Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2025

Giá trị bền vững và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

 

 Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, phát triển đã gần 172 năm với bao thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn mang trong lòng nó những giá trị bền vững không thể bác bỏ là: Phát triển; Chủ nghĩa nhân đạo triệt để; Phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử; Học thuyết giá trị thặng dư, hình thái kinh tế - xã hội, CNXH. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đương đại; xây dựng CNXH và thực hiện sự nghiệp đổi mới thành công.

Giá trị bền vững và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

Nguồn: ajc.hcma.vn

Từ khóa: chủ nghĩa Mác - Lênin, giá trị bền vững, ý nghĩa thời đại.

1. Những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin

Kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin dè bỉu rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là một học thuyết khoa học mà là một giáo điều giống như kinh thánh mà những người cộng sản phải học thuộc lòng vận dụng ở mọi nơi. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể phát triển, sẽ đi vào ngõ cụt. Điều này hoàn toàn không có căn cứ. Chúng ta đều biết, ngay khi C.Mác và Ph.Ăngghen còn sống, các kẻ thù tư tưởng của các ông cũng đã nói như vậy. Ngay từ năm 1887, trong một bức thư gửi một nữ sĩ người Mỹ bà Phlo-ren-xơ Ken-li-vi-sne-vét-xcai-a, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(1). V.I.Lênin sau này cũng không ít lần nhắc nhở những người cộng sản Nga rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga”(2). Chính vì vậy mà V.I.Lênin đã bổ sung nhiều luận điểm lý luận so với thời đại của C.Mác, Ph.Ăngghen. Hồ Chí Minh rất nhiều lần căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(3); “Học để mà làm”(4). Đồng thời, Hồ Chí Minh đã bổ sung nhiều luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp tình hình thực tiễn Việt Nam, chẳng hạn như: cách mạng ở thuộc địa có thể nổ ra trước cách mạng ở chính quốc; đảng cộng sản không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động mà còn đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc; thực hiện liên minh công - nông - trí ở Việt Nam,v.v.. Những đảng cộng sản chân chính đã vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp điều kiện thực tiễn của mỗi nước. Điều đó chứng tỏ phát triển là một giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy mà chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại và phát triển. Nhờ phát triển mà chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại, chính sự tồn tại lại đòi hỏi chủ nghĩa Mác - Lênin phải được phát triển.

Cùng với phát triển thì chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa nhân đạo triệt để nhất. Bởi lẽ, sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng do nhu cầu giải phóng con người và cũng nhằm mục đích giải phóng con người. Ngoài mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi hình thức người nô dịch người, người áp bức người, người đàn áp người, chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục tiêu nào khác. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(5).

 Phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử cũng là một giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bởi lẽ, nhân loại đã tìm ra rất nhiều phương pháp nghiên cứu mới nhưng chưa có phương pháp nào thay thế được phương pháp biện chứng duy vật mà chỉ có làm giàu thêm cho phương pháp biện chứng duy vật mà thôi. Còn với quan niệm duy vật về lịch sử thì đúng như Ph.Ănghen đã khẳng định, giống như Đác-uyn đã phát hiện ra quy luật của thế giới hữu cơ, C.Mác đã phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội loài người(6). Còn V.I.Lênin thì khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”(7). Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác về bản chất cũng là chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhưng đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội. Trong xã hội thì các quy luật chỉ có thể nảy sinh, tồn tại, vận động thông qua hoạt động thực tiễn có ý thức của con người. Do vậy, bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người có thể tác động làm cho quy luật nhanh hoặc chậm diễn ra hơn. Đó chính là tính xu hướng thể hiện đặc thù của quy luật xã hội và quan niệm duy vật về lịch sử bao quát được đặc thù này. Cũng vì vậy mà quan niệm duy vật về lịch sử mang giá trị bền vững.

Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, internet vạn vật, dữ liệu lớn (Big data), các nhà sản xuất đã sử dụng nhiều robot, dây chuyền tự động hóa nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng năng suất lao động. Lợi dụng tình hình này nhiều ý kiến cho rằng, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác cũng như học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin không còn đúng nữa. Tuy nhiên, chúng ta đều rõ nếu không có người công nhân chế tạo, lập trình, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa robot, dây chuyền tự động hóa thì robot, dây chuyền tự động hóa chỉ là đống sắt vụn vô tri, vô giác. Trong mối quan hệ giữa người lao động và máy móc (trong đó có robot, dây chuyền tự động) thì người lao động mà ở đây là người công nhân vẫn đóng vai trò quyết định. Đúng là giai cấp công nhân có sự biến đổi về mặt cơ cấu như công nhân “cổ xanh”, công nhân “cổ cồn”, công nhân “cổ vàng” nhưng họ đều là công nhân, đều là người lao động và thiếu họ thì nền sản xuất hiện đại không thể tồn tại. Do vậy, cái mà tạo ra giá trị thặng dư vẫn là sức lao động sống của người công nhân. Điều này vẫn giữ nguyên giá trị từ những cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn như trên đã nêu. Hơn nữa, xét về mặt kinh tế, người công nhân hiện đại vẫn là người sản xuất chính ra của cải vật chất của xã hội hiện đại. Xét về mặt chính trị, tư tưởng thì chỉ có giai cấp công nhân hiện đại mới là người có thể đoàn kết với nông dân, những người lao động khác và dẫn dắt họ xây dựng được xã hội mà ở đó có công bằng, tự do, bác ái, mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Xét về mặt văn hóa, đạo đức, chỉ có giai cấp công nhân hiện đại mới xây dựng được các giá trị văn hóa, đạo đức mới như công bằng, chân, thiện, mỹ, bình đẳng, tôn trọng,v.v.. Do vậy, giai cấp công nhân hiện đại vẫn đóng vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa bóc lột, áp bức, nô dịch con người. Đúng như C.Mác nói: “trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ sẽ giành được cả thế giới”(8).

Lịch sử vận động, phát triển của nhân loại đã chứng minh, sự phát triển của lịch sử xã hội loài người không theo kiểu duy nhất “kinh tế quyết định”; không theo kiểu “phương Tây là trung tâm”; cũng không theo kiểu “làn sóng thứ ba”. Mặc dù, sự phát triển của các quốc gia, dân tộc là hết sức đa dạng, phong phú nhưng vẫn theo quy luật thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao một cách lịch sử - tự nhiên. Bởi lẽ, những nguyên nhân dẫn tới những sự thay thế này là do những mâu thuẫn bên trong lòng của mỗi hình thái kinh tế - xã hội quy định. Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,... Những mâu thuẫn này được giải quyết sẽ tạo cho sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội mới. Quá trình này diễn ra không phụ thuộc vào ý chí, mong muốn của con người. Do vậy, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”(9). Cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn đều chứng tỏ học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vẫn giữ nguyên giá trị.

Mặc dù CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu sụp đổ, nhưng như vậy không có nghĩa là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH sụp đổ. Không thể đồng nhất sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH. Đây là sự sụp đổ của một mô hình CNXH giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ, không đổi mới; sự sụp đổ của nhận thức sai lầm, giáo điều về CNXH. Hơn nữa, sự tồn tại, đổi mới, mở cửa, phát triển của CNXH ở Cu Ba, Lào, Việt Nam, v.v.. cũng chứng tỏ CNXH với tư cách là một lý tưởng, một chế độ chính trị, một phong trào hiện thực vẫn tồn tại và phát triển. Do vậy, có thể khẳng định lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH vẫn là một giá trị bền vững.

2. Ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho giai cấp công nhân hiện đại và nhân loại tiến bộ.

Thời đại ngày nay đang có nhiều biến đổi ngày càng khó lường, nhiều học thuyết, nhiều trào lưu tư tưởng tìm cách len lỏi vào phong trào công nhân, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho giai cấp công nhân hiện đại và nhân loại tiến bộ. Với lý luận hình thái kinh tế-xã hội, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, với phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn trang bị cho giai cấp công nhân hiện đại cách tiếp cận khoa học, khách quan về thế giới đương đại cũng như con đường giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân. Trên cơ sở tiếp cận khách quan, khoa học, giai cấp công nhân với phương pháp luận khoa học biện chứng sẽ nhận thức rõ quy luận vận động của lịch sử loài người. Trên cơ sở đó, tin tưởng vào tương lai của nhân loại một cách có căn cứ. Dù thế giới có đổi thay, dù khoa học công nghệ có biến đổi nhanh, khó lường, dù chủ nghĩa đế quốc không từ thủ đoạn nào chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng với thế giới quan, phương pháp luận khoa học, giai cấp công nhân hiện đại vẫn tin vào chính chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào tương lai tươi sáng của nhân loại, tin vào con đường giải phóng mình và giải phóng nhân loại tiến bộ.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học duy nhất đáp ứng yêu cầu giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức.

Thực tế gần 172 năm phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin và gần 103 năm phát triển của CNXH hiện thực đã chứng tỏ, cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng nhiệm vụ lịch sử giải phóng triệt để con người mà chưa học thuyết nào có thể thay thế được. Đã xuất hiện nhiều lý thuyết, nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều học thuyết đặt ra nhiệm vụ giải phóng con người, nhưng về cơ bản đều là những học thuyết, trào lưu không đáp ứng yêu cầu giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân một cách triệt để, khoa học, thực tiễn. Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin ngay từ mục đích ra đời đã vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân với những con đường, biện pháp, cách thức khoa học, thực tiễn mới đủ cơ sở để giải phóng giai cấp công nhân. Một số tôn giáo cũng muốn giải phóng con người nhưng phải sau khi chết mới được giải phóng thực sự. Chủ nghĩa Mác - Lênin hướng vào giải phóng con người hiện thực và đền bù cho con người hiện thực đang sống, đang hoạt động thực tiễn. Mọi lập luận, lý giải của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ nhằm phục vụ cho việc giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân khỏi mọi hình thức nô lệ, áp bức, bóc lột, nô dịch. Vậy mục đích này có gì sai với mưu cầu, ước vọng, hoài bão của loài người chân chính? Phải chăng nó sai ở chỗ nó muốn đạp đổ mọi hình thức người áp bức người, người nô dịch người, người đàn áp người. Khi ấy nó động chạm vào lợi ích của những kẻ đi nô dịch, thống trị, áp bức, đàn áp. Chính vì vậy, mà các giai cấp thống trị, nô dịch, đàn áp, áp bức tìm mọi cách chống phá, xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết muốn lật đổ sự thống trị của các giai cấp thống trị này?! Có thể nói, sự chống phá quyết liệt của những kẻ thống trị đối với chủ nghĩa Mác - Lênin phần nào cũng nói lên tính khoa học, nhân văn, cách mạng của chính chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học trang bị cho ta phương pháp luận nhận thức đúng đắn xu thế của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Với phương pháp biện chứng, thế giới quan duy vật, lý luận hình thái kinh tế-xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rằng từ trong lòng của chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ nảy sinh những điều kiện, tiền đề về khoa học, kinh tế, vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực cho sự ra đời của một xã hội mới tốt đẹp hơn - đó là CNXH, chủ nghĩa cộng sản. Các nước tư bản hiện đại có sự tăng trưởng kinh tế và có sự phát triển về nhiều mặt. Những thành tựu này chính là thành tựu của nhân loại tồn tại dưới chủ nghĩa tư bản. Đây không phải là thành tựu của riêng chủ nghĩa tư bản. Hơn nữa, đúng như một nhận định của một giáo sư người Anh: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(10). Chủ nghĩa tư bản ngày nay đạt nhiều thành tựu về kinh tế, khoa học-công nghệ, giáo dục nhưng chủ nghĩa tư bản không bao giờ giải quyết được một cách triệt để những vấn đề bất công xã hội, đói nghèo của một bộ phận dân cư, kiểm soát vũ khí, hủy hoại môi trường tự nhiên,v.v.. Bởi do lợi ích của giai cấp thống trị không cho phép họ giải quyết một cách triệt để những vấn đề này.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho những người cộng sản trong lựa chọn con đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngay từ cuối 1845 đầu 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một ý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”(11). Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin có vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho những người cộng sản lựa chọn, tìm tòi con đường xây dựng CNXH trên đất nước của mình. Những con đường, biện pháp ấy phải được tìm thấy từ trong thực tiễn mỗi quốc gia, dân tộc, chứ không thể tìm từ một ý tưởng nào đó rồi bắt hiện thực khuôn theo. Chính phương pháp luận này là do chủ nghĩa Mác - Lênin mang lại. Do vậy, với phương pháp luận này những người cộng sản chân chính sẽ vận dụng sáng tạo, thành công những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào nhận thức mô hình và con đường xây dựng CNXH trên quê hương của mình.

Chủ nghĩa Mác - Lênin trang bị cho những người cộng sản Việt Nam phương pháp luận khoa học để thực hiện đổi mới thành công.

Nhờ vận dụng đúng đắn thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút kinh nghiệm từ cải tổ của Liên Xô, quán triệt tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được mô hình CNXH Việt Nam với tám đặc trưng bản chất; tám phương hướng xây dựng CNXH và chín mối quan hệ lớn cần giải quyết. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam còn đứng vứng trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết tốt nhiều vấn đề thực tiễn nảy sinh như xóa thế bao vây cấm vận, mở rộng đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân có điều kiện; chú trọng xây dựng đảng về đạo đức; phát triển kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN,v.v.. Nhờ vậy, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đạt nhiều thành tựu rất đỗi tự hào. Những thành tựu này có nhiều nguyên nhân, trong có có nguyên nhân Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, kiên quyết trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn nảy sinh.

Như vậy, có thể khẳng định, thực tiễn có nhiều đổi thay, khoa học, công nghệ có nhiều đột phá, phong trào cách mạng có nhiều biến động nhưng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị. Có thể có những luận điểm riêng biệt nào đó do thực tiễn đổi thay phải được bổ sung, phát triển nhưng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, cách mạng bền vững. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đương đại; xây dựng CNXH và thực hiện sự nghiệp đổi mới vì CNXH.

NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ 11 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII

 

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------

Số 60-NQ/TW

Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2025

NGHỊ QUYẾT

HỘI NGHỊ LẦN THỨ 11 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII

Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp từ ngày 10/4 đến ngày 12/4/2025 tại Thủ đô Hà Nội, sau khi xem xét và thảo luận các tờ trình, đề án và báo cáo của Bộ Chính trị, căn cứ kết quả biểu quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

QUYẾT NGHỊ

1. Thông qua nội dung cơ bản các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV sau đây:

- Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

- Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.

- Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

- Báo cáo đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030.

Giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương và Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để chỉ đạo các Tiểu ban Đại hội XIV tiếp thu, hoàn thiện các dự thảo văn kiện trên để lấy ý kiến đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 theo quy định.

2. Cơ bản thống nhất dự thảo Phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương và Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để chỉ đạo hoàn thiện Phương hướng công tác nhân sự, tiếp tục báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

3. Cho ý kiến về giới thiệu nhân sự bổ sung quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV để Bộ Chính trị xem xét, quyết định quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2026 - 2031 theo thẩm quyền.

4. Cơ bản thống nhất Đề án phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương và Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để ban hành Kết luận về phương hướng bầu cử và Chỉ thị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; chỉ đạo Đảng uỷ Quốc hội tổ chức triển khai thực hiện; lãnh đạo, chỉ đạo công tác chuẩn bị và tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

5. Cơ bản thống nhất với các nội dung đề xuất của Bộ Chính trị và Đề án về phương án sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập cấp xã và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; sắp xếp các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; xây dựng hệ thống tổ chức đảng ở địa phương; chủ trương sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013.

Thông qua một số nội dung cụ thể tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị như sau:

- Về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp: (1) Đồng ý chủ trương tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp: Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), cấp xã (xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố); kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện từ ngày 01/7/2025 sau khi Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 (sửa đổi) có hiệu lực thi hành. (2) Đồng ý số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh sau sáp nhập là 34 tỉnh, thành phố (28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc Trung ương); tên gọi và trung tâm chính trị - hành chính của đơn vị hành chính cấp tỉnh sau sắp xếp được xác định theo các nguyên tắc nêu tại Tờ trình và Đề án của Đảng uỷ Chính phủ (Danh sách chi tiết kèm theo). (3) Đồng ý sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã bảo đảm cả nước giảm khoảng 60 - 70% số lượng đơn vị hành chính cấp xã so với hiện nay.

- Về tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ: (1) Đồng ý chủ trương sắp xếp, tinh gọn hợp nhất cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã như Tờ trình và Đề án của Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy phải bảo đảm sâu sát cơ sở, địa bàn, chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân và đoàn viên, hội viên của tổ chức mình. (2) Thống nhất chủ trương kết thúc hoạt động của công đoàn viên chức, công đoàn lực lượng vũ trang; giảm mức đóng góp công đoàn phí của đoàn viên công đoàn.

- Về hệ thống tổ chức Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp: Đồng ý chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân; hệ thống tổ chức Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân có 3 cấp: Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, cấp tỉnh, cấp khu vực. Kết thúc hoạt động của Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao và Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện.

- Về hệ thống tổ chức đảng ở địa phương: Đồng ý chủ trương lập tổ chức đảng ở địa phương tương ứng với hệ thống hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Kết thúc hoạt động của đảng bộ cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố, quận trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Lập tổ chức đảng tương ứng với đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã theo đúng Điều lệ Đảng, quy định của Trung ương.

Giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương và Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để chỉ đạo, hoàn thiện, ban hành các quy định, hướng dẫn có liên quan bảo đảm hệ thống tổ chức đảng ở địa phương hoạt động ổn định, không gián đoạn.

Giao Bộ Chính trị chỉ đạo Đảng uỷ Chính phủ: Chỉ đạo hoàn thiện Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp (trong đó, nghiên cứu, rà soát hoàn thiện tiêu chí về sắp xếp các xã, phường, đặc khu) và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; chỉ đạo cơ quan chức năng phối hợp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương liên quan hoàn thiện hồ sơ Đề án sắp xếp, sáp nhập, hợp nhất đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định theo thẩm quyền; khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng ở Trung ương phối hợp chặt chẽ với các địa phương tham mưu hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời tổ chức thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và tổ chức hoạt động chính quyền địa phương 2 cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương, bảo đảm đủ điều kiện, nguồn lực để thực hiện, nâng cao vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương; rà soát chế độ, chính sách, lộ trình tinh giản biên chế, tính toán chi phí, cân đối ngân sách; bảo đảm thống nhất, đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Giao ban thường vụ các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và khẩn trương xây dựng Đề án theo hướng dẫn của cấp có thẩm quyền thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sắp xếp cấp xã. Trong đó, căn cứ tiêu chí và thực tế địa phương chủ động nghiên cứu, xây dựng phương án, báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định thực hiện sắp xếp, tên gọi, địa điểm đặt trụ sở xã, bảo đảm chính quyền cấp xã tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân, phục vụ kịp thời lợi ích thiết thực của Nhân dân, tiết giảm chi phí; đồng thời, triển khai tổ chức hoạt động chính quyền địa phương 2 cấp theo quy định pháp luật bảo đảm đúng lộ trình, tiến độ đề ra, đạt mục tiêu tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả gắn với tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong sắp xếp cán bộ, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp bảo đảm không ngắt quãng và không gián đoạn.

6. Cơ bản thống nhất nội dung sửa đổi, bổ sung Quy định số 232-QĐ/TW, ngày 20/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về thi hành Điều lệ Đảng; Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28/7/2021 và Quy định số 262-QĐ/TW, ngày 03/02/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

Giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương để chỉ đạo tiếp thu, hoàn thiện và ban hành theo thẩm quyền.

7. Cơ bản thống nhất nội dung sửa đổi, bổ sung Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14/6/2024 và Kết luận số 118-KL/TW, ngày 18/01/2025 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương và Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để chỉ đạo tiếp thu, hoàn thiện và ban hành theo thẩm quyền.

8. Thống nhất chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước liên quan đến các quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; các quy định về chính quyền địa phương phục vụ việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; bảo đảm hoàn thành trước ngày 30/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; quy định thời gian chuyển tiếp để bảo đảm hoạt động thông suốt, không gián đoạn, phù hợp với lộ trình dự kiến sắp xếp, sáp nhập.

Giao Bộ Chính trị chỉ đạo Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 theo đúng quy định; ban hành các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội liên quan đến việc sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp theo đúng tiến độ, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khai thông điểm nghẽn, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực cho phát triển; Đảng uỷ Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể về giấy tờ, thủ tục hành chính, sử dụng con dấu... tránh xáo trộn, lãng phí.

9. Thông qua Báo cáo của Bộ Chính trị về những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị lần thứ 10 đến Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và một số nhiệm vụ trọng tâm từ Hội nghị lần thứ 11 đến Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Báo cáo công tác hoàn thiện thể chế; Báo cáo công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng; các Báo cáo khái quát về tình hình đất nước, về những thách thức đe doạ an ninh, trật tự nổi lên thời gian gần đây, về tình hình thế giới, khu vực và phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới; tình hình và giải pháp liên quan đến ứng phó chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ.

10. Nghe Báo cáo chuyên đề về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

11. Đồng ý để đồng chí Nguyễn Văn Hiếu thôi giữ chức Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

12. Thi hành kỷ luật bằng hình thức Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Trương Hòa Bình, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Bí thư Ban cán sự đảng Chính phủ, nguyên Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tổ chức, nhất là người đứng đầu tập trung sửa đổi, bổ sung, xây dựng hoàn thiện thể chế, nhất là các quy định về quản lý nhà nước, quản trị quốc gia, quản lý xã hội theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, tổ chức bộ máy của từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân; nhiệm vụ trong giai đoạn tới là rất nặng nề và nhạy cảm nhưng cũng là cơ hội để các cấp, các ngành, các địa phương lựa chọn, bố trí, sắp xếp cán bộ. Điều chỉnh kịp thời, ban hành đồng bộ các quy định, hướng dẫn để các cơ quan, đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị vận hành thông suốt, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả theo mô hình tổ chức mới.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và mục tiêu tăng trưởng GDP đạt từ 8% trở lên, cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại năm 2025, tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.


Nơi nhận:
- Các ban đảng, đảng ủy trực thuộc Trung ương,
- Các tỉnh ủy, thành ủy,
- Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.

T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ




Tô Lâm

DANH SÁCH DỰ KIẾN TÊN GỌI CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ VÀ TRUNG TÂM CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH (TỈNH LỴ) CỦA 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

(Kèm theo Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12/4/2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII)

I- Các đơn vị hành chính cấp tỉnh không thực hiện sáp nhập

1. Thành phố Hà Nội.

2. Thành phố Huế.

3. Tỉnh Lai Châu.

4. Tỉnh Điện Biên.

5. Tỉnh Sơn La.

6. Tỉnh Lạng Sơn.

7. Tỉnh Quảng Ninh.

8. Tỉnh Thanh Hoá.

9. Tỉnh Nghệ An.

10. Tỉnh Hà Tĩnh.

11. Tỉnh Cao Bằng.

II- Các đơn vị hành chính cấp tỉnh mới sau sáp nhập, hợp nhất

1. Hợp nhất tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang, lấy tên là tỉnh Tuyên Quang, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Tuyên Quang hiện nay.

2. Hợp nhất tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái, lấy tên là tỉnh Lào Cai, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Yên Bái hiện nay.

3. Hợp nhất tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên, lấy tên là tỉnh Thái Nguyên, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Thái Nguyên hiện nay.

4. Hợp nhất tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ và tỉnh Hoà Bình; lấy tên là tỉnh Phú Thọ, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Phú Thọ hiện nay.

5. Hợp nhất tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang, lấy tên là tỉnh Bắc Ninh, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Bắc Giang hiện nay.

6. Hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, lấy tên là tỉnh Hưng Yên, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Hưng Yên hiện nay.

7. Hợp nhất tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, lấy tên là thành phố Hải Phòng, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại thành phố Hải Phòng hiện nay.

8. Hợp nhất tỉnh Hà Nam, tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Định; lấy tên là tỉnh Ninh Bình, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Ninh Bình hiện nay.

9. Hợp nhất tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị, lấy tên là tỉnh Quảng Trị, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Quảng Bình hiện nay.

10. Hợp nhất tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, lấy tên là thành phố Đà Nẵng, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại thành phố Đà Nẵng hiện nay.

11. Hợp nhất tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi, lấy tên là tỉnh Quảng Ngãi, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Quảng Ngãi hiện nay.

12. Hợp nhất tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định, lấy tên là tỉnh Gia Lai, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Bình Định.

13. Hợp nhất tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hoà, lấy tên là tỉnh Khánh Hoà, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Khánh Hoà hiện nay.

14. Hợp nhất tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đắk Nông và tỉnh Bình Thuận; lấy tên là tỉnh Lâm Đồng, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Lâm Đồng hiện nay.

15. Hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên, lấy tên là tỉnh Đắk Lắk, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay.

16. Hợp nhất tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh; lấy tên là Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

17. Hợp nhất tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước, lấy tên là tỉnh Đồng Nai, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Đồng Nai hiện nay.

18. Hợp nhất tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An, lấy tên là tỉnh Tây Ninh, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Long An.

19. Hợp nhất thành phố cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang; lấy tên là thành phố Cần Thơ, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại thành phố Cần Thơ hiện nay.

20. Hợp nhất tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh; lấy tên là tỉnh Vĩnh Long, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Vĩnh Long hiện nay.

21. Hợp nhất tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp, lấy tên là tỉnh Đồng Tháp, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Tiền Giang.

22. Hợp nhất tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, lấy tên là tỉnh Cà Mau, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Cà Mau hiện nay.

23. Hợp nhất tỉnh An Giang và tỉnh Kiên Giang, lấy tên là tỉnh An Giang, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Kiên Giang.

Ý nghĩa của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay

 Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, bao trùm trên nhiều lĩnh vực và có tác động sâu sắc đến sự phát triển của Việt Nam trong tương lai. Dưới đây là những ý nghĩa chính:

1. Về mặt kinh tế:

  • Phát triển bền vững: Đổi mới kinh tế hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, dựa trên tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, và bảo vệ môi trường.
  • Nâng cao năng lực cạnh tranh: Tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc cải thiện môi trường đầu tư, đổi mới sáng tạo, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
  • Cơ cấu lại nền kinh tế: Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng cao, và giảm sự phụ thuộc vào các ngành thâm dụng lao động và tài nguyên.
  • Hội nhập quốc tế sâu rộng: Thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả, mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư, và hợp tác với các nước trên thế giới.
  • Phát triển kinh tế số: Đẩy mạnh phát triển kinh tế số, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo vào sản xuất, kinh doanh và quản lý.

2. Về mặt xã hội:

  • Nâng cao đời sống nhân dân: Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giảm nghèo bền vững, và đảm bảo an sinh xã hội.
  • Phát triển con người toàn diện: Chú trọng phát triển con người toàn diện, có kiến thức, kỹ năng, sức khỏe, đạo đức, và tinh thần trách nhiệm.
  • Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh: Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi mọi người đều có cơ hội phát triển và đóng góp cho xã hội.
  • Phát triển văn hóa: Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.
  • Tăng cường y tế và giáo dục: Đầu tư vào y tế và giáo dục để nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển nguồn nhân lực.

3. Về mặt chính trị:

  • Củng cố và hoàn thiện thể chế: Củng cố và hoàn thiện thể chế, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, và quyền làm chủ của nhân dân.
  • Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
  • Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Quyết liệt phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.
  • Dân chủ hóa xã hội: Mở rộng dân chủ, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân, tăng cường sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước và xã hội.
  • Ổn định chính trị: Duy trì ổn định chính trị, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội.

4. Về mặt quốc phòng, an ninh và đối ngoại:

  • Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ: Xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh vững mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
  • Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định: Duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế và xã hội.
  • Đẩy mạnh quan hệ đối ngoại: Đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
  • Chủ động hội nhập quốc tế: Chủ động hội nhập quốc tế, tham gia vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế, và đóng góp vào các vấn đề chung của thế giới.

5. Ý nghĩa tổng quát:

  • Xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh: Công cuộc đổi mới toàn diện nhằm xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.
  • Thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh": Đổi mới là con đường để thực hiện mục tiêu cao cả mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
  • Đảm bảo sự phát triển bền vững: Đổi mới hướng đến sự phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai.
  • Tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: Đổi mới khẳng định và làm sâu sắc hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam đã lựa chọn.

Tóm lại, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay là một quá trình cách mạng sâu sắc và toàn diện, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai. Nó đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm, và đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân để đưa đất nước ta ngày càng phát triển.