Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ QUỐC GIA THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

Qua gần 40 năm đổi mới, trên phương diện quản lý phát triển xã hội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, giải quyết việc làm, phát huy tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân... Bên cạnh đó, thực tiễn quản lý phát triển xã hội còn không ít hạn chế, yếu kém đòi hỏi phải kịp thời khắc phục mới có thể phát triển đất nước nhanh và bền vững. Từ thực tế đó, Đảng ta xác định, phải “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả”(1), xem đó là một trong những nội dung để thực hiện đột phá chiến lược “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
Do tính chất đặc thù về bối cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ta, các chủ thể trong mô hình quản trị quốc gia của Việt Nam bao gồm: hệ thống chính trị, hệ thống doanh nghiệp, hệ thống các tổ chức xã hội và người dân, hệ thống cơ quan báo chí và truyền thông... Nghĩa là, mô hình quản trị quốc gia của Việt Nam sẽ không phải mô hình đơn chủ thể, tuyệt đối hóa vai trò quản lý đối với mọi lĩnh vực xã hội của một chủ thể duy nhất là nhà nước, mà đòi hỏi có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong quản trị các mặt, các lĩnh vực vốn rất đa dạng của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, vai trò, vị trí và chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong hệ thống quản trị quốc gia sẽ không hoàn toàn như nhau, mà mỗi chủ thể sẽ có vai trò, vị trí và thực hiện chức năng, nhiệm vụ khác nhau, thể hiện trong từng lĩnh vực và điều kiện cụ thể. Do đó, vấn đề quan trọng là phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa các chủ thể, tránh bao biện làm thay hoặc chồng lấn chức năng, nhiệm vụ, ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị quốc gia.
Để xây dựng, từng bước hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia hiện đại, đổi mới và không ngừng nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia theo tinh thần Đại hội XIII đã xác định, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:
Một là, nhất quán quan điểm về mục tiêu xây dựng, đổi mới quản trị quốc gia của Việt Nam theo hướng hiện đại, hiệu quả là nhằm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh mới, phát triển đất nước nhanh và bền vững, hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Mọi hoạt động của các chủ thể trong hệ thống quản trị quốc gia suy cho cùng, đều phải hướng đến mục tiêu trên, lấy đó làm tiêu chí quan trọng để đánh giá tính hiệu quả của quản trị quốc gia ở Việt Nam hiện nay.
Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng những vấn đề nảy sinh trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội với một hệ thống thể chế, quy trình, phương thức khoa học, dân chủ; qua đó, giảm thiểu sự mâu thuẫn lợi ích, xung đột giá trị, tăng cường đồng thuận xã hội, sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc, góp phần quan trọng đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN vào giữa thế kỷ XXI.
Hai là, kế thừa có chọn lọc các nguyên tắc của quản trị tốt, với những giá trị cốt lõi và tính ưu việt đã được cộng đồng quốc tế công nhận, cụ thể là:
Bảo đảm sự tham gia của nhân dân, tăng cường sự đồng thuận. Huy động sự tham gia tích cực của các chủ thể xã hội vào hoạt động quản trị quốc gia sẽ khai thác, phát huy được tiềm năng, nguồn lực của mọi chủ thể, củng cố lòng tin của nhân dân vào tính hiệu quả của quản trị. Mặt khác, việc nhân dân tham gia vào quá trình hoạch định chủ trương, đường lối, quyết sách của các cấp chính quyền sẽ góp phần bảo đảm dân chủ, tính hiệu quả và sự bền vững của quản trị quốc gia.
Nhà nước pháp quyền: Nhà nước “có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính; quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả”(2).
Trách nhiệm giải trình: Các cơ quan trong hệ thống chính trị, những người được giao nắm giữ và thực thi quyền lực công phải chịu trách nhiệm và có nghĩa vụ giải trình trách nhiệm của mình trước cấp trên, trước các cơ quan dân cử, tổ chức xã hội, các chủ thể có liên quan và nhân dân về các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật và các quyết sách cũng như tính hiệu quả trong các hoạt động của mình một cách rõ ràng, công khai.
Sự minh bạch: Bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động quản lý của Nhà nước; quá trình hoạch định, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện các quyết sách của Nhà nước phải tuân thủ pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của các chủ thể khác. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Nhà nước chủ động công khai các thông tin liên quan đến quyền lợi trực tiếp của doanh nghiệp và người dân, bảo đảm các thông tin về những quyết sách và hoạt động của Nhà nước được công bố đầy đủ, cập nhật, công khai, dễ tiếp cận đối với doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân.
Hiệu lực, hiệu quả: Hiệu lực trong quản trị quốc gia, tức là việc bảo đảm các chính sách, quy định, pháp luật được các chủ thể tiếp nhận và tuân thủ trên cơ sở của sự đồng thuận. Hiệu quả của quản trị quốc gia đòi hỏi phải vừa khơi thông, phát huy được các nguồn lực, vừa sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực cho sự phát triển, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng tốt các nhu cầu của xã hội và người dân.
Ba là, kế thừa và phát huy vai trò tích cực của các thiết chế xã hội truyền thống, phù hợp với yêu cầu đất nước trong bối cảnh thời đại mới.
Với sự tồn tại lâu dài của cấu trúc làng xã cổ truyền Việt Nam trong lịch sử, mối quan hệ giữa các cá nhân và giữa cá nhân với cộng đồng không chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật của Nhà nước mà còn chịu sự tác động và được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức và hệ thống lệ làng, hương ước.
Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, như: tính cục bộ địa phương, cục bộ dòng họ; tư tưởng địa vị ngôi thứ, tác phong gia trưởng, bệnh gia đình chủ nghĩa, các hủ tục lạc hậu... dẫn đến xem nhẹ pháp luật, hạn chế và vi phạm quyền tự do cá nhân, các thiết chế xã hội truyền thống cũng có những mặt tiến bộ nhất định, như: đề cao tinh thần trách nhiệm của con người trước cộng đồng làng xã; tinh thần dân chủ làng xã, vai trò tự quản của cộng đồng trong việc giữ gìn an ninh trật tự, củng cố tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái dựa trên tình làng nghĩa xóm, giải quyết những tranh chấp và nhiều vấn đề tế nhị, phức tạp trong phạm vi làng xã mà pháp luật của Nhà nước không thể vươn tới và bao quát hết.
Do đó, quá trình xây dựng mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi, phải vừa khắc phục ảnh hưởng tiêu cực, vừa kế thừa, phát huy vai trò và ảnh hưởng tích cực của các thiết chế xã hội truyền thống, bảo đảm sự gắn kết giữa hiện đại và truyền thống một cách hài hòa, hợp lý.
Bốn là, tiếp tục tập trung giải quyết tốt “mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đại biểu cho quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, là những bộ phận hợp thành hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đồng thời cũng là những chủ thể có vai trò quan trọng trong mô hình quản trị quốc gia, tham gia vào các lĩnh vực của quản trị, có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu, hiệu quả của quản trị quốc gia. Trên cơ sở phân định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể mới có thể giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa các chủ thể đó để tránh bao biện làm thay, đồng thời khắc phục sự chồng lấn về chức năng, nhiệm vụ, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của mỗi chủ thể, qua đó góp phần xây dựng mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở nước ta.
Trước hết, cần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, theo hướng “giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng”; “Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”; “Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”; đồng thời “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(3) là điều có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, tạo lập mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở Việt Nam nói riêng.
Mặt khác, cần tiếp tục xây dựng và không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, bảo đảm cho Nhà nước thực sự là “Nhà nước kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”. Để thực hiện điều đó, nhiệm vụ trọng tâm đặt ra là phải “Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước đi đôi với nâng cao năng lực thực thi; xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ðẩy mạnh cải cách tư pháp, bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”(4).
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đẩy mạnh sự phân cấp, phân quyền một cách phù hợp, theo hướng “Phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý kinh tế, xã hội giữa Trung ương và địa phương, bảo sự sự tập trung thống nhất quản lý của Trung ương và phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương. Hoàn thiện cơ chế phân cấp đầu tư, ngân sách, bảo đảm quản lý thống nhất về quy hoạch phát triển và cân đối nguồn lực. Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương bảo đảm phục vụ tốt nhất người dân, doanh nghiệp”(5).
Xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, mục đích cuối cùng là nhằm thực hành dân chủ, bảo đảm nhân dân thực sự là chủ thể và là trung tâm của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, xây dựng mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả nói riêng. Do đó, cần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của các tổ chức và cá nhân, nhất là những người có trách nhiệm cao trong hệ thống chính trị; bảo đảm phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được hiện thực hóa; lấy sự hài lòng và tín nhiệm của nhân làm tiêu chí căn bản để đánh giá năng lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cá nhân, tổ chức.
Năm là, tiếp tục nghiên cứu và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, bảo đảm hài hòa lợi ích, phát huy tốt vai trò tích cực của mỗi chủ thể.
Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước cho thấy, những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, cần tập trung giải quyết tốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Một trong mười mối quan hệ lớn được Đại hội XIII xác định là, phải “giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân”(6). Đây cũng chính là các yếu tố, các chủ thể quan trọng cấu thành mô hình quản trị quốc gia của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Xác định đúng vai trò, vị trí, chức năng và giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa các chủ thể đó sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng, từng bước hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia Việt Nam hiện đại, hiệu quả. Tuy nhiên, việc đòi hỏi phải xác lập mối quan hệ “đối xứng”, “đồng đẳng”, ngang bằng theo kiểu bình quân về vai trò và chức năng, quyền hạn giữa các chủ thể đó sẽ là không phù hợp, phi thực tế.
Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội được biểu hiện trên nhiều phương diện, như: mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và các đối tượng quản lý, mối quan hệ giữa các chủ thể cùng tham gia thị trường, mối quan hệ giữa nguồn lực nhà nước với nguồn lực doanh nghiệp và nguồn lực xã hội, mối quan hệ giữa lợi ích công với lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân... Giải quyết hài hòa các mối quan hệ trên sẽ góp phần phát huy lợi thế, đồng thời bổ sung, bù đắp các thiếu hụt, khiếm khuyết để tối ưu hóa mục tiêu của quản trị quốc gia. Để giải quyết tốt mối quan hệ trên, đòi hỏi phải xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của từng chủ thể, trên cơ sở đó mới có thể bảo đảm mỗi chủ thể thực hiện hiệu quả các vai trò, nhiệm vụ để vừa bổ sung, hỗ trợ, vừa góp phần khắc phục các hạn chế, khiếm khuyết của mỗi chủ thể.
Trong mô hình quản trị quốc gia ở Việt Nam, Nhà nước có vai trò “xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn... phù hợp với các yêu cầu và quy luật của kinh tế thị trường”(7).
Yêu cầu đặt ra là, phải phát huy vai trò của Nhà nước trong việc kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi, minh bạch trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của thị trường, tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp hoạt động phù hợp với quy luật thị trường, tuân thủ đúng pháp luật. Do đó, cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn theo hướng “Xây dựng khung khổ pháp luật, môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số;... Tập trung sửa đổi những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở phát triển kinh tế. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, ủy quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm cá nhân và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cấp các ngành”(😎.
Để phát huy tốt vai trò của thị trường trong mô hình quản trị quốc gia ở nước ta, cần xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm “Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém”(9).
Cùng với đó là phải phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, tạo điều kiện và môi trường, cơ chế để “các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường”, bảo đảm “Các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật”(10).
Thực tế cho thấy, Nhà nước, thị trường và xã hội là các chủ thể có vai trò quan trọng trong quản trị quốc gia, mỗi chủ thể có thế mạnh riêng, song bản thân mỗi chủ thể, do tính chất và đặc trưng nhiệm vụ khác biệt nên đều có những giới hạn và khiếm khuyết nhất định. Giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả để có thể bổ sung cho nhau, khắc phục các khiếm khuyết, bảo đảm tính hiệu quả trong xây dựng mô hình quản trị quốc gia ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc, vì sự phát triển nhanh và bền vững đất nước lên trên hết; Nhà nước tác động vào thị trường và xã hội trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan của thị trường và xã hội, không làm những gì thị trường và xã hội đang làm hiệu quả; đồng thời bảo đảm hài hòa giữa lợi ích công với lợi ích doanh nghiệp, lợi ích cá nhân. Phát huy vai trò của người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng trong xây dựng, phản biện, giám sát thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật.
Sáu là, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí và truyền thông trong xây dựng mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.
Các cơ quan báo chí và truyền thông cũng là một trong những chủ thể quan trọng của mô hình quản trị quốc gia ở Việt Nam, do đó cần phát huy vai trò, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của chủ thể này, nhất là trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự bùng nổ thông tin trên không gian mạng hiện nay.
Các cơ quan báo chí và truyền thông có vai trò to lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến để toàn xã hội nhận thức sâu rộng về tính tất yếu và tầm quan trọng của việc xây dựng mô hình quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong xu thế mới của thời đại.
Mặt khác, việc cung cấp các thông tin kịp thời, cập nhật, chính xác của các cơ quan này sẽ góp phần kết nối các chủ thể trong hệ thống quản trị, tham gia vào quá trình hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách và đưa chủ trương, đường lối, chính sách vào cuộc sống; đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho việc tham gia giám sát, phản biện xã hội đối với năng lực và hiệu quả hoạt động của các chủ thể, qua đó nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các chủ thể đó trước nhân dân, góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thúc đẩy dân chủ hóa các mặt của đời sống xã hội.
Do vậy, cần nâng cao năng lực, ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của những người làm công tác báo chí, truyền thông; “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại... Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(11).
Bảy là, đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, nâng cấp nền tảng công nghệ quốc gia, đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số quốc gia, xây dựng chính phủ số, xã hội số để từng bước tạo lập mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.
Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển rất mạnh mẽ, tác động to lớn, làm thay đổi cách thức tư duy, giải quyết vấn đề trên tất cả các phương diện của cuộc sống, đòi hỏi mô hình quản trị quốc gia hiện đại phải là mô hình quản trị thông minh, kết nối, chia sẻ thông tin, chia sẻ tri thức. Do đó, cần đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới có thể xây dựng được một “thể chế thông minh, bộ máy quản trị thông minh, nhân lực quản trị thông minh, phương thức quản trị thông minh, giám sát thông minh...”, tạo điều kiện tối ưu cho việc giải phóng các nguồn lực, đổi mới sáng tạo, kết nối chính quyền với doanh nghiệp, người dân vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Mặt khác, việc đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ sẽ thúc đẩy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm; nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội và trách nhiệm giải trình của các chủ thể; công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; minh bạch tải sản, thu nhập của cán bộ, công chức, góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của quản trị quốc gia, củng cố niềm tin của nhân dân./.
Tạp Chí lý luận Chính trị

Thủ tướng: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm mục tiêu đạt 8% trở lên

 

Chỉ thị số 05/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ, mục tiêu tăng trưởng 8% trở lên trong năm 2025 là nhiệm vụ khó khăn, thách thức nhưng phải quyết tâm hoàn thành để tạo đà, tạo lực, tạo thế cho những năm sau tăng trưởng hai con số.

Ngày 1-3, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã ký Chỉ thị số 05/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên.

Chỉ thị nêu rõ, mục tiêu tăng trưởng 8% trở lên trong năm 2025 là nhiệm vụ khó khăn, thách thức nhưng phải quyết tâm hoàn thành để tạo đà, tạo lực, tạo thế cho những năm sau tăng trưởng hai con số, với tinh thần: "Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ đã thống nhất, Quốc hội đồng tình, nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi thì chỉ bàn làm, không bàn lùi".

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá

Chỉ thị đưa ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Đó là: Tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, phát huy hiệu quả các cơ chế, chính sách, quy định mới, đột phá đã ban hành, tháo gỡ, giải phóng ngay nguồn lực của nền kinh tế

Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất… để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, du lịch, tiêu dùng trong nước trong năm 2025, báo cáo cấp có thẩm quyền trước ngày 15-3-2025…

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác; tập trung thực hiện hiệu quả hơn nữa các nhiệm vụ, giải pháp về điều hành lãi suất, tỷ giá, tăng trưởng tín dụng, điều hành thị trường mở, thị trường liên ngân hàng, tái cấp vốn, lượng tiền cung ứng, phát hành tín phiếu…

Các bộ, cơ quan và địa phương tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các cơ chế, chính sách thí điểm, đặc thù, quy định mới, đột phá, cơ chế "luồng xanh" cho các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế trong lĩnh vực công nghệ cao. Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng ngay việc phân loại dự án xanh, tiêu chí xanh để làm cơ sở huy động vốn phát triển xanh.

Các bên liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng năng lực sản xuất nguyên vật liệu và tham gia các dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt đô thị, đường sắt kết nối với quốc tế, dự án năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi… và hướng dẫn, hỗ trợ, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp trong triển khai thực hiện.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, quy định pháp luật

Các Bộ, cơ quan, địa phương tập trung rà soát sửa đổi, hoàn thiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo hoặc chưa đầy đủ theo hướng vướng mắc ở đâu, tháo gỡ ở đó, ở cấp nào thì cấp đó chủ động xử lý, thực hiện ngay theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, hoàn thiện; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát và nâng cao năng lực thực thi của cán bộ, công chức, viên chức.

Thể chế, cơ chế, chính sách phải hướng tới huy động mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp và người dân cùng tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp vào tăng trưởng và phát triển đất nước. Hằng tháng, các bên báo cáo Thủ tướng Chính phủ về các điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc, rào cản đối với người dân, doanh nghiệp, gồm cả nhà đầu tư nước ngoài…

Bộ Tài chính chủ trì, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ được giao đề xuất, trình Chính phủ ngay trong tháng 3-2025 về khung pháp lý quản lý, thúc đẩy phát triển tài sản số, tiền kỹ thuật số lành mạnh và hiệu quả.

Bộ Tư pháp triển khai hiệu quả Đề án "Ứng dụng công nghệ số trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật" theo Quyết định số 244/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; trong đó, tập trung xây dựng, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương vận hành "Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật" để kịp thời phát hiện, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, hoàn thiện chính sách, quy định của pháp luật, tháo gỡ những rào cản, vướng mắc về thể chế nhằm bảo đảm mục tiêu kiến tạo, thúc đẩy phát triển.

Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt và thu hút mọi nguồn lực xã hội

Các bộ, cơ quan, địa phương đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 đạt ít nhất 95% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, theo tinh thần lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt và thu hút mọi nguồn lực xã hội; quyết tâm hoàn thành mục tiêu đến hết năm 2025 có ít nhất 3.000km đường cao tốc và hơn 1.000km đường ven biển, cơ bản hoàn thành Cảng hàng không quốc tế Long Thành, các cảng khu vực Lạch Huyện, đưa vào khai thác nhà ga T3 Tân Sơn Nhất, T2 Nội Bài, khởi công xây dựng bến cảng Liên Chiểu, hoàn thành các thủ tục đầu tư cảng biển quốc tế Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh…

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, các bộ, cơ quan liên quan hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng hiệu quả cam kết trong 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết; đẩy mạnh đàm phán, tham mưu ký kết các FTA với các nước Trung Đông, Thụy Sỹ, Na Uy, Phần Lan, Ấn Độ, Brazil…; tăng cường khai thác các thị trường mới, tiềm năng, thị trường Trung Đông, Halal, Mỹ La-tinh, châu Phi.

Các bộ, cơ quan, địa phương tăng cường quản lý hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới; thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ, đặc biệt tài chính - ngân hàng, phát triển logistics, mở rộng vận tải hàng không, đường biển; tăng cường hội nhập quốc tế về dịch vụ và ký kết các hiệp định kinh tế số…

Chỉ thị yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao chủ động, linh hoạt thực hiện các giải pháp đồng bộ phát triển văn hóa, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững; bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, quyết liệt thực hiện các cam kết tại COP26, ổn định chính trị, củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; làm tốt công tác truyền thông chính sách, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả.

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mong muốn doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục tin tưởng và gắn bó với Việt Nam

 

Chiều 1-3, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì tọa đàm với các doanh nghiệp Nhật Bản, nhằm thúc đẩy hợp tác, đầu tư cùng Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

Dự tọa đàm có các Phó thủ tướng Chính phủ: Hồ Đức Phớc, Nguyễn Chí Dũng; Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; lãnh đạo Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản, các Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản và các tập đoàn của Nhật Bản đang đầu tư tại Việt Nam; lãnh đạo các tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam.

Qua gần 52 năm vun đắp và xây dựng, với nỗ lực chung của hai bên, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đang phát triển mạnh mẽ, thực chất, trở thành một hình mẫu quan hệ đặc biệt tốt đẹp, nhất là sau khi hai nước đã nâng cấp quan hệ lên "Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới”.

Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư tiếp tục phát huy vai trò trụ cột và là điểm sáng nổi bật trong quan hệ hai nước. Theo đó, Nhật Bản hiện là đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam, là đối tác cung cấp vốn ODA và hợp tác lao động lớn nhất, nhà đầu tư lớn thứ ba, đối tác thương mại và du lịch lớn thứ tư của Việt Nam.

Hiện nay, Nhật Bản có hơn 5.500 dự án đầu tư tại Việt Nam. Kim ngạch thương mại song phương năm 2024 đạt hơn 46,2 tỷ USD. Về ODA, Nhật Bản dành cho Việt Nam hơn 20 tỷ USD vốn vay, gần 750 triệu USD viện trợ không hoàn lại và khoảng 1,34 tỷ USD hỗ trợ cho hợp tác kỹ thuật.

Đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam trên nhiều lĩnh vực ở nhiều địa phương. Theo Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản mong muốn mở rộng đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam trong 1-2 năm tới đạt 56,1%, mức cao nhất tại ASEAN. Điều này minh chứng rõ ràng cho việc Việt Nam vẫn là điểm đến đầu tư hấp dẫn của các doanh nghiệp Nhật Bản.

Tại tọa đàm, các đại diện của Nhật Bản đánh giá cao môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; mong muốn tiếp tục góp phần vào sự phát triển kinh tế Việt Nam, nhất là khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Doanh nghiệp Nhật Bản bày tỏ quan tâm đầu tư vào Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông, phát triển mạng lưới giao thông đô thị; xúc tiến đầu tư ngành công nghiệp bán dẫn, các dự án điện sinh khối, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, kể cả dự án điện hạt nhân; công nghiệp ô tô; xây dựng các trung tâm thương mại…

Các doanh nghiệp Nhật Bản bày tỏ băn khoăn và mong muốn Việt Nam tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy nhanh việc ra các quyết định; tiếp tục hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế liên quan các lĩnh vực mới như Luật dữ liệu; đề xuất sớm giải quyết các vấn đề vướng mắc tại các dự án, nhất là các vấn đề liên quan các dự án hợp tác ODA hạ tầng, gia hạn giấy phép đầu tư; cùng lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương trao đổi, chỉ đạo giải quyết cụ thể các vướng mắc tại các dự án như: Dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1 Thành phố Hồ Chí Minh, Dự án đường sắt đô thị Hà Nội, Dự án nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, Dự án Bệnh viện Chợ Rẫy hữu nghị Việt - Nhật, Dự án nhiệt điện Ô Môn, nhiệt điện LNG Quảng Ninh, Dự án hợp tác phóng vệ tinh vào quỹ đạo…

Kết luận tại tọa đàm, Thủ tướng Phạm Minh Chính trân trọng cảm ơn các ý kiến thẳng thắn, chân thành; các trao đổi, đưa ra hướng giải quyết hiệu quả các vướng mắc của cả hai bên; yêu cầu Văn phòng Chính phủ tổng hợp, dự thảo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ trên tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả”.

Trước băn khoăn của cộng đồng doanh nghiệp về ảnh hưởng của việc sắp xếp tổ chức bộ máy tại Việt Nam, Thủ tướng khẳng định, việc sắp xếp tổ chức bộ máy thời gian qua và tiếp tục thực hiện trong thời gian tới của Việt Nam là để tinh, gọn, mạnh, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, cắt bỏ cơ chế xin - cho, với mục tiêu cuối cùng là mang lại thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp. 

Đối với vướng mắc, tồn đọng tại Dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1 Thành phố Hồ Chí Minh, với phương châm “Non cao cũng có đường trèo; Đường dẫu hiểm nghèo cũng có lối đi”, Thủ tướng Chính phủ giao Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và đối tác Nhật Bản giải quyết dứt điểm, xong trước ngày 30-4-2025, trên tinh thần tin cậy, công khai, minh bạch; khi giải quyết không được quan liêu mà phải hợp tác với nhau để xử lý, “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”.

 

Học tập suốt đời

 

Báo Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu bài viết “Học tập suốt đời” của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành người có ích cho xã hội.

Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là tận dụng tối đa thời cơ, vận hội, đi tắt đón đầu, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.

Học tập suốt đời không phải là vấn đề mới. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ, Người căn dặn: “… Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”[1]; “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”[2]. Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập. Chủ trương học tập suốt đời được đề cập trong nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26-7-2002, Hội nghị Trung ương 6 khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”[3] bởi “Người Cách mạng phải học suốt đời, học trong sách vở, học lẫn nhau và học từ nhân dân; “bể học” mênh mông, không bao giờ cạn”.

Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền của đất nước; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất hơn ở hầu khắp các địa phương; môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, gắn với cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa. Trong nhiều dòng họ, làng, xã, thôn, bản phong trào thi đua học tập phát triển mạnh. Ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền... Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế - xã hội ở địa phương. Những mô hình mới, những tấm gương sáng về tinh thần học không bao giờ muộn, có nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo và khuyên con cháu “học, học nữa, học mãi”; “Học để làm việc, làm người, làm cán bộHọc để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”[4], góp phần để đất nước ta đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới.

Bên cạnh kết quả, thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ trong học tập, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học. Tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân; ảnh hưởng đến tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo, không đủ nền tảng kiến thức và tự tin về năng lực đề xuất và thực hiện những sáng kiến, giải pháp đột phá. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, cơ sở đào tạo, hoặc chạy theo việc học để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kiến thức, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng... Một bộ phận biểu hiện ngại học, không có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với “guồng quay” hối hả của nhịp sống “vũ bão” thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.

Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để “sánh vai” với thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu  trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh; hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm; hơn thế, những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và có 65% những công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới. Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung, tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại.

Trong bối cảnh đó, học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khóa quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững. Học tập suốt đời giúp mỗi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường trở thành nước dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.

Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; có quyết tâm, dám chịu trách nhiệm về kết quả công việc, lĩnh vực, ngành mà mình đảm trách, dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Khi đó, chúng ta sẽ xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình để hiện thực hoá nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước.

Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời; mỗi cán bộ, đảng viên luôn ý thức rõ học tập suốt đời là nhiệm vụ cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao. Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khỏe, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mỗi công dân cần không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp; mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực tuyên truyền, vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời. Qua học tập suốt đời để hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó.

Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng. Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng “vượt rào” đột phá vì lợi ích chung. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia. Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo; chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.

Chúng ta đang sống trong thời đại mà tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững; cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân. Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng.

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Phát huy hơn nữa đóng góp của các dân tộc, tôn giáo cho xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

 

Ngày 1-3, Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo, các Quyết định về công tác cán bộ tại Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gửi lẵng hoa chúc mừng.

Tham dự hội nghị có: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang; Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng; lãnh đạo, đại diện lãnh đạo các bộ, ngành, các cơ quan của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức tôn giáo.

Tại Kỳ họp bất thường lần thứ chín, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 176/2025/QH15 về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, trong đó Bộ Dân tộc và Tôn giáo là 1 trong 17 bộ, cơ quan ngang bộ thuộc cơ cấu tổ chức của Chính phủ. Quốc hội cũng phê chuẩn bổ nhiệm đồng chí Đào Ngọc Dung giữ chức Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Ngay sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Dân tộc và Tôn giáo; có các quyết định bổ nhiệm các Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo, gồm các đồng chí: Y Vinh Tơr, Y Thông, Nông Thị Hà và Nguyễn Hải Trung.

Trao các Nghị quyết, Quyết định của Quốc hội về thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Quyết định về công tác cán bộ tại Bộ Dân tộc và Tôn giáo, phát biểu tại sự kiện, Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng Bộ Dân tộc và Tôn giáo lần đầu tiên được thành lập, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với công tác dân tộc và tôn giáo, vừa thúc đẩy các phong trào, hoạt động dân tộc, tôn giáo, vừa quản lý hiệu quả và phát huy hơn nữa đóng góp của các dân tộc, các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao nỗ lực, đóng góp của đồng chí Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà và Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh trong lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và dân tộc thời gian qua; chúc mừng đồng chí Đào Ngọc Dung được giao nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, nước ta có 54 dân tộc anh em, các dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, trong đó tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc được Đảng, Nhà nước và nhân dân phát huy trong mọi thời kỳ, mọi giai đoạn cách mạng và thu được thắng lợi to lớn, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết / Thành công, thành công, đại thành công. Cùng với đó, phát huy mạnh mẽ đoàn kết giữa các tôn giáo, gắn đạo với đời, đời với đạo, theo tinh thần "đạo pháp và dân tộc".

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, trong tình hình mới, điểm tựa của đất nước ta vẫn là tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tình dân tộc, nghĩa đồng bào, cần tiếp tục phát huy cao độ nhất để thực hiện các nhiệm vụ chính trị cao cả và nặng nề mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trên tinh thần đó, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc và tôn giáo, thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định.

Trong đó, cùng với phát huy tinh thần đại đoàn kết các dân tộc, phải tạo điều kiện để các dân tộc được tiếp cận bình đẳng, không có khoảng cách giữa các dân tộc trong sự phát triển; không để ai bị bỏ lại phía sau và không để các thế lực thù địch, phản động chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.

Cho biết Bộ Chính trị vừa quyết định miễn học phí cho toàn bộ học sinh từ mầm non đến phổ thông trên cả nước, Thủ tướng bày tỏ trăn trở và đề nghị Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án về xây dựng hệ thống trường học nội trú cho các cháu học sinh và cơ sở chữa bệnh cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo, phù hợp với thực tiễn, hợp lý và hiệu quả. Ngoài ra, triển khai internet vệ tinh để phủ sóng internet, thúc đẩy chuyển đổi số tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thủ tướng lưu ý, Bộ Dân tộc và Tôn giáo phải phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, đưa văn hóa các dân tộc trở thành nguồn lực phát triển, phục vụ đất nước, vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân, vừa biến văn hóa thành của cải vật chất, trong đó có triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí…

Bên cạnh công tác dân tộc là công tác tôn giáo, Thủ tướng yêu cầu cần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kết hợp chặt chẽ giữa đạo và đời, đời và đạo, tôn giáo gắn bó với dân tộc; thể chế hóa, thực hiện tốt việc quản lý nhà nước, quản lý để phát triển, thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nguyện vọng của nhân dân về công tác tôn giáo; đồng thời nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo theo sự phát triển của đất nước.

Mong muốn các tổ chức tôn giáo, các hoạt động tôn giáo lành mạnh, gắn với sự phát triển của đất nước, phát huy đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế, nâng cao vai trò của tôn giáo trong xã hội và trên trường quốc tế, Thủ tướng lưu ý, không để các thế lực thù địch, phản động kích động vấn đề tôn giáo, gây chia rẽ giữa các tôn giáo; giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng đề án trình cấp có thẩm quyền để góp phần phát triển bình đẳng, lành mạnh, văn minh trong các tôn giáo.

Nêu nhiệm vụ quan trọng năm 2025 và thời gian tới của đất nước, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Dân tộc và Tôn giáo bắt tay ngay vào công việc, không để gián đoạn công việc, nhất là những công việc liên quan tới người dân, công tác dân tộc và tôn giáo tích cực góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng GDP từ 8% trở lên; phát huy và là hình mẫu về đoàn kết, thống nhất và lan tỏa đoàn kết, thống nhất; cán bộ phải sát cơ sở hơn, đi cơ sở nhiều hơn, đi tới tận vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, làm tốt hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng cho sự phát triển bình đẳng và không ai bị bỏ lại phía sau.

Thay mặt Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước khi quyết định thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo; cam kết tiếp thu các ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại buổi lễ; tập thể lãnh đạo, các đơn vị trực thuộc của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, tận tâm, tận tụy, làm hết sức mình thực hiện tốt nhất mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và nhân dân giao phó.

 

Tinh gọn bộ máy: Các cơ quan đơn vị mới chính thức đi vào hoạt động

 

Từ ngày 1-3, các cơ quan, đơn vị mới chính thức đi vào hoạt động sau thời gian khẩn trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy theo hướng tăng hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, góp phần tạo động lực phát triển trong tình hình thực tiễn hiện nay.

Quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy đã giảm đáng kể số đầu mối, cơ quan, trong đó tổ chức bộ máy Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026 đã được tinh gọn còn 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ (giảm 5 bộ, ngành) và 5 cơ quan thuộc Chính phủ (giảm 3 cơ quan). Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy thực hiện theo nguyên tắc tổ chức hợp lý các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, thực hiện và chịu trách nhiệm chính, bảo đảm không chồng chéo, giao thoa, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Những ngày qua, Chính phủ đã ban hành các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan nói trên. Còn các cơ quan cũng sắp xếp tinh gọn phòng, ban chuyên môn, phân công, phân nhiệm cụ thể đến từng cá nhân. Tất cả đảm bảo hoạt động ổn định, giải quyết kịp thời, thông suốt các thủ tục hành chính của người dân và doanh nghiệp.

Tại Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo; các quyết định về công tác cán bộ tại Bộ này, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã yêu cầu phải bắt tay ngay vào công việc, không để gián đoạn, nhất là những công việc liên quan tới người dân, công tác dân tộc và tôn giáo, tích cực góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng GDP từ 8% trở lên. Phải phát huy và là hình mẫu về đoàn kết, thống nhất và lan tỏa đoàn kết, thống nhất. Cán bộ phải sát cơ sở hơn, đi cơ sở nhiều hơn, đi tới tận vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, làm tốt hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng cho sự phát triển bình đẳng và không bị ai bỏ lại phía sau.

Khi triển khai công tác cán bộ của Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà mong muốn các cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Bộ từ ngày 1-3 hãy gác lại những cảm xúc còn bâng khuâng, lo lắng, băn khoăn, suy tư, lưu luyến để vượt lên chính mình, hướng đến công việc đang chờ đợi từng ngày, từng giờ, rất nặng nề nhưng rất vinh quang.

Để giải quyết thủ tục hành chính liên tục, thông suốt, hiệu quả khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, mới đây, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình đã ký Văn bản số 219/TTg-KSTT của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy.

Đặc biệt, thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kết luận số 127-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Trong đó có nghiên cứu định hướng sáp nhập một số đơn vị cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập một số đơn vị cấp xã; thực hiện mô hình địa phương 2 cấp (tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể) bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng yêu cầu xác định quyết tâm chính trị cao nhất, triển khai thực hiện theo phương châm "vừa chạy vừa xếp hàng" để hoàn thành công việc với khối lượng rất lớn, đòi hỏi cao về chất lượng, tiến độ trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào trung tuần tháng 4-2025.

Một kết quả bước đầu trong thực hiện chủ trương lớn này là mới đây, sau khi nghe báo cáo của Chính phủ về khả năng cân đối tài chính trong và sau quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, Bộ Chính trị đã quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước. Thời điểm thực hiện từ đầu năm học mới 2025-2026.

Bộ Chính trị cũng đã giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, một số bộ, ngành liên quan và các địa phương phối hợp cụ thể hóa và thực hiện nghiêm túc quyết định này.

Đón nhận tin vui trên, nhiều nhà quản lý, nhà giáo và các phụ huynh trên cả nước đã bày tỏ vui mừng và khẳng định đó là quyết định hợp lòng dân, có ý nghĩa xã hội và sức ảnh hưởng mạnh mẽ, phù hợp với xu thế chung của các nước phát triển. Quyết sách này không chỉ giảm gánh nặng cho gia đình ở vùng khó khăn, mà còn bảo đảm cơ hội học tập tốt nhất cho học sinh ở mọi địa bàn, mọi độ tuổi, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương phổ cập giáo dục trung học; từ đó nâng cao trình độ dân trí và tạo nền móng vững chắc để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Cùng với Trung ương, bộ máy các cơ quan Đảng và các cơ quan hành chính mới của các địa phương trên cả nước chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1-3.

Như tại TP Hà Nội, các sở, ngành, các quận, huyện, thị xã đã chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp, tinh gọn bộ máy. Từ nhiều ngày qua, cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan vừa được hợp nhất, sáp nhập, chuyển chức năng, nhiệm vụ đã bắt tay ngay vào kiện toàn, thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền nhiệm vụ, bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ công tác của các đơn vị thông suốt ngay từ ngày đầu tiên chính thức đi vào hoạt động.

Tại Đồng Nai, tỉnh này hoàn thành việc sắp xếp bộ máy chính quyền của tỉnh và các cơ quan, đơn vị, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với phương án sắp xếp của Trung ương. Cán bộ, công chức trên cương vị công tác mới đã nhanh chóng tiếp cận và bắt tay ngay vào công việc; nêu cao tinh thần đoàn kết cùng tập thể cán bộ, đảng viên của đơn vị chung sức đồng lòng, vượt lên khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.

Có thể thấy, toàn hệ thống chính trị đang tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, quyết tâm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, góp phần xây dựng hệ thống chính trị thực sự tinh gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Không chỉ hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thông suốt, kỳ vọng quá trình sắp xếp, tinh gọn sẽ nâng tầm chất lượng nhân sự cũng như chất lượng quản lý nhà nước, từ đó khơi thêm nguồn lực, sớm hoàn thành các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam cường thịnh.

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhận danh hiệu “Giáo sư danh dự" Đại học Thanh Hoa

 

Sáng 2-3, tại Trụ sở Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc tổ chức lễ trao danh hiệu “Giáo sư danh dự” Đại học Thanh Hoa tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, vì những đóng góp quan trọng của Đảng, Chính phủ Việt Nam và cá nhân Thủ tướng Chính phủ đối với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam và hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trong những năm vừa qua.

Cùng tham dự sự kiện có đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các đồng chí đại diện Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ; lãnh đạo các ban, bộ ngành, địa phương, Hội đồng Giáo sư Nhà nước, một số trường đại học và cơ quan liên quan.

 

Phát biểu tại buổi lễ, Giáo sư, Tiến sĩ Khưu Dũng, Bí thư Đảng ủy Đại học Thanh Hoa, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc nhấn mạnh, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính là nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng quốc tế, từ khi đảm nhận chức vụ Thủ tướng đến nay đã lãnh đạo Chính phủ Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn, Chính phủ Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội, cải thiện dân sinh ở Việt Nam.

Cùng với đó, dưới sự quan tâm, chỉ đạo của Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Cường và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, các bộ ngành, địa phương Việt Nam - Trung Quốc thời gian qua đã phối hợp chặt chẽ, tích cực thực hiện nhận thức chung của các đồng chí Lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước, thúc đẩy việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc không ngừng đi vào chiều sâu và đạt được kết quả thực chất.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Khưu Dũng, qua nghiên cứu nghiêm túc, đồng thời căn cứ những thành tựu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trong lĩnh vực phát triển kinh tế và những đóng góp quan trọng đối với giao lưu hợp tác Trung Quốc - Việt Nam, Đại học Thanh Hoa xin phong tặng danh hiệu cao quý “Giáo sư danh dự” tới Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ vinh dự nhận danh hiệu “Giáo sư danh dự” Đại học Thanh Hoa và nhấn mạnh, việc trao tặng danh hiệu cao quý này không chỉ là sự tôn vinh của Đại học Thanh Hoa, mà còn thể hiện sự coi trọng của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Trung Quốc đối với những đóng góp của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc kiên định sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với nền văn hóa hơn 4 ngàn năm của dân tộc, được vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và bối cảnh thế giới hiện nay, qua đó mang lại những thành quả to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua. Đồng thời, đây cũng là sự ghi nhận của phía Trung Quốc đối với những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy quan hệ “mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em”.

 

KINH NGHIỆM ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ HIỆN NAY

 


 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Đại hội XIII Đảng ta xác định “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị. Đơn vị cơ sở là lực lượng luôn đi đầu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng với những mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả, qua đó đã góp phần bổ sung, phát triển những kinh nghiệm có giá trị trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

                                  

           Kế thừa truyền thống dân tộc, từ ngày Đảng ta được thành lập luôn xác định vai trò quan trọng của quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên để bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước. Lợi dung mở cửa, hội nhập đưa đất nước phát triển, các thế lực thù địch đưa ra luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Vì vậy, sáu giải pháp cơ bản đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.