn, đổ nát; đầu rơi máu chảy, dân số chỉ còn một nửa. Trên một triệu người đã thiệt mạng trong cuộc chiến với Nga, hàng triệu người không nhà cửa đã từ bỏ đất nước tha phương cầu thực. Đất nước Ukraine không biết đi về đâu trong sự toan tính của các nước lớn. Nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có có nguy cơ rơi vào tay kẻ khác; nợ quốc gia chồng chất 10 thế hệ sau này còng lưng mà trả; kinh tế kiệt quệ, đào đâu ra hàng ngàn tỷ USD để mà tái thiết đất nước sau này.


Thật tiếc thương đau xót cho giấc mơ Mẽo của “anh Hề”; không biết khi nào mới tỉnh ngộ./.

 PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CÁO BUỘC VIỆT NAM ĐÀN ÁP XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ VI PHẠM HIỆP ĐỊNH EVFTA

Tiếp tục lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, vừa qua, trên trang voatiengviet đã đăng tài bài viết với tiêu đề “Nhóm nhân quyền: Việt Nam đàn áp XHDS có hệ thống, vi phạm hiệp định EVFTA”. Bài viết đưa ra các luận điệu xuyên tạc về việc chính quyền Việt Nam đàn áp các nhà bảo vệ nhân quyền và vi phạm nghiêm trọng các điều khoản của Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA). Những luận điệu trong bài viết này hoàn toàn bịa đặt, nhằm mục đích lôi kéo, kích động, gây bất ổn, chia rẽ trong xã hội Việt Nam. 

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chế độ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự.

Trước hết, các cáo buộc liên quan đến việc đàn áp các nhà bảo vệ nhân quyền không đặt trong bối cảnh thực tế của Việt Nam. Các đối tượng bị giam giữ không phải vì họ hoạt động “ôn hòa” như các tổ chức quốc tế mô tả, mà chủ yếu là do hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm kích động bạo loạn, tuyên truyền chống đối chính quyền, hay thậm chí là tham gia vào các hoạt động có xu hướng phá hoại ổn định xã hội. Ví dụ, trường hợp của Đặng Đình Bách mang danh luật sư, người bị bắt vào tháng 5 năm 2023 và sau đó bị kết án vì có liên quan đến các tổ chức phản động và tuyên truyền chống nhà nước là một điển hình. Đặng Đình Bách không chỉ viết bài phản đối chính quyền mà còn liên kết với các thế lực thù địch trong và ngoài nước, làm tổn hại đến uy tín và an ninh quốc gia. Điều này, hoàn toàn khác biệt với việc "đấu tranh cho nhân quyền", mà là hành vi xâm phạm lợi ích quốc gia. 

Liên quan đến Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA), việc các tổ chức quốc tế yêu cầu EU “ràng buộc” Việt Nam chịu trách nhiệm về những vi phạm nhân quyền cũng cần được xem xét một cách thận trọng. EVFTA không chỉ là một hiệp định thương mại đơn thuần, mà còn bao gồm các cam kết về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và quyền lao động. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam đã thực hiện nhiều bước tiến lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, cải thiện môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững. Việt Nam đã ký kết và thực thi các công ước quốc tế về quyền lao động, bao gồm việc cam kết cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Việt Nam cũng đã tiến hành các cải cách về môi trường, với mục tiêu hướng tới phát triển bền vững trong các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng. Một số tổ chức quốc tế thiếu thiện cảm, có cái nhìn sai lệch không chỉ trích Việt Nam về một số vấn đề cụ thể và thường bỏ qua hoặc làm ngơ trước những bước tiến quan trọng mà Việt Nam đã đạt được. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện các biện pháp cải cách và điều chỉnh các chính sách để đảm bảo việc phát triển kinh tế không đi ngược lại với các quyền con người và môi trường. Chính sách bảo vệ quyền lợi người lao động, xóa đói giảm nghèo, cải thiện cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế xã hội luôn có sự phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng là minh chứng rõ ràng cho những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế.

Các cáo buộc về việc “thu hẹp không gian xã hội dân sự” hay “giám sát quyền tự do ngôn luận” ở Việt Nam cũng cần phải được nhìn nhận một cách khách quan. Việt Nam luôn đảm bảo quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật. Việt Nam không cấm quyền tự do ngôn luận hay quyền hội họp ôn hòa. Điều này, hoàn toàn khác biệt với các cáo buộc của các tổ chức quốc tế, khi họ cho rằng Việt Nam hạn chế quyền của các tổ chức xã hội dân sự. Thực tế, Việt Nam có một hệ thống tổ chức xã hội phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người lao động, bảo vệ môi trường, hỗ trợ người nghèo và thực hiện các hoạt động từ thiện. Những tổ chức này hoạt động dưới sự giám sát của Nhà nước, đảm bảo rằng các hoạt động của họ không vi phạm pháp luật và góp phần xây dựng xã hội.

Về phần EU, trong khi họ kêu gọi chính quyền Việt Nam cải thiện nhân quyền, điều quan trọng là họ cần phải có cái nhìn công bằng, khách quan, công tâm và toàn diện hơn về tình hình Việt Nam. Việc chỉ trích Việt Nam dựa trên những cáo buộc đơn phương, thiếu căn cứ và không phản ánh đúng tình hình thực tế sẽ dẫn đến những hệ lụy và hiểu lầm nghiêm trọng trong xã hội. Thực tế, Việt Nam đã và đang thực hiện các bước đi thiết thực để cải thiện nhân quyền, môi trường và quyền lao động, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức trong việc duy trì ổn định chính trị và phát triển kinh tế.

Từ những thực tế trên cho thấy, những luận điệu mang tính chất thù địch, phản động là hoàn toàn vô căn cứ, là những cái nhìn lệch lạc với mục đích phá hoại nền chính trị tại Việt Nam. Do đó, chúng ta cần có nhận thức đúng đắn và đồng hành cùng Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự đồng lòng của toàn xã hội sẽ là sức mạnh giúp vượt qua mọi thách thức, khẳng định vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển.



CÂU CHUYỆN THẬT XÚC ĐỘNG

 ️

Nhà báo Lê Bá Dương: "Tôi không dám bước mạnh, sợ chân mình giẫm đau đồng đội. Mỗi tấc đất chốn này đều có xương thịt bạn tôi nằm lại!".

Từng là một chiến sĩ chiến đấu trên mặt trận Quảng Trị những năm b.o.m đ.ạ.n ác liệt nhất, không năm nào nhà báo Lê Bá Dương không về thăm lại chiến trường xưa. Cứ hễ bước chân vào Thành cổ, trên khuôn mặt người cựu chiến binh nước mắt lại trào. Tụt giày, cởi tất, ông cứ chân trần bước thật nhẹ vào thành. Tâm trạng của ông cũng chính là tâm trạng của tất cả những người đã từng đi qua c.hiến t.ranh. Với họ, Thành cổ Quảng Trị là một mảnh đất thiêng để hành hương. Trên Đài tưởng niệm dựng trong Thành cổ, khói hương không bao giờ tắt.

Sưu tầm

Nữ Đại tá tình báo giỏi nhất Việt Nam, được đặt tên cho 2 con đường

 

Bà Đinh Thị Vân (1916-1995), tên thật là Đinh Thị Mậu, sinh ra tại làng Đông An, tổng Cát Xuyên, huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường, nay là làng Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Vì bố mất sớm nên anh em và được ông nội Đinh Mẫn Cấp nuôi nấng và dạy dỗ nên người. Bà Đinh Thị Vân là Đại tá, nhà tình báo nổi tiếng Việt Nam được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Vào năm 17 tuổi, dưới sự vận động của 2 người anh cùng cha khác mẹ là Đinh Lai Hạp và Đinh Thúc Dự (đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương) đã tham gia hoạt động cách mạng. Lúc này, bà Vân được cấp trên giao cho nhiệm vụ giao thông liên lạc, cất giữ tài liệu bí mật của Đảng, bà tham gia tổ chức nhóm “Ái hữu tương tế”, nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ cách mạng hoạt động tại địa phương.

Lý do vì sao bà được gọi là bà Vân thay vì tên thật là Đinh Thị Mậu xuất phát từ tên người chồng của bà. Trong khoảng thời gian thực hiện nhiệm vụ trên, bà đã kết hôn với một người cùng quê sau khoảng thời gian cả hai cùng tìm hiểu.

Vào tháng 8/1945, bà là cán bộ Việt Minh huyện Xuân Trường, tích cực vận động dân chúng tham gia tổng khởi nghĩa ở hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, bà tham gia công tác xây dựng chính quyền mới ở huyện Xuân Trường.

Bà Đinh Thị Vân được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào ngày 30/6/1946, sau đó bà giữ các chức vụ Huyện ủy viên huyện Xuân Trường, Ủy viên ban Thường vụ Phụ nữ cứu quốc tỉnh Nam Định, Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Nam Định (1951-1953).

Vào những năm c.hiến tr.anh quyết liệt đó, bà Đinh Thị Vân đã xây dựng mạng lưới tình báo tinh nhuệ mang lại nhiều chiến công ngoài sức tưởng tượng cho quân ta như điều tra tỉ mỉ hệ thống phòng ngự của quân đội Sài Gòn ở Nam vĩ tuyến 17 trong giai đoạn 1959 - 1960.

Trong thời điểm này, quân ta mở đường Trường Sơn vào Nam, nên cần hiểu rõ về sự bố phòng của quân đội Sài Gòn ở nam vĩ tuyến 17 đồng thời tìm hiểu xem đối phương đã biết những gì về việc quân ta xuất hiện ở Hạ Lào. Trọng trách này được giao cho đồng chí Đinh Thị Vân.

Một số chiến công tiêu biểu mà Nhà tình báo Việt Nam Đinh Thị Vân và mạng lưới của mình đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như: Thông tin kịp thời về việc Mỹ sẽ đổ quân vào Nam Việt Nam sau khi chiến lược c.hiến tr.anh đặc biệt thất bại; Biết trước được kế hoạch của cuộc hành quân Junction City (Gian-Xơn-Xi-Ty) giúp quân ta chủ động đối phó làm thất bại âm mưu của chúng; Bà là người dẫn dắt nhiều thế hệ tình báo cũng như lực lượng không quân Việt Nam;…

Bà Đinh Thị Vân được Nhà nước Việt Nam thưởng rất nhiều các danh hiệu bao gồm Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, 2 Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng...

Sau này, Nữ Đại tá tình báo giỏi nhất Việt Nam Đinh Thị Vân sống một cuộc đời bình dị, bà được bà con nhân dân ở địa phương ngưỡng mộ và yêu mến. Ngày 12/11/1995, bà Đinh Thị Vân từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Tên bà được đặt tên cho một đường phố tại phường Hạ Long, thành phố Nam Định và một con đường tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Câu chuyện về nữ Đại tá tình báo Đinh Thị Vân như một bài học về sự kiên cường, không bao giờ bỏ cuộc trong những hoàn cảnh khổ cực và nguy hiểm nhất, đồng thời bà mãi luôn là một tấm gương sáng của người cách mạng để thế hệ trẻ noi theo.

Bà Đinh Thị Vân vẫn luôn sống mãi trong lịch sử ngành tình báo quốc phòng Việt Nam.

Sưu tầm

“THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY”

 

"Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".

Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị quân th.ù tr.eo c.ổ, khi anh vừa thoát khỏi cái ch.ết do bệnh th.ương h.àn ở công trường Bayarka.

Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.

Trước đây, nhà văn Ilia Erenbua đã từng coi "Thép đã tôi thế đấy" là Thánh kinh mới của thanh niên Xô-viết. Nó là cuốn sách gối đầu giường của nữ anh hùng Liên Xô Zoya, của Lý Tự Trọng, người thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuốn sách đã được nhà báo Thép Mới (báo Nhân Dân) và Huy Vân dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1954 và từ đó đến nay đã làm say mê hàng triệu trái tim tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ thanh niên./.

St

ANH HÙNG LIỆT SĨ PHAN ĐÌNH GIÓT - GƯƠNG ANH SÁNG MÃI

 ️

Phan Đình Giót là Tiểu đội trưởng đơn vị bộc phá của Đại đội 58 thuộc Tiểu đoàn 428 (Trung đoàn 141, Đại đoàn 312), có nhiệm vụ phá tung hàng rào kẽm gai và bãi mìn bao quanh cứ điểm 2 của trung tâm đề kháng Him Lam để mở cửa cho lực lượng xung kích tiến vào tiêu diệt địch. Sau khi đồng đội lần lượt bị thương, anh đã lấy ống bộc phá trong tay đồng đội rồi luồn qua làn đ.ạ.n, phá nốt hàng rào thứ 8, hàng rào cuối cùng của cứ điểm.

Nhưng đơn vị xung kích vừa xông lên thì hỏa điểm đ.ịch bất ngờ xuất hiện b.ắn chặn dọc cửa mở, khiến nhiều chiến sĩ ta thương vong, số còn lại phải nằm ép mình xuống đất, không cách nào lên được. Trong tình huống đó, Phan Đình Giót đã trườn lên ném lựu đ.ạ.n vào họng súng đang tuôn đ.ạ.n đỏ rực. Lựu đ.ạ.n nổ nhưng địch từ trong lô cốt vẫn bắn ra. Dù đã bị thương, Phan Đình Giót vẫn tiếp tục bò lên, lết mình đến cạnh lỗ châu mai, kề tiểu liên b.ắn vào trong lô cốt. S.ú.n.g địch ngừng một lúc rồi lại tiếp tục khạc lửa. Hết cả đ.ạ.n tiểu liên và lựu đạn, thương tích đầy mình, Phan Đình Giót cố sức rướn mình lên cao, lấy thân mình bịt lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đồng đội xông lên diệt địch, giành thắng lợi trong trận mở màn chiến dịch.

Phan Đình Giót được truy tặng danh hiệu Anh hùng quân đội. Anh yên nghỉ trong nghĩa trang liệt sĩ dưới chân đồi A1 cùng với Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn...

Trích: Điện Biên Phủ - Những trang vàng lịch sử.

St

PHIÊN BẢN GỐC VỀ “CHÚ BÉ LƯỢM” ĐÃ ĐƯỢC TÌM THẤY

 Năm 2024, sau một chiến dịch truy tìm danh tính thật của các nhà báo, cuối cùng danh tính của chú bé Lượm đã được tìm thấy. Đó chính là liệt sĩ Nguyễn Thanh, tên thường gọi là Nguyễn Văn Lượm (1932-1947). Đi cùng với đó là câu chuyện bi tráng phía sau sự hi sinh của người chiến sĩ nhỏ tuổi...

Theo “Tờ nhận tự khai”, Năm 1945 đến 1946, Lượm hoạt động tại Nha Trang và thoát ly từ ngày ấy. Nhưng phải mãi đến khi đất nước thống nhất vào năm 1975, bằng Tổ quốc ghi công mới về với gia đình và được in từ ngày 5/5/1958, đề tên liệt sĩ Nguyễn Văn Lượm. 

Lượm hi sinh năm 1947, nhưng phải tới 11 năm sau mới có Bằng chứng nhận và phải tới tận 28 năm sau gia đình mới được cầm tận tay tấm bằng, do khi đó họ đang sinh sống tại Phan Rang - Tháp Chàm ở trong miền Nam bị chia cắt...

Trong suốt khoảng thời gian đó, cha Lượm, ông Nguyễn Tuất, khuya nào cũng mở đài nghe một cách chăm chú vì muốn cập nhật tin tức từ các chiến trường, ngóng một hi vọng là Lượm sẽ trở về bình anh. Thấy vậy vợ ông nói: “Trên trời máy bay quần miết, ông nghe chi đài mà nghe hoài”, ông thủng thẳng: “Tôi có việc tôi phải nghe”. 

Nhưng, ngày tấm Bằng tổ quốc ghi công theo tay chú Nguyễn Trọng Quảng về với gia đình, 28 năm hi vọng ngày Lượm về của ông và gia đình sụp đổ..."Ông lặng đi không nói được lời nào. Ông là người Huế, tính tình điềm đạm, ít nói, ít khi thổ lộ tình cảm. Ông đau xót lắm, nhưng ông nuốt nỗi đau vào trong” - Bà Nguyễn Thị Hiền - là em gái của liệt sĩ Lượm, kể lại trong nước mắt.

Điều đặc biệt nữa, thông qua điều tra gia phả của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân, Nhà thơ Tố Hữu - tức Nguyễn Kim Thành, là bác họ của liệt sĩ Lượm. Nhưng kể từ khi làm bài thơ về Lượm, 53 năm ròng rã nhà thơ đã không nhắc một điều gì về người cháu là anh hùng liệt sĩ đã trở thành bất tử nhờ chính ngòi bút của mình. Phải đến năm 2000, trước sự mong mỏi của Hội Nhà văn Việt Nam, ông mới có những chia sẻ về cháu mình:“Một đồng chí ở Thừa Thiên ra kể cho tôi nghe những tấm gương chiến đấu dũng cảm ở quê nhà và cho tôi biết tin về cháu Lượm. Nó là con của chú em họ tôi. Từ Cách mạng tháng Tám, nó đã về với tôi ở Huế và cùng một số bạn nhỏ tự nguyện theo các chú bộ đội. Nó đi liên lạc cho đơn vị và trong khi đưa thư qua một cánh đồng, cháu bị t.r.ú.n.g đ.ạ.n, h.i s.i.n.h khi mới 14 tuổi. Anh em trong đơn vị thương tiếc nó như con, em của mình. Thế là Lượm đã ngã xuống như Kim Đồng và bao bạn nhỏ dũng cảm khác. Tôi viết bài thơ “Lượm”, cảm thấy như còn đâu đây dáng điệu thật dễ thương và khuôn mặt còn trẻ con nhưng rất cứng cỏi của nó...

Theo lời người bạn kể, sau loạt đ.ạ.n của quân thù, Lượm ngã xuống, vẫn nguyên vẻ ngây thơ của chú thiếu niên… Tự nhiên, tôi khẽ thốt lên: “Lượm ơi, còn không?” Không! Những anh hùng, dù nhỏ tuổi như cháu, không bao giờ ch.ế.t. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta có rất nhiều dũng sĩ thiếu niên như cháu Lượm càng ngày càng nhiều không thể nào đếm xuể, không thể nào biết hết. Có lẽ đó cũng là một đặc trưng, một niềm tự hào lớn của dân tộc ta vốn có truyền thống lâu đời như Trần Quốc Toản ngày xưa vậy”.

-----

ĐỀ ÁN SÁP NHẬP TỈNH, BỎ CẤP HUYỆN TRÌNH TRUNG ƯƠNG VÀO THÁNG 4 - 2025.


Đề án, tờ trình về sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã sẽ được trình Ban Chấp hành Trung ương vào tháng 4 tới đây, theo kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Nội dung về đề án sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện trình Trung ương vào tháng 4 tới đây, được đề cập trong Kết luận số 127 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, do Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành ngày 28/2/2025.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức Đảng tập trung thực hiện tốt việc nghiên cứu định hướng sáp nhập một số đơn vị cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập một số đơn vị cấp xã; thực hiện mô hình địa phương 2 cấp (tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể) bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. 

Việc nghiên cứu này phải tiến hành khách quan, dân chủ, khoa học, cụ thể, sâu sắc, cầu thị, sát đúng với tình hình thực tiễn; khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực, tổ chức trung gian cồng kềnh; bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nêu rõ.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải xác định quyết tâm chính trị cao nhất, triển khai thực hiện theo phương châm "vừa chạy vừa xếp hàng" để hoàn thành công việc với khối lượng rất lớn, đòi hỏi cao về chất lượng, tiến độ để trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào trung tuần tháng 4/2025.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư lưu ý, các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ cần phối hợp chặt chẽ, kịp thời, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và tiến độ thực hiện. 

Quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy phải bảo đảm hoạt động thường xuyên, liên tục của các cơ quan, tổ chức, không gián đoạn, không ảnh hưởng đến các hoạt động của Đảng, Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Song song là tập trung quán triệt, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, chủ động tham gia các nội dung, nhiệm vụ liên quan, nhất là quan tâm công tác tuyên truyền, định hướng tư tưởng và dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp Nhân dân.

Tạm dừng tổ chức đại hội Đảng bộ cấp xã, cấp huyện

Đảng uỷ Chính phủ được giao chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Đảng uỷ Quốc hội, Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và các cơ quan liên quan chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng đề án, tờ trình Bộ Chính trị về sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã.

Trong đó, Bộ Chính trị nêu rõ, với cấp tỉnh, ngoài căn cứ về quy mô dân số, diện tích, cần nghiên cứu kỹ quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch địa phương, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, mở rộng không gian phát triển, phát huy lợi thế so sánh, đáp ứng yêu cầu phát triển đối với từng địa phương và yêu cầu, định hướng phát triển của giai đoạn mới làm cơ sở, căn cứ khoa học trong sắp xếp.

Với cấp xã, cần xác định rõ các mô hình chính quyền địa phương cấp xã đối với khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, hải đảo, quy mô dân số, diện tích, lịch sử, văn hoá, các vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo... Xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, định biên của chính quyền địa phương cấp xã. 

Đề án, tờ trình về sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, tiếp tục sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã cũng phải làm rõ mối quan hệ công tác giữa các cấp chính quyền địa phương (giữa cấp tỉnh và cấp xã).

Mối quan hệ công tác theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp xã (giữa bộ, ngành Trung ương, các sở chuyên ngành và đơn vị, cá nhân phụ trách theo lĩnh vực), bảo đảm hoạt động thuận lợi, đồng bộ, liên thông, hiệu lực, hiệu quả; xác định rõ các điều kiện bảo đảm để chính quyền cấp xã hoạt động hiệu quả trước, trong và sau khi sắp xếp.

Kết luận  của Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng nêu rõ tiến độ thực hiện. Theo đó, Đảng uỷ Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị cho chủ trương trước khi xin ý kiến các cấp uỷ, tổ chức Đảng chậm nhất ngày 09/3/2025.

Tiếp thu ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thì hoàn thiện đề án gửi xin ý  kiến các tỉnh uỷ, thành uỷ, Đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các cơ quan, tổ  chức, ban Đảng Trung ương chậm nhất ngày 12/3/2025.

Sau đó, tiếp thu ý kiến góp ý của các tỉnh uỷ, thành uỷ, Đảng uỷ trực thuộc  Trung ương, các cơ quan, tổ chức, ban Đảng Trung ương, hoàn thiện đề án, báo  cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước ngày 27/3/2025.

Đảng ủy Chính phủ tiếp thu ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ý kiến các cơ quan, hoàn thiện đề án, tờ trình; trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng (qua Ban Tổ chức Trung ương) trước ngày 7/4/2025.

Đại hội Đảng bộ cấp xã, cấp huyện tạm dừng tổ chức. Sau Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị sẽ có chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, xây dựng đề án về hệ thống tổ chức Đảng ở địa phương (cấp tỉnh và cấp xã). Trong đó, tập trung nghiên cứu mô hình hệ thống tổ chức Đảng đồng bộ, tương ứng với tổ chức chính quyền; đẩy mạnh nâng cấp, giao quyền cho tổ chức Đảng ở cơ sở).

Ban Tổ chức Trung ương báo cáo Bộ Chính trị cho chủ trương theo tiến độ chung (gửi xin ý kiến các tỉnh uỷ, thành uỷ, Đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các cơ quan, tổ chức, ban Đảng Trung ương chậm nhất ngày 12/3/2025).

Ban Tổ chức Trung ương cũng được giao tổng hợp đề án, tờ trình về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các cấp chính quyền địa phương của các cơ quan, đơn vị và các nội dung liên quan; xây dựng báo cáo tổng thể; báo cáo Bộ Chính trị trước ngày 07/4/2025; tiếp thu, hoàn thiện, gửi trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước ngày 09/4/2025./.

MỨC ÁN ĐỐI VỚI TỘI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƯỚC

 

Tội tuyên truyền chống nhà nước được quy định định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo đó mức án người phạm tội có thể phải chịu là phạt tù từ 3 năm đến hai mươi năm.

“Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.”

Tuy nhiên sang đến Bộ luật Hình sự 2015 thì hành vi tuyên truyền chống Nhà nước được quy định cụ thể tại Điều 117 với tên gọi là tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

“Điều 117. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy, ở cả Luật cũ (BLHS 1999) và luật mới (BLHS 2015) thì hành vi tuyên truyền chống nhà nước sẽ phải chịu mức hình phạt từ 3 năm đến 20 năm tù./.


CÁC QUAN ĐIỂM VỀ NHÂN QUYỀN, QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VỚI NHÂN QUYỀN VÀ VẤN ĐỀ LỢI DỤNG NHÂN QUYỀN CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

 

Dân chủ và nhân quyền (quyền con người) là hai chế định gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhân quyền vừa là nền tảng, vừa là lý tưởng của dân chủ; ngược lại dân chủ là điều kiện để thực thi nhân quyền, là thể chế chính trị bảo đảm và thực thi quyền con người. Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh tiến bộ về quyền con người, dân chủ phát triển càng cao thì quyền con người càng được khẳng định. Nhân quyền (quyền con người) là một phạm trù chính trị, lịch sử, pháp lý, xã hội và là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nên luôn có các cách hiểu khác nhau, từ khái niệm, nội dung đến cách thức thực hiện. Với việc thông qua Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, lần đầu tiên trong lịch sử, quyền con người được thừa nhận và bảo vệ một cách rộng rãi. Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thì: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”(5). Luật Nhân quyền quốc tế cũng chỉ ra nghĩa vụ của quốc gia và các chủ thể nghĩa vụ khác phải có trách nhiệm thực thi việc bảo đảm và ngăn ngừa sự vi phạm. Như vậy, Liên hợp quốc chủ yếu đề cập đến khía cạnh pháp lý của quyền con người, đó là những bảo đảm về pháp lý trong bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người. Các quan điểm theo lập trường tư sản nhấn mạnh thái quá khía cạnh quyền con người là quyền tự nhiên, “bẩm sinh”, nghĩa là con người sinh ra đã có các quyền; quyền con người là những nhu cầu cơ bản của con người, xuất phát từ phẩm giá vốn có của mỗi người; con người sở dĩ có các quyền và tự do đơn giản chỉ vì họ có những phẩm chất tự nhiên của con người. Như vậy, quan điểm tư sản cho rằng quyền con người là quyền vốn có được trao cho mỗi cá nhân mà không dựa trên bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, dân tộc, xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác. Với quan điểm như vậy, các nước phương Tây đã tuyệt đối hóa tính phổ biến của nhân quyền, coi nhân quyền là cao nhất, là không có thời gian, không gian, biên giới. Cho nên, ở đâu họ cho là có vi phạm nhân quyền thì ở đó họ sẽ tiến hành các hoạt động can thiệp.

Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin thì quyền con người là quyền của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ(6). Trong lĩnh vực pháp luật, quyền con người được phân thành 2 nhóm chính, đó là nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhân quyền được hình thành từ hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội. Quyền con người mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhưng không phải tự nhiên mà có, mà đó là thành quả của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội, lịch sử phát triển loài người. Nhân quyền có các đặc trưng: là sản phẩm của sự phát triển lịch sử; là những giá trị gắn với con người với tư cách cá nhân, đồng thời với tư cách là thành viên của cộng đồng, xã hội; được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế; là tổng thể các quyền mặc nhiên cơ bản của con người, thể hiện nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người.

Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu ra trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người. Nhà nước Việt Nam luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”(7).

Việt Nam quan niệm quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác. Các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cả cộng đồng là cách đề cập phiến diện. Do sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, nên mỗi quốc gia có cách tiếp cận khác nhau về quyền con người. Không nước nào có quyền sử dụng, lợi dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác.

Trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng hiện nay, nhân quyền luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng, chính trị hóa để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch sử dụng chính sách “ngoại giao nhân quyền” để áp đặt tiêu chuẩn, “xuất khẩu” nhân quyền phương Tây trên phạm vi toàn cầu thông qua luận điểm về “giá trị phổ quát” của nhân quyền. Họ thường áp đặt các giá trị dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cho các nước khác trên tất cả các lĩnh vực, như xây dựng, thực thi pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển “xã hội dân sự” nhằm tạo đối trọng với chính phủ.

Lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam luôn là một trong những hoạt động nguy hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “an ninh con người cao hơn an ninh quốc gia”, “nhân quyền không có biên giới quốc gia”, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”. Dân chủ, nhân quyền đang là “cái cớ”, “vỏ bọc” cho các hành động can thiệp, gây sức ép thúc đẩy sự thay đổi chính trị ở Việt Nam của các thế lực thù địch, đồng thời là một khẩu hiệu, ngọn cờ để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, tạo ra các khuynh hướng dân chủ cực đoan, tập hợp lực lượng chống đối, biểu tình, tiến tới các hoạt động khủng bố, bạo loạn, lật đổ. Thực tế diễn biến chính trị ở một số nước trên thế giới trong những năm gần đây cho thấy, phần lớn sự mất ổn định chính trị, xã hội đều xuất phát từ nhận thức lệch lạc về dân chủ, nhân quyền và âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, hiểu đúng về dân chủ, nhân quyền và bản chất của việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền, giúp nâng cao cảnh giác cách mạng, đồng thời có cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền./.

Theo LÊ THÁI SƠN


CÁC TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CHỦ VÀ VẤN ĐỀ ÁP ĐẶT VÔ CĂN CỨ GIÁ TRỊ DÂN CHỦ TƯ SẢN VỚI CÁC NƯỚC KHÁC

 

Thuật ngữ “dân chủ” ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII trước công nguyên. Về mặt ngữ nghĩa, ngôn ngữ Hy Lạp cổ dùng thuật ngữ “demokratos” để diễn đạt dân chủ, trong đó “demos” là nhân dân và “kratos” là quyền lực. Theo cách diễn đạt này, dân chủ trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu là quyền lực thuộc về nhân dân hoặc quyền lực của nhân dân. Cách hiểu trên cơ bản được giữ nguyên cho đến ngày nay. Theo đó, dân chủ là một khái niệm dùng để chỉ quyền làm chủ của nhân dân, phản ánh mối quan hệ giữa nhân dân và quyền lực nhà nước, trong đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

“Dân chủ” không phải là khái niệm bất biến mà là một phạm trù chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu nhà nước trong những điều cụ thể nhất định. Bởi vậy, khái niệm “dân chủ” có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm “chế độ dân chủ” và “nền dân chủ”. “Chế độ dân chủ” dùng để chỉ thiết chế xã hội nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân; còn khái niệm “nền dân chủ” dùng để chỉ hệ thống các thiết chế được xác lập và thực thi trong hiện thực xã hội theo mục tiêu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội đó. Biểu hiện của một chế độ dân chủ thường bao gồm bốn yếu tố chính: Có một hệ thống chính trị mà việc lựa chọn và thay thế các chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng; bảo đảm sự tham gia tích cực của công dân trong chính trị và đời sống dân sự; bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm pháp quyền, trong đó tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không ai đứng trên luật pháp. Có 2 phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, theo đó quyền làm chủ của các thành viên trong tổ chức, cộng đồng hay xã hội đó được thực hiện một cách trực tiếp do chính bản thân các thành viên đó. Dân chủ đại diện là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, chủ yếu trong tổ chức của các cơ quan đại biểu, cơ quan quyền lực nhà nước, theo đó quyền làm chủ của các thành viên xã hội được thực hiện thông qua các đại diện của họ được bầu chọn hoặc chỉ định trong số các thành viên. Trong thực tiễn, quyền làm chủ của nhân dân đôi khi được thực hiện kết hợp cả hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, dân chủ là một phạm trù có quá trình phát sinh, phát triển rất phức tạp. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, mỗi thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc, dân chủ luôn có những nét đặc trưng trên cơ sở kế thừa biện chứng những điểm chung được nêu ở trên. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, xét về bản chất chính là dân chủ của giai cấp chủ nô. Trong chế độ phong kiến, các tư tưởng và mô hình dân chủ bị hạn chế, cấm đoán bởi chế độ tập quyền chuyên chế khi quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một đấng quân vương. Nền dân chủ tư sản được xác lập do cuộc cách mạng tư sản dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp tư sản với các giai cấp khác lật đổ chế độ phong kiến. Vì vậy, những thành tựu giành được của nền dân chủ tư sản không chỉ do riêng giai cấp tư sản tạo ra, mà là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động, kết quả của quá trình nhận thức và tất yếu của tiến bộ xã hội. Những tuyên bố về tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những nội dung đầu tiên của dân chủ tư sản. Tuy nhiên, với bản chất của xã hội tư sản, nền dân chủ tư sản không tránh khỏi những hạn chế khách quan. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của nhân dân lao động (dân chủ nhân dân) được thể hiện trong mọi lĩnh vực chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội. Nó được hình thành và phát triển bằng toàn bộ những giá trị văn hóa chân thực của nhân loại. Xã hội càng phát triển, điều kiện vật chất, trí tuệ, tinh thần của con người ngày càng phong phú thì xu hướng dân chủ càng mở rộng và được khẳng định mạnh mẽ.

Học thuyết Mác - Lê-nin quan niệm: “chế độ dân chủ là chế độ thống trị của đa số đối với thiểu số (chứ không phải trái lại, như bọn tư bản vẫn mong muốn)”(1). Hình thức của nền dân chủ là đa dạng, không có mô hình dân chủ chung cho mọi quốc gia, dân tộc. Mức độ tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội phản ánh trình độ phát triển của nền dân chủ, những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng chủ yếu: Là nền dân chủ phát triển ở trình độ cao nhất trong lịch sử, một chế độ dân chủ rộng rãi nhất - dân chủ cho toàn thể nhân dân lao động; là nền dân chủ hoàn toàn có khả năng thực hiện được quyền lực thuộc về nhân dân lao động, vì quyền lực ấy được bảo đảm bằng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế; là một chế độ dân chủ được thể chế hóa và vận hành trong hiện thực xã hội bằng mối quan hệ chính trị - pháp lý “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”.

Ở Việt Nam, dân chủ cũng có quá trình hình thành và phát triển tuân theo quy luật chung. Hiện nay, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của đổi mới, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Dân chủ là phương thức, nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước và xã hội, trong đó mọi thành viên được tôn trọng, bình đẳng trong việc tham gia quyết định các vấn đề của đất nước, xã hội, cộng đồng. Công dân được tạo mọi điều kiện để phát huy các quyền tự do, dân chủ của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm: “Trước hết cán bộ, đảng viên, đoàn viên, phải làm đầu tàu gương mẫu..., làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(2). Cơ sở của dân chủ xã hội chủ nghĩa là các quyền tự do của cá nhân, tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhưng không có tư tưởng tự do vô giới hạn mà phải trong khuôn khổ pháp luật. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta khẳng định: “Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm..., quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm”(3). Dân chủ là quyền tự do của con người trong các lĩnh vực nhưng tự do phải trong khuôn khổ các chuẩn mực, nguyên tắc pháp lý, đạo đức xã hội. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở... Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân”(4).

Trong khi đó, trái ngược với quan điểm này, các nước tư bản cho rằng, dân chủ bao gồm các yếu tố: bầu cử tự do, đa đảng, tư pháp độc lập và nhân quyền; nhấn mạnh thái quá vào khía cạnh đầu phiếu phổ thông, các quyền tự do chính trị, tự do dân sự một cách tuyệt đối, phổ quát không bị giới hạn bởi đặc thù địa lý, xã hội, quốc gia, dân tộc. Và cũng chính từ quan điểm này mà các nước tư bản phương Tây đã áp đặt một cách vô căn cứ giá trị dân chủ tư sản với các nước khác, trong đó có Việt Nam. Họ triệt để lợi dụng sự khác nhau trong thực thi dân chủ với các khuôn khổ, chuẩn mực, nguyên tắc pháp lý và xã hội của các nước khác nhằm tiến hành những hoạt động chống phá.

Hiện nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, sự lan truyền của tư tưởng dân chủ tư sản từ các nước phương Tây sang các nước khác đang hình thành những làn sóng. Tuy nhiên, sự tồn tại của nền dân chủ phụ thuộc vào những yếu tố nội tại của một quốc gia, vào quá trình phát triển của lịch sử, xã hội ở quốc gia đó qua nhiều thế hệ chứ không thể áp đặt từ bên ngoài. Vì vậy, nhiều phong trào dân chủ trên thế giới được phương Tây ủng hộ không thiết lập nổi một nền dân chủ ổn định mà chỉ dẫn tới hỗn loạn và nội chiến do các phe phái chính trị không thể hợp tác với nhau để duy trì nền dân chủ, mà đấu tranh với nhau để giành quyền lực với sự hỗ trợ của nước ngoài, còn nhân dân thì bị lôi cuốn vào cuộc xung đột đó.

Theo LÊ THÁI SƠN


CẨN THẬN TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP

 

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động lại ráo riết đẩy mạnh các hoạt động xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng. Các đối tượng tập trung nhiều vào lĩnh vực tư tưởng, chính trị; công tác cán bộ và hoạt động đối ngoại quốc phòng với ý đồ gây nhiễu loạn về tư tưởng xã hội, ly tán lòng dân với Đảng.

Sự nguy hại của 3 “mũi nhọn” chống phá 

Trước mỗi dịp đất nước tổ chức các sự kiện chính trị trọng đại và trước thềm đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động lại hằn học, tìm trăm phương ngàn kế, không từ bất kỳ thủ đoạn nào, nhất là lợi dụng các trang mạng xã hội để đưa nhiều thông tin bịa đặt, tuyên truyền xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Trong đó, chúng chủ yếu tập trung vào 3 lĩnh vực chính.

Về chính trị, tư tưởng, các thế lực thù địch, phản động tung ra hàng loạt bài viết với những luận điệu phản động, xuyên tạc trắng trợn về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; họ rêu rao, quy chụp về “sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội” và hô hào cái gọi là “sự tồn tại vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản”. Thông qua chiêu trò cổ xúy các học thuyết “các nền văn minh”, “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “chủ nghĩa tư bản mới”, các thế lực thù địch nung nấu mưu đồ phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc... mục đích nhằm gây nhiễu loạn về tư tưởng của Đảng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tác động tiêu cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm suy giảm lòng tin của nhân dân về chủ nghĩa xã hội, qua đó dã tâm thực hiện mưu đồ làm cho Đảng tan rã về ý thức hệ, từ đó tan rã về tổ chức, làm cho nước ta chệch hướng xã hội chủ nghĩa và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Về công tác cán bộ, các thế lực thù địch xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, nhất là lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ta kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp trong bộ máy công quyền để công kích, cho rằng đây là cuộc “đấu đá nội bộ”, "thanh trừng phe nhóm" trong Đảng. Để tăng tính thuyết phục cho những luận điệu sai trái này, họ còn xây dựng trang fanpage để moi móc, bôi nhọ bí mật đời tư, bịa đặt về đạo đức, lối sống, tình hình sức khỏe của cán bộ rồi bóp méo thông tin, ngụy tạo những văn bản giả có dấu mật y như thật hòng bôi nhọ cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng những câu chuyện ly kỳ để lôi kéo sự tò mò của người đọc. Các đối tượng còn tổ chức nhiều cuộc tọa đàm dẫn lời một số nhân vật tự nhận là những người có học hàm, học vị như “giáo sư”, “tiến sĩ”, những người có hiểu biết như “luật sư”, “học giả”, “nhà nghiên cứu chính trị-xã hội” dưới vỏ bọc “yêu nước”, “đóng góp trung thực, thẳng thắn vì nhân dân, vì đất nước” nhưng thực chất là những bình luận ác ý, những đơm đặt thiên lệch, sai trái về công tác nhân sự của Đảng. 

Về hoạt động đối ngoại quốc phòng, các đối tượng xuyên tạc chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” của Đảng Cộng sản Việt Nam với luận điệu “Việt Nam tự trói tay mình” là đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử nhân loại; là trái với quy luật về mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc. Mưu đồ của họ không chỉ đơn thuần là chọc ngoáy chính sách quốc phòng của Việt Nam, mà nham hiểm hơn là muốn kích động, gây hoang mang tâm lý, tư tưởng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân, nhất là cán bộ, chiến sĩ LLVT vào sự lãnh đạo của Đảng. Qua đó từng bước phá hoại sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, tạo thời cơ để thúc đẩy, kêu gọi sự can dự từ bên ngoài hòng lật đổ chính quyền cách mạng, đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.                                                                     

Củng cố, bồi đắp niềm tin 

Để phòng, chống, đấu tranh làm thất bại các luận điệu sai trái, thù địch, trước hết, cấp ủy, tổ chức đảng và các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên làm tốt công tác nắm bắt, định hướng tư tưởng, chủ động cung cấp thông tin chính thống nhằm tạo thế chủ động trong nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là các luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng; không để khoảng trống về thông tin cho các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng, xuyên tạc chống phá. Đồng thời, tăng cường tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các lực lượng nòng cốt, chuyên sâu về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cùng với đó, các địa phương, cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá đại hội đảng các cấp.

Các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan báo chí, truyền thông cần kịp thời nhận diện và đưa ra luận cứ phê phán, đấu tranh với những thông tin sai lệch; huy động đông đảo lực lượng tham gia hoạt động truyền thông, chia sẻ các thông tin chính thống trên không gian mạng để giúp nhân dân củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Đồng thời phát hiện, xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp đưa thông tin sai sự thật; phối hợp với các nhà mạng để gỡ bỏ những thông tin bịa đặt với mục đích không lành mạnh.

Đối với người dân, nhất là cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong học tập lý luận chính trị, nghiên cứu nắm vững các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, kiến thức pháp luật, khoa học, văn hóa. Khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu trên không gian mạng cần phải tỉnh táo, sáng suốt để phân loại, nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin với dụng ý xuyên tạc, bịa đặt. Từ đó, có thái độ rõ ràng, dứt khoát, tránh bị cuốn theo những luận điệu xảo trá của các thế lực thù địch mà dẫn tới hoài nghi, hoang mang, dao động về tư tưởng, tự suy giảm niềm tin vào Đảng và chế độ.

Giải pháp có ý nghĩa then chốt là các cơ quan, đơn vị, địa phương, các ngành, các cấp cần tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Kiên trì, kiên quyết thực hiện tốt hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xử lý nghiêm minh các trường hợp cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất, làm tổn hại đến thanh danh, uy tín của Đảng.

Thực hiện hiệu quả giải pháp trên sẽ góp phần kiến tạo, củng cố, bồi đắp niềm tin cho nhân dân từ gốc rễ, qua đó tạo môi trường xã hội đồng thuận, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên các tầng lớp nhân dân tự nguyện, tự tin, tự hào đi theo lý tưởng, mục tiêu và sự nghiệp cách mạng cao cả dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Báo QĐND