Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 60 NĂM NGÀY BÁC HỒ BẮT ĐẦU VIẾT DI CHÚC "KIM CHỈ NAM SOI ĐƯỜNG CHO TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN"!

     Ngày 10/5/1965, trong lúc đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh miền Bắc, giữa muôn trùng lo toan vì nước, vì dân, cảm thấy mình "không được khỏe như mấy năm trước," Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt bút viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc thiêng liêng.

60 năm đã trôi qua, "mấy lời để lại" ấy cùng với tư tưởng của Người luôn đồng hành cùng dân tộc, soi rọi, dẫn dắt toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta luôn kiên định và trung thành với sự nghiệp, lý tưởng cách mạng của Người, kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà Người đã trọn đời cống hiến và hy sinh; mang lá cờ bách chiến bách thắng của Người tới đích cuối cùng.

Bác dành thời gian và tâm huyết để viết Di chúc
Trong hồi ký đầy xúc động, đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác kể lại: "Đúng 9 giờ, Bác Hồ ngồi chăm chú viết. Vấn đề chắc đã suy ngẫm từ lâu. Phòng làm việc trên nhà sàn yên tĩnh. Gió mát dịu, thoang thoảng hương thơm của hoa vườn... Chính vào giờ phút đó Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu "Tuyệt đối bí mật” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau."

Đó chính là lúc Người bắt đầu viết Di chúc - một văn bản đặc biệt quan trọng mà Bác khiêm tốn gọi là "Mấy lời để lại."

Trong phần mở đầu bản Di chúc năm 1965, Người viết: "Năm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người "xưa nay hiếm." Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm, mấy tháng nữa. Vì vậy, tôi để lại mấy lời này… phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác...."

Trong cả bản tài liệu "Tuyệt đối bí mật” dài 3 trang ấy, Bác không nói nhiều về mình, mà dành để nói về Đảng, về dân, về thế hệ cách mạng kế cận, về tương lai của Tổ quốc… Mỗi câu, mỗi chữ trong Di chúc đều được Người cân nhắc kỹ lưỡng, không chỉ là lời căn dặn cuối đời, mà còn là sự đúc kết một tư tưởng lớn, một tấm lòng yêu nước thương dân sâu nặng.

Rồi những ngày tiếp theo của tháng Năm năm ấy hay những ngày trung tuần tháng Năm của các năm sau, Bác tiếp tục viết, sửa chữa, bổ sung Di chúc trong phòng làm việc ở nhà sàn.

Sau khi Bác mất, ngày 9/9/1969, trong Lễ truy điệu Người, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã xúc động công bố bản Di chúc của Người. Đó là bản Di chúc hoàn chỉnh được ghép từ các bản Di chúc mà Bác Hồ đã viết và sửa chữa, bổ sung trước đó.

20 năm sau, năm 1989, khi điều kiện cho phép, tất cả các bản thảo Di chúc của Bác đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) công bố đầy đủ.

Như vậy, Di chúc là "tài liệu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để viết. Bác đã cân nhắc từng ý, từng lời; nhưng mỗi ý, mỗi lời đều giản dị, chân thành như chính cuộc đời mà Bác đã sống. Việc nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung và viết lại di chúc không chỉ thể hiện Bác là người rất chu đáo, cầu toàn mà còn cho thấy Bác luôn trăn trở, suy nghĩ cho vận mệnh của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.

Kết tinh tình yêu thương và tầm nhìn vượt thời đại của Bác
Nội dung Di chúc không dài nhưng cô đọng và sâu sắc. Đó là tâm nguyện, tình cảm, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, Nhân dân và sự nghiệp cách mạng, thể hiện sâu sắc ở dự báo về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và ngày thống nhất đất nước, ở những chỉ dẫn về công việc của sự nghiệp cách mạng còn dang dở: "cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn."

Đó là những chỉ dẫn về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền với những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng: giữ gìn mối "đoàn kết trong Đảng," thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phục vụ nhân dân…; và nhiệm vụ chiến lược để giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng - là công tác chỉnh đốn Đảng.

Đó còn là những dặn dò, nhắc nhở về sự cần thiết phải "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau." Bác nhấn mạnh: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng” vừa "chuyên."

Trong Di chúc, Bác nghĩ cho người dân của mọi tầng lớp xã hội. Đối với Nhân dân lao động, Bác căn dặn: "Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Bác đặc biệt quan tâm đến những nhóm người yếu thế. Từ những người có công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc: "phải tìm mọi cách cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh”; đến phụ nữ: "phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả việc lãnh đạo”; và cả những nạn nhân của xã hội cũ: "phải vừa giáo dục vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những lao động lương thiện” (8). Qua đó, chúng ta càng thấy rõ tấm lòng đôn hậu, bao dung, tình thương yêu con người vô bờ bến của Bác.

Bên cạnh đó, Bác còn phác thảo lý luận về sự nghiệp đổi mới ở nước ta với những chỉ dẫn quan trọng về quản lý xã hội như: đào tạo nguồn nhân lực, sửa đổi chế độ giáo dục, khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế, chính sách miễn thuế nông nghiệp cho nông dân, chính sách xã hội, công bằng xã hội...

Gọi là Di chúc, nhưng bên trong lại không có mấy lời nhắc đến những yêu cầu của bản thân Người. Cả cuộc đời, Bác đã phấn đấu, hy sinh chỉ nhằm một mục đích "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu." Ngay cả đến trước lúc đi xa, điều Bác nuối tiếc nhất vẫn là "không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa." 

Xúc động hơn là Bác ra đi không đem theo gì, mà "để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”. Mong muốn cuối cùng của Bác là "toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới." 

Và một điểm đặc biệt khiến bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt lên mọi văn kiện chính trị thông thường, đó là sự hòa quyện giữa lý tưởng cách mạng và chiều sâu nhân văn. Không chỉ dặn dò về lý tưởng cộng sản, Bác còn căn dặn từng điều nhỏ nhất của đời sống con người. Đó không chỉ là những lời dặn dò, mà còn là thông điệp nhân đạo của một trái tim vĩ đại, luôn đặt con người vào trung tâm của mọi suy nghĩ, mọi hành động.

Ánh sáng soi đường trong hành trình đổi mới và phát triển đất nước
Trải qua 60 năm, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là những lời căn dặn cuối đời, mà đã trở thành kim chỉ nam soi đường cho toàn Đảng, toàn dân ta trên con đường dựng xây đất nước.

Trong từng giai đoạn lịch sử, từ thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước, đến thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển, Di chúc luôn là cội nguồn tinh thần, là ngọn đuốc dẫn lối để Đảng ta vững vàng trong vai trò cầm quyền, để Nhân dân ta tin tưởng, đoàn kết và không ngừng vươn lên.

Sau ngày thống nhất đất nước (1975), những chỉ dẫn trong Di chúc về nhiệm vụ xây dựng Đảng và chăm lo đời sống nhân dân đã được cụ thể hóa trong các nghị quyết, chủ trương của Đảng. Đặc biệt, tinh thần "giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” đã trở thành phương châm cốt lõi để Đảng không ngừng chỉnh đốn, tự đổi mới và tự hoàn thiện mình.

Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, những lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc về phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống Nhân dân lại một lần nữa bừng sáng, trở thành nền tảng để Đảng đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Các chương trình xóa đói giảm nghèo, chăm sóc người có công, nâng cao vai trò phụ nữ, bồi đắp thế hệ trẻ… đều là sự hiện thực hóa sinh động những điều Người căn dặn.

Trong công cuộc hội nhập quốc tế, Di chúc tiếp tục khơi nguồn cảm hứng về tinh thần độc lập, tự chủ, song hành với hợp tác và hữu nghị. Những điều Bác viết về việc "phải góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” đã trở thành kim chỉ nam để Việt Nam từng bước khẳng định vị thế, vai trò và uy tín trên trường quốc tế.

Thực tiễn hơn nửa thế kỷ qua cho thấy càng đi xa trên con đường phát triển, càng thấm thía giá trị trường tồn của Di chúc. Không chỉ ở tầm chiến lược, tư tưởng trong Di chúc còn thấm đẫm chất nhân văn, gợi mở cách tiếp cận mới cho những vấn đề hiện đại như phát triển bền vững, bảo vệ quyền con người, nâng cao chất lượng cuộc sống, giáo dục công dân toàn diện - những mục tiêu của một xã hội tiến bộ và nhân đạo, đúng như điều mà Bác hằng mong ước.

60 năm đã trôi qua kể từ ngày Bác viết những dòng Di chúc đầu tiên, nhưng ánh sáng từ Di chúc vẫn soi đường, tiếp sức cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. Đó là ánh sáng của lòng yêu nước thương dân, của đạo lý làm người, của khát vọng hòa bình và phát triển, của quyết tâm xây dựng một đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời Bác dặn.

Thực hiện Di chúc của Bác Hồ hôm nay không chỉ là hành động tri ân, mà là mệnh lệnh từ trái tim, để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam đều chung tay viết tiếp khúc tráng ca "độc lập-tự do-hạnh phúc” mà Người đã khởi xướng và nỗ lực thực hiện bằng cả cuộc đời./.
Theo TTXVN
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NGÀY 10/5!

🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
🌹 Ngày 10/5/1941, là ngày đầu tiên diễn ra Hội nghị Trung ương 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc họp tại Pác Bó (Cao Bằng). Hội nghị này kéo dài tới 19/5/1941 đã đưa ra nhiều quyết sách cực kỳ quan trọng với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh và một cương lĩnh chính trị xác định nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng. Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Hội nghị cũng bầu đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư của Đảng.
🌹 Ngày 10/5/1958, Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với các vị lão thành tại Khu điều dưỡng và an dưỡng cán bộ miền Nam ra miền Bắc tập kết. Bác chia sẻ tình cảm: “Cán bộ và đồng bào miền Nam ra Bắc tập kết, hẳn ai cũng nhớ tới quê hương. Tình cảm ấy rất chính đáng. Nhưng mỗi người chúng ta có hai gia đình: Gia đình riêng, nhỏ và đại gia đình là Tổ quốc. Cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước hiện nay của đồng bào miền Nam và miền Bắc cũng là để cho gia đình chúng ta sum họp”.
♦️ Cùng ngày, Bác tham gia tiếp xúc cử tri Hà Nội tại Nhà hát Nhân dân (Hà Nội) và trả lời nhiều câu hỏi của đồng bào. Về chính sách “thắt lưng buộc bụng”, Bác nói: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như làm ruộng. Trước phải khó nhọc cày bừa, chân bùn tay lấm, làm cho lúa tốt thì mới có gạo ăn...”; về “thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội là mấy năm?”, Bác trả lời: “Trước kia cũng có người hỏi: Trường kỳ kháng chiến là mấy năm? Đảng và Chính phủ đã trả lời: Trường kỳ có thể là năm năm, mười năm hoặc mười lăm năm. Chúng ta đoàn kết quyết tâm kháng chiến, đến chín năm ta đã thắng lợi. Việt Nam ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc... Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn khởi thi đua xây dựng, thì thời kỳ quá độ có thể rút ngắn hơn...”.
🌹 Ngày 10/5/1961, Báo Nhân Dân bắt đầu công bố (trong 12 số liên tục) tài liệu “Vừa đi đường vừa kể chuyện” với bút danh “T.Lan” đưa ra những tư liệu liên quan đến cuộc đời và hoạt động của Bác từ những năm 20 thế kỷ XX cho đến khi trở về Tổ quốc (1941). Cuối loạt bài có lời kết luận “Chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thực hiện khắp thế giới: Điều đó cũng rõ rệt và chắc chắn như mặt trời mọc từ phương Đông”.
🌹 Ngày 10/5/1965, Bác Hồ bắt đầu khởi thảo tài liệu được ghi chú “Tuyệt đối bí mật”. Đó là Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kể từ đó, mỗi năm, vào khoảng thời gian trước sinh nhật, văn kiện này được Bác đem ra xem lại và hoàn thiện như một sự chủ động chuẩn bị một cách thanh thản và cẩn trọng.
🌹 Ngày 10/5/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bổ sung lần cuối trong bản “Di chúc” của Người, được đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam công bố tại Lễ tang năm 1969.. Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Lời căn dặn về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau thể hiện sự sâu sắc trong tầm nhìn và tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ nhìn hiện tại mà còn hướng về tương lai; không chỉ dành tâm huyết cho sự nghiệp cách mạng trước mắt, mà còn chăm lo vun trồng cái gốc của sự nghiệp đó để nó trở nên vững bền. Luận điểm đó chứa đựng thế giới quan khoa học, cách mạng và biện chứng của một lãnh tụ cách mạng, phản ánh tầm nhìn xa, trông rộng của một nhà hiền triết, một nhà văn hóa lớn; đã trở thành một chân lý của cách mạng./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG NỘI DUNG CỐT LÕI TRONG DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

         Cách đây tròn 60 năm, ngày 10/5/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc lịch sử. Trong 4 năm cuối đời, cứ vào trung tuần tháng 5, vài ngày trước sinh nhật, Người lại dành thời gian để viết và sửa những lời dặn dò trong Di chúc.

Từng câu, từng lời trong Di chúc là kết tinh của sự suy xét, trù tính thấu đáo, vừa cụ thể, vừa bao quát toàn bộ công việc, từ việc riêng cho đến những việc trọng đại của quốc gia, dân tộc. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta, một văn kiện ở tầm cương lĩnh về sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, định hướng cho tương lai phát triển của dân tộc.

Cho đến ngày nay, Di chúc của Người đã luôn đồng hành, soi rọi, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.



Yêu nước ST.

NHIỀU NGƯỜI THẮC MẮC ĐẶT CÂU HỎI: VÌ SAO BỨC ẢNH PHONG QUÂN HÀM NĂM 1958 MÀ NHÓM PHỤC DỰNG, LẠI "BỎ SÓT" MỘT NGƯỜI? BẠN CÓ BIẾT GÌ VỀ CÂU CHUYỆN NÀY KHÔNG?

HOÀNG VĂN HOAN - NGUYÊN ỦY VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ - KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC BỊ TỬ HÌNH VẮNG MẶT

Hoàng Văn Hoan (1905 - 1991), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam.

Hoàng Văn Hoan sinh ra tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, tên thật là Trần Xuân Phong. Năm 1926, Hoan tham gia lớp huấn luyện cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh mở ở Trung Quốc. Năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. 

Sau Cách mạng Tháng Tám, là Thứ trưởng Bộ quốc phòng và Ủy viên chính trị toàn quốc Vệ quốc quân. 

Từ năm 1950 đến năm 1957 làm Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc kiêm Đại sứ tại Triều Tiên và Mông Cổ. Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Bộ Chính trị.

Năm 1951, Hoàng Văn Hoan được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và từ năm 1956 đến năm 1976 là Ủy viên Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1976 khi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc xấu đi và không thể hàn gắn về vấn đề Campuchia và Hoàng Sa, khi đó Hoàng Văn Hoan theo đường lối Maoist, hoàn toàn ủng hộ phái bảo thủ tại Trung Quốc. Nên năm 1976, Hoan bị cho ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Ngày 11 tháng 6 - 1979, lấy cớ sang Cộng hòa Dân chủ Đức để chữa bệnh, với sự giúp sức của tình báo Trung Quốc, Hoàng Văn Hoan đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) rồi sang Bắc Kinh.

Tại Bắc Kinh, ông ta đã xuyên tạc tình hình trong nước, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, "tố cáo" Việt Nam đã đối xử với người Việt gốc Hoa còn "tệ hơn cả cách Hitler đối xử với người Do Thái". Ông ta liên tục hô hào lật đổ chính quyền ở Việt Nam để thực hiện một cuộc cách mạng mới. Ông ta đã "vẽ đường" cho chính quyền Bắc Kinh khi đó thực hiện chiến tranh xâm lược, phá hoại, giết hại đồng bào ta. 

Sau sự kiện này, Hoan đã trở thành biểu tượng của sự phản bội. Truyền thông Việt Nam lúc đó đã so sánh Hoàng Văn Hoan với Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc. Đó là thời điểm quan hệ Việt - Trung căng thẳng khi Trung Quốc xua quân xâm lược Việt Nam hồi đầu năm.

Không lâu sau, nhà nước Việt Nam lần lượt hủy bỏ các chức vụ và xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của Hoan. Ngày 26 tháng 6 năm 1980, Việt Nam tuyên bố xử tử hình vắng mặt Hoàng Văn Hoan.

Năm 1990, với sự nỗ lực cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, quan hệ Việt - Trung được khôi phục. Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã cho đưa người nhà của Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc để Hoan được đoàn tụ với gia đình vào những năm tháng cuối đời.

Hoàng Văn Hoan chết tại Bắc Kinh năm 1991 và được Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước, xác được chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất của các quan chức cao cấp của Trung Quốc. Sau này hài cốt của Hoan đã được con trai chuyển về Việt Nam.

Lịch sử chứng kiến, bên cạnh những tấm gương xả thân hy sinh vì đại nghĩa để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cũng không quên những kẻ mãi quốc cầu vinh, vì mưu lợi riêng, tham công danh phú quý mà cúi đầu làm tay sai, bán rẻ Tổ quốc, dòng họ tổ tiên. Quyết định không phục dựng màu nhân vật này, tuy nhiên không xóa đi bởi đó là 1 phần của lịch sử./.
Yêu nước ST.

CHỐNG PHÁ THÌ GIỎI, NHƯNG NGHE ĐI TÙ LÀ RUN RẨY!

        Hồng Thái Hoàng - một trong số ít "rân chủ" còn sót lại ngoài xã hội, vẫn ngày ngày đăng đàn những luận điệu xuyên tạc, chống phá trên mạng. Gần đây, khi bị Công an TP Hà Nội triệu tập làm việc và ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh, Hoàng vẫn còn tỏ vẻ ngạo nghễ, tự tin vì cho rằng mình có "số má"!

Thế nhưng, sau buổi làm việc với cơ quan điều tra, Hoàng bỗng nhiên xuống giọng, đăng bài dài lê thê tuyên bố sẽ "giã từ con đường đấu tranh". Lý do? Vì phải chọn giữa “chăm con” và “chăn kiến”. Tất nhiên, thị chọn chăm con. Nghe qua tưởng như cao cả, nhưng thực chất chỉ là cách để che giấu nỗi sợ và đánh lạc hướng dư luận.

Sự thật là sau khi đối diện với những chứng cứ cụ thể từ cơ quan chức năng, Hoàng mới thấy rõ giới hạn của bản thân. Trước kia cứ ngỡ mình là “nhà hoạt động” tầm cỡ, vậy mà khi thông báo bị triệu tập, đám phản động ngoài nước cũng chẳng buồn đoái hoài. Không lời hỏi thăm, không đồng nào tiếp tế, càng không có ai “giải cứu”.

Nếu thật lòng vì con, thì Hoàng đã không kết giao với các phần tử bất hảo, đã không gieo rắc vào đầu đứa trẻ những tư tưởng lệch lạc, xuyên tạc đất nước từ khi nó còn thơ dại.

Giờ mong thị biết giữ lời, từ nay im lặng cho xã hội được yên./.





Khuyết danh ST.

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TIẾP NỐI MẠCH NGUỒN CỦA TINH THẦN QUỐC TẾ CAO CẢ!

         Hôm nay (9-5), Liên bang Nga tổ chức Lễ duyệt binh nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (9-5-1945 / 9-5-2025).

Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945) là một trong những cuộc chiến khốc liệt và cũng oanh liệt nhất trong lịch sử nhân loại. Trong cuộc chiến này, nhân dân và Hồng quân Liên Xô đã cùng toàn thể lực lượng tiến bộ trên thế giới đứng lên chống lại chủ nghĩa phát xít-thế lực đen tối từng gieo rắc chiến tranh, hủy diệt và thù hận khắp năm châu. Chiến thắng ngày 9-5-1945 của Hồng quân Liên Xô đã trở thành biểu tượng vĩ đại của tinh thần chống phát xít, giải phóng nhân loại khỏi thảm họa diệt chủng.

Ngược dòng lịch sử, trong trận chiến khốc liệt bảo vệ Moscow cuối năm 1941, đầu năm 1942, đội hình của Trung đoàn Quốc tế thuộc Lữ đoàn Mô tô cơ động đặc nhiệm (OMSBON)-lực lượng tinh nhuệ được huy động trực tiếp ra mặt trận-có 7 chiến sĩ Việt Nam. Đây là những học viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó có tên gọi Nguyễn Ái Quốc) và Đảng ta gửi sang Liên Xô đào tạo từ trước chiến tranh, nhằm chuẩn bị lực lượng cho cách mạng giải phóng dân tộc. Cùng với hàng nghìn thành viên OMSBON là những thanh niên mang quốc tịch khác nhau tới từ Tây Ban Nha, Bulgaria, Đức, Séc, Ba Lan, Hungary, Italy, Hy Lạp, Pháp, họ đã không chút do dự đứng vào hàng ngũ Hồng quân Liên Xô, anh dũng chiến đấu chống lại quân đội phát xít. Nhiều người trong số họ, trong đó có những chiến sĩ Việt Nam, đã ngã xuống trong cuộc chiến, góp sức mình ngăn chặn và tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, đem lại hòa bình cho nhân loại.

Ngày 12-12-1986, theo Sắc lệnh của Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô, Nhà nước Liên Xô đã truy tặng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc hạng Nhất và Huy chương vinh danh 40 năm Chiến thắng cho 7 chiến sĩ Việt Nam tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.

Việt Nam luôn trân trọng và tự hào về đóng góp của mình trong chiến thắng phát xít chung của nhân loại, coi đó là một phần không thể tách rời của lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam.

Từ kinh nghiệm xương máu của cha ông qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn thấu hiểu giá trị của hòa bình và tinh thần đoàn kết quốc tế. Kể từ khi trở thành thành viên Liên hợp quốc (LHQ) năm 1977, Việt Nam luôn tích cực đóng góp vào các hoạt động chung vì hòa bình và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, những năm gần đây, Việt Nam thể hiện mạnh mẽ vai trò trách nhiệm gìn giữ hòa bình (GGHB) và đóng góp tích cực cho cộng đồng quốc tế thông qua việc cử các đội quân tham gia lực lượng GGHB LHQ, đánh dấu bước chuyển lịch sử từ tham gia chiến đấu để giành lấy hòa bình, độc lập sang tham gia GGHB. Cùng với đó, Việt Nam còn là một trong những quốc gia tham gia sớm nhất trong việc triển khai hoạt động tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn động đất tại Myanmar, Thổ Nhĩ Kỳ, giúp nước bạn khắc phục hậu quả thiên tai, được bạn bè quốc tế và LHQ đánh giá cao...

Tất cả những điều trên góp phần khẳng định, Việt Nam luôn kiên định và nhất quán trong thực hiện đường lối đối ngoại “là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Từ chiến đấu vì chính nghĩa đến phụng sự vì nhân loại, người lính Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh và lý tưởng của Bộ đội Cụ Hồ, vừa anh dũng trên chiến trường, vừa nhân văn trong thời bình.

Việc Việt Nam cử lực lượng tham gia Lễ duyệt binh nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại tại Liên bang Nga năm 2025 là sự tiếp nối lịch sử và truyền thống tốt đẹp. Từ những thanh niên Việt Nam tham gia bảo vệ Moscow năm xưa đến những quân nhân Việt Nam với bước đi oai nghiêm mà rạng rỡ trên Quảng trường Đỏ hôm nay, đó là một mạch nguồn liên tục của tinh thần quốc tế cao cả, sẵn sàng đóng góp cho nền hòa bình chung của toàn nhân loại. Sự kiện này nhắc nhở chúng ta về bài học quý giá của lịch sử: Muốn bảo vệ hòa bình, các dân tộc phải đoàn kết lại; muốn ngăn ngừa chiến tranh, phải kiên quyết đấu tranh chống mọi mầm mống xâm lược, cực đoan, thù hận-những biến tướng mới của chủ nghĩa phát xít.

Trải qua bao thăng trầm, Việt Nam luôn kiên định đứng về phía hòa bình, công lý. Từ một quốc gia bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam đã vươn lên trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp chung của nhân loại trong việc xây dựng một thế giới hòa bình, công bằng và phát triển bền vững. Đó chính là thông điệp thời đại từ Chiến thắng phát xít 80 năm trước: Đoàn kết dân tộc kết hợp với đoàn kết quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù, dù trong chiến tranh hay trước các thách thức toàn cầu hôm nay.

Với tinh thần đó, Việt Nam cam kết tiếp tục cùng nhân loại tiến bộ nỗ lực hành động vì một tương lai tốt đẹp, nơi ngọn cờ hòa bình, độc lập và phát triển bền vững luôn tung bay trên bầu trời thế giới./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

VIỆT NAM SAO LẠI KHÔNG LIÊN QUAN?

     Không có Liên bang Xô Viết và đồng minh chiến thắng phát xít thì chủ nghĩa phát xít tiếp tục tồn tại. Lúc đấy, phong trào giải phóng dân tộc tại Việt Nam khó có cơ hội phát triển mạnh mẽ và giành độc lập năm 1945.

Việc quân Tưởng và quân Anh vào Việt Nam là một hệ quả phức tạp của cục diện hậu chiến toàn cầu. Không thể đổ lỗi cho Liên Xô khi chính họ cũng không có thực lực hay điều kiện can thiệp sâu vào Đông Dương lúc đó. Vừa mới thoát ra khỏi chiến tranh, 27 triệu người Liên Xô hy sinh, kinh tế bị tàn phá nặng nề, bo bo không có mà ăn chứ đừng nói bánh mì. Thân mình lo chưa nổi, lúc ấy họ lo cho ai được?

Nhưng khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Liên Xô là một trong những nước lớn đầu tiên công nhận và ủng hộ, hỗ trợ mạnh mẽ về ngoại giao, quân sự lẫn kinh tế.

Trong hội nghị Genève 1954, dù là đồng chủ tịch với vương quốc Anh, Liên Xô vẫn ủng hộ quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam. Các bên tham gia đàm phán, người làm trọng tài thì cần phải trung lập, không được can thiệp thô bạo vào quá trình đàm phán. Vậy nên, hông thể đổ lỗi cho Liên Xô và sau này là nước Nga gây nên sự chia cắt.

Nếu nói gây nên sự chia cắt Việt Nam phải nói đấy là ý đồ chiến lược bẩn thỉu của Mỹ và Châu Âu. Theo tinh thần hiệp ước Genève, lấy vỹ tuyến 17, tạm thời chia cắt 2 năm (1954-1956) nhưng năm 1953 phải tổ chức hiệp thương, bầu cử chọn ra một chính thể theo nguyện vọng của toàn dân Việt Nam. Mỹ và đồng minh Mỹ thừa biết rằng, nếu bầu cử tự do, dân chủ thì chính thể tay sai Bảo Đại- Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên sẽ bị thất bại thảm hại. Vậy nên, chúng tuyên bố xé bỏ hiệp định và bơm 738 tỷ dolla vào Nam Việt Nam nhằm nuôi sống, vận hành chế độ ngụy phục vụ chiến tranh xâm lược. Chính sự can thiệp này đã làm chậm lại quá trình thống nhất đất nước suốt 21 năm.

Vậy nên, việc Quân đội nhân dân Việt Nam cử đoàn tham gia lễ kỷ niệm chiến thắng phát xít là thể hiện sự tri ân lịch sử, đoàn kết quốc tế chính đáng, không chỉ với nước Nga mà với cả tiến trình cách mạng dân tộc, thống nhất đất nước./.

Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LIÊN XÔ - LIÊN BANG NGA VĨ ĐẠI, HÀO HIỆP CHÚNG TA KHÔNG BAO GIỜ QUÊN ƠN?

     Nước Nga cùng với các nước thành viên Liên Xô đã hy sinh 27 triệu người để cứu loài người khỏi hiểm họa chú nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt trong Thế chiến II (1941-1945). Việt Nam cũng nhờ đó mà giành độc lập từ tay quân phiệt Nhật Bản trong Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945). Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay đã có truyền thống giúp đỡ các nước đồng minh, nhất là các nước XHCN, phong trào giải phóng dân tộc và một số nước đang phát triển. Sự giúp đỡ này bao gồm: viện trợ kinh tế, quân sự, đào tạo nhân lực và xóa nợ.
 1. Liên Xô (trước năm 1991), hỗ trợ Việt Nam:
Giai đoạn 1950–1991: Liên Xô viện trợ cho Việt Nam khoảng 17 tỷ USD (theo thời giá lúc đó).
Bao gồm: viện trợ quân sự trong kháng chiến chống Mỹ, tái thiết hậu chiến, viện trợ kỹ thuật, đào tạo hàng chục ngàn cán bộ.
 - Hỗ trợ Cuba: Khoảng 35 tỷ USD trong thời gian từ 1960–1990, gồm dầu mỏ, lương thực, thiết bị và đào tạo.
 - Hỗ trợ các nước châu Phi, Trung Đông: Ethiopia, Angola, Mozambique, Syria, Ai Cập… được viện trợ vũ khí, chuyên gia, tài chính.
2. Liên bang Nga (sau 1991). Kế thừa nghĩa vụ tài chính của Liên Xô, Nga đã xóa nợ cho nhiều quốc gia để thiết lập lại quan hệ, khuyến khích hợp tác thương mại.
 - Việt Nam ~10 tỷ USD( 2000).
Nga xóa 85% khoản nợ thời Liên Xô (~11 tỷ USD); Việt Nam trả 1,7 tỷ còn lại trong 23 năm
 - Cuba: ~31,7 tỷ USD (2001)
Nga xóa 90% tổng nợ cũ (~35,2 tỷ USD); 10% còn lại được tái đầu tư vào Cuba
 - Iraq: ~12 tỷ USD (2008)
Nga xóa 93% khoản nợ thời Saddam Hussein
 - Mông Cổ:~11,1 tỷ USD(2003)
 - Syria: ~9,8 tỷ USD (2005)
 - Ethiopia: ~4,8 tỷ USD (2001)
 - Lào: ~0,9 tỷ USD (2003)
 - Afghanistan: ~11 tỷ USD (2006)
 Tổng cộng: Nga đã xóa nợ cho hơn 100 tỷ USD cho các quốc gia (theo nhiều nguồn khác nhau), chủ yếu là nợ thời Liên Xô để lại.
 3. Trong hai cuộc kháng chiến (1946-1975), Liên Xô đã viện trợ toàn diện cho Việt Nam, trong đó có máy bay, tàu chiến, tên lửa, pháo để giải phóng hoàn toàn đất nước và giúp Việt Nam khôi phục đất nước sau 30 năm chiến tranh. Năm 1978, Liên Xô là một trong số ít các quốc gia tuyên bố ủng họ chiến dịch quân sự của Việt Nam ở Campuchia để tiêu diệt chính quyền diệt chủng Pol Pot. Năm 1979, khi Việt Nam bị xâm lược trên biên giới phía bắc, Liên Xô ra tuyên bố “Không được đụng đến Việt Nam và lập cầu hàng không khẩn cấp viện trợ vũ khí trang bị và cố vấn quân sự cho Việt Nam.
 Một nước Nga như vậy phải tôn trọng, ủng hộ và biết ơn!


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐÚNG Ý ĐẢNG, HỢP LÒNG DÂN, TOÀN QUÂN TIẾN LÊN HIỆN ĐẠI!

     Áp lực và động lực đẩy nhanh quá trình xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị; tạo điều kiện thuận lợi để đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới nhằm xây dựng quốc gia hùng cường, thịnh vượng; phát triển đất nước giàu đẹp, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cả về lý luận và thực tiễn.
Hơn thế, yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại ngày càng gia tăng khi các cuộc xung đột quân sự, chiến tranh công nghệ cao, có sử dụng vũ khí công nghệ hiện đại, điều khiển từ xa, có độ chính xác cao, sức hủy diệt lớn; quân nhân được đào tạo bài bản, chính quy, giỏi về chuyên môn kỹ thuật, sử dụng thành thạo vũ khí công nghệ hiện đại, có thể tác chiến trong mọi hoàn cảnh: ngày, đêm, núi rừng, biển, đảo, trên không, trên bộ, trên biển, không ít người dân, thậm chí một số cựu chiến binh đã tỏ ra lo lắng, băn khoăn... Ý thức trách nhiệm công dân về bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ sự cần thiết phải thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị... là chính đáng, rất trân trọng; song, cần thống nhất nhận thức, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chiến lược, sách lược của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về các vấn đề nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức và hành động.
Tính cấp thiết về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại được đặt ra với yêu cầu ngày càng cao thể hiện rõ hơn sau ngày Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội ta chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất non sông với mong muốn đất nước ta mãi trường tồn, phát triển, không còn nguy cơ chiến tranh, xung đột xảy ra. 
Tâm nguyện của phần đông cán bộ, đảng viên và nhân dân ta là Quân đội ta phải đẩy nhanh quá trình xây dựng hiện đại, vì đây là điều kiện tiên quyết để giành thắng lợi trong tác chiến hiện đại, đánh bại mọi đối phương xâm lược có vũ khí công nghệ hiện đại hơn Việt Nam. Điều đó đặt ra yêu cầu Quân đội nhân dân Việt Nam phải đẩy nhanh quá trình xây dựng hiện đại, nhất là hiện đại về vũ khí, trang bị; phải mua sắm nhiều loại vũ khí công nghệ cao; quân nhân phải được đào tạo theo các giáo trình, giáo án hiện đại theo mẫu hình của quân đội các nước tiến tiến; đồng thời, kế thừa và phát huy cao nhất các giá trị tinh hoa, thành tựu còn nguyên giá trị về chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, lấy nhỏ thắng lớn, lấy tinh thần, ý chí quyết tâm để thắng quân xâm lược, bổ sung các yếu tố mới để nó không lạc hậu, phù hợp thời đại cách mạng công nghệ 4.0. 
Ý kiến cho rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam phải đi tắt, đón đầu, tiến ngay lên hiện đại và nhấn mạnh sự cần thiết để khắc phục tình trạng phấn đấu cầm chừng, đầu tư dàn trải. Vì vậy, họ đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam phải dành nhiều khoản ngân sách đặc biệt để mua sắm vũ khí công nghệ cao, từ tên lửa, xe tăng, máy bay, tàu chiến đến các thiết bị, phương tiện quân sự hiện đại của Mỹ và phương Tây...
Quan điểm này thể hiện sự mong muốn Quân đội nhân dân Việt Nam tiến ngay lên hiện đại, thể hiện sự lo lắng cho tương lai, vận mệnh của đất nước, hạnh phúc của người dân trước bối cảnh tình tình thế giới, khu vực đang diễn ra vô cùng phức tạp hiện nay, nhất là sự tàn khốc của cuộc xung đột quân sự, của chiến tranh đang diễn ra ở Trung Đông, trên dải Gaza giữa Israel - Hamas; đặc biệt là cuộc xung đột Nga - Ukraine đã bước sang năm thứ tư với những bước leo thang mới, chưa có dấu hiệu chứng tỏ cuộc chiến này sắp kết thúc, thậm chí nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ ba có thể xảy ra, khi quân đội các nước NATO đưa quân trực tiếp vào tác chiến ở chiến trường Ukraine, vũ khí hạt nhân chiến thuật có thể được sử dụng... 
Cách nhìn nhận, quan điểm, tình cảm của một bộ phận người dân về các vấn đề nêu trên có lúc đã vượt ra ngoài vùng kiểm soát; đã thể hiện sự lo lắng, điều mong muốn cá nhân, tuy có nhiều điểm tích cực, song cách thể hiện ấy là không phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đã tạo ra các luồng dư luận thiếu tích cực, làm ảnh hưởng đến khí thế, tinh thần xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đi đúng quỹ đạo của quân và dân ta. Lợi dụng tình huống này, các thế lực thù địch đã “chộp lấy” nó, thêu dệt, thổi phồng, bịa đặt sự yếu kém của Quân đội ta, cho rằng, “Quân đội nhân dân Việt Nam không thể tiến lên hiện đại vì tuyệt địa cán bộ sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ là con em nông dân”... 
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là sự vận dụng sáng tạo quan điểm, nội dung, nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và bài học kinh nghiệm về dựng nước và giữ nước của dân tộc ta phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam hiện nay; là quan điểm cơ bản, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta, được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trong suốt quá trình xây dựng quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng.
Về thực chất, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là quá trình xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tinh, gọn, mạnh, có số lượng, chất lượng tốt, có cơ cấu hợp lý, đủ sức đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là đòi hỏi khách quan, nhu cầu bức thiết của sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước trong bối cảnh mới. Vì lẽ đó, Đảng ta khẳng định xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, làm cơ sở để từ năm 2030 Quân đội ta đạt đến hiện đại. 
Sự mong muốn đẩy nhanh quá trình xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại của nhân dân về xây dựng Quân đội ta hiện đại là hoàn toàn chính đáng, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ghi nhận, đánh giá cao và đã khảo cứu, tính kỹ phương án ấy, song cân nhắc thấu đáo các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, đặc biệt là vận dụng đúng đắn, sáng tạo bài học kinh nghiệm xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hơn 80 năm qua để có cơ sở khẳng định: Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; coi đây là nhân tố đặc biệt quan trọng, tầm nhìn chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định lộ trình, bước đi, sự phát triển bền vững, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong bối cảnh tình hình mới; bảo đảm sự hài hòa giữa hiện đại hóa quân đội với phát triển kinh tế, phù hợp với tiềm lực, thực lực của đất nước.
Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là một hành trình lâu dài, không ngừng bồi đắp, tích lũy dần dần về lượng để biến đổi mang tính nhảy vọt về chất. Trong đó, việc xác định lộ trình, bước đi, nội dung, hình thức, biện pháp và điều kiện bảo đảm cho xây dựng Quân đội hiện đại phải gắn chặt với tình hình, điều kiện cụ thể của đất nước, Quân đội và sự cho phép của nền kinh tế, chất lượng của nguồn nhân lực quân sự. Bài học sâu sắc được đúc kết từ thực tiễn hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng minh chân lý ấy.
Chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là hoàn toàn đúng đắn, hợp ý Đảng, lòng dân bởi tính khách quan, khoa học của nó. Cơ sở lý luận - thực tiễn của xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là bám sát tình hình thực tế, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và điều kiện, tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự vốn có của đất nước. Đồng thời, căn cứ vào “sức khỏe” của nền kinh tế, tăng trưởng của sản xuất; sức sống của đời sống tinh thần, văn hóa - xã hội và các vấn đề cơ bản, thường xuyên, trọng yếu của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra, nhất là sự phụ thuộc trực tiếp vào thực lực của đất nước, ngân sách quốc phòng.
Vì vậy, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là kết quả của sự cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng của Đảng, Nhà nước, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Đây là cơ sở khoa học để bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch về “đốt cháy giai đoạn” trong xây dựng Quân đội ta hiện nay./.
Yêu nước ST.

KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG PHÁT XÍT ĐỨC: Ý NGHĨA VĨNH CỬU CỦA CHIẾN THẮNG PHÁT XÍT NĂM 1945!

     Ngày 9-5, Nga và Belarus cùng các nước thuộc Liên Xô trước đây tổ chức kỷ niệm một ngày lễ lớn: 80 năm Ngày Chiến thắng trong Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (9-5-1945 / 9-5-2025), một trong những cuộc chiến đ.ẫ.m m.á.u và t.à.n k.h.ố.c nhất trong lịch sử nhân loại. Kết cục cuộc chiến này có ý nghĩa thời đại đối với nhiều quốc gia và dân tộc trên thế giới, làm thay đổi căn bản và hoàn toàn cục diện chính trị quốc tế và đặt nền móng cho trật tự thế giới đương đại.

Sự thật hiển nhiên là đất nước Liên Xô và người dân Xô viết gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của cuộc chiến này. Theo số liệu chính thức, tính đến mùa hè năm 1944, khoảng 75% tổng số sư đoàn của Đức Quốc xã tác chiến trên mặt trận Xô-Đức; hầu hết vũ khí, trang bị của Đế chế thứ ba và các đồng minh của chúng đều tập trung trên chiến tuyến này.

Chính "Mặt trận phía Đông" đã quyết định kết cục Chiến tranh thế giới thứ hai. Tại đây có 507 sư đoàn Đức Quốc xã và 100 sư đoàn đồng minh của Đức đã bị đánh bại. Trong các trận chiến, Hồng quân Liên Xô đã tiêu d.i.ệ.t hơn 70.000 máy bay (chiếm 70% tổng số máy bay bị p.h.á h.ủ.y), 50.000 xe tăng và vũ khí tấn công (chiếm 75%), 167.000 khẩu pháo (chiếm 74%), hơn 2.500 tàu chiến và tàu hỗ trợ các loại.

Liên Xô đã phải huy động lực lượng phi thường để giành được chiến thắng này nhưng cũng phải chịu thiệt hại rất lớn. Nhiều thành phố và làng mạc bị tàn phá, hơn 27 triệu công dân Xô viết đã thiệt mạng. Con số thiệt hại là quá lớn! Tuy nhiên, nhờ lòng dũng cảm, ý chí kiên cường của các binh sĩ, sĩ quan, quân du kích và lực lượng hoạt động bí mật, nhờ tinh thần làm việc đến quên mình của những người lao động ở hậu phương, chủ nghĩa phát xít đã bị chặn đứng và phải hứng chịu thất bại nặng nề.

Sau Chiến thắng p.h.á.t x.í.t tháng 5-1945, Liên Xô tiến hành chiến dịch chiến lược chống quân phiệt Nhật Bản, đánh bại đạo quân Quan Đông, tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc của các quốc gia phụ thuộc và thuộc địa ở châu Á. Liên Xô, nhà nước công-nông đầu tiên trên thế giới, đã trở thành biểu tượng của cuộc kháng chiến ngoan cường chống lại kẻ thù, là chỗ dựa vững chắc, tin cậy cho các dân tộc trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chính nghĩa giành tự do và độc lập, làm sụp đổ hệ thống thực dân, dẫn tới việc thành lập Liên hợp quốc và thiết lập các nguyên tắc độc lập, quyền tự quyết và bình đẳng trong quan hệ quốc tế.

Cùng thời gian này, tháng 8-1945, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã tiến hành thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đánh dấu sự xuất hiện trên bản đồ thế giới một nhà nước mới ở Đông Nam Á.

Cũng như Liên Xô, sau cuộc đấu tranh bền bỉ và phải gánh chịu những tổn thất to lớn, Việt Nam đã tự giải phóng mình khỏi ách áp bức của thực dân. Đối với nhiều dân tộc ở châu Á và châu Phi, Việt Nam đã trở thành một tấm gương anh dũng trong công cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược nước ngoài. Điều này lý giải vì sao ký ức về những thời kỳ chiến tranh gian khổ lại trở nên thiêng liêng đối với cả Nga và Việt Nam; qua đó cũng cho thấy không có gì quý hơn nền độc lập và chủ quyền của đất nước.

Đối với người dân Liên bang Nga và các nước thuộc Liên Xô trước đây, Ngày Chiến thắng 9-5-1945 sẽ mãi mãi là một ngày thiêng liêng. Dù bao nhiêu năm trôi qua, ngày này sẽ sống mãi trong ký ức của chúng tôi với nhiều nỗi đau mất mát. Ở Liên Xô trước đây, hầu như không một gia đình nào không gánh chịu mất mát bởi chiến tranh. Chúng tôi mãi biết ơn những người đã hy sinh để đem lại chiến thắng, đem lại niềm vinh quang cho đất nước. Chúng tôi không bao giờ quên những người đã anh dũng bảo vệ Pháo đài Brest, những người lính đã hy sinh trong các trận chiến ở ngoại ô Moscow và Stalingrad, trên vòng cung Kursk, những nạn nhân của cuộc vây hãm Leningrad, các nạn nhân trong vụ thảm sát ở làng Khatyn và Trostenets của Belarus. Họ sẽ tồn tại mãi mãi trong ký ức về lịch sử của chúng tôi.

Nhiều thập kỷ đã trôi qua, chúng tôi vinh danh những đóng góp của tất cả những người đã bảo vệ nền tự do và độc lập của Tổ quốc và mang lại hòa bình cho hành tinh này. Chúng tôi còn nhớ, vào mùa hè-thu năm 1941, trong trận Moscow, những chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã chiến đấu sát cánh cùng Hồng quân Liên Xô, 5 người trong số đó đã được Chính phủ Liên Xô truy tặng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc hạng Nhất vì đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường; tên họ được đưa vào danh sách "Con đường ký ức" tại Công viên tưởng niệm các quân nhân mang tên “Người yêu nước” ở ngoại ô Moscow. Năm 2024, một đài tưởng niệm đã được xây lên tại khu vực này để vinh danh những chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã sát cánh chiến đấu cùng Hồng quân Liên Xô.

Chúng tôi coi nghĩa vụ đạo đức của mình là trân trọng gìn giữ và truyền lại cho thế hệ trẻ ý nghĩa vĩnh cửu của chiến thắng, một chiến thắng chung của nhân loại. Liên bang Nga cùng một số quốc gia khác kiên quyết làm thất bại những mưu toan viết lại lịch sử, hạ thấp vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến chống chủ nghĩa p.h.á.t x.í.t. Chúng tôi trân trọng bày tỏ cảm ơn nhân dân Việt Nam đã luôn ủng hộ đường lối, nguyên tắc của chúng tôi trong vấn đề này.

Chúng tôi tin rằng hòa bình thế giới và sự phát triển toàn diện chỉ có thể được bảo đảm bằng cách tôn trọng ý kiến của mọi dân tộc, tôn trọng quyền của các quốc gia theo đuổi chính sách độc lập và có chủ quyền dựa trên các giá trị truyền thống. Yêu cầu này đặc biệt cấp thiết và có tính thời sự trong bối cảnh địa chính trị hiện nay, khi thế giới đang phải đối mặt với những thách thức và mối đe dọa chưa từng có, khi quan hệ quốc tế đang trải qua quá trình tái cấu trúc triệt để, khi một trật tự thế giới mới đang được hình thành phản ánh sự đa dạng văn minh thực sự của nhân loại.

Trong bối cảnh này, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng Nga và Belarus luôn ủng hộ một trật tự thế giới đa cực, thúc đẩy trên thực tế nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và bảo đảm cân bằng lợi ích. Đây là cách duy nhất để bảo đảm tính công bằng của hệ thống thường được gọi là hệ thống Yalta-Potsdam, với ý nghĩa pháp lý quốc tế là Hiến chương Liên hợp quốc phải được tôn trọng và thực thi một cách toàn diện và toàn vẹn.

Liên bang Nga đang kỷ niệm 80 năm Ngày Chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, một dấu mốc lịch sử không bao giờ bị lãng quên. Mỗi ngày qua đi, chúng tôi càng hiểu sâu sắc hơn về giá trị có ý nghĩa quyết định của chiến thắng này cũng như những hậu quả bi thảm của chiến tranh. Ngày 9-5 là ngày lễ trọng đối với nhân dân các nước thuộc Liên Xô trước đây, đối với người dân ở các nước trong liên minh chiến đấu chống p.h.á.t x.í.t, đối với tất cả những người luôn tưởng nhớ và tôn vinh ký ức về những anh hùng đã chiến đấu để t.i.ê.u d.i.ệ.t chủ nghĩa p.h.á.t x.í.t. Khi những năm tháng chiến tranh khủng khiếp đó càng lùi xa thì trách nhiệm chung của chúng ta trong việc duy trì hòa bình và ổn định trên hành tinh ngày càng lớn.

Sẽ không một ai bị lãng quên và không có gì bị lãng quên!
Yêu nước ST.

Mô hình Bắc Âu: câu chuyện thần thoại đang đi đến hồi kết?


Bắc Âu bao gồm năm quốc gia là Đan Mạch trên bán đảo Jutland, Na Uy và Thụy Điển trên bán đảo Scandinavia, Phần Lan và Iceland, cũng như các lãnh thổ thuộc Đan Mạch là Quần đảo Faroe và Greenland, quần đảo Åland của Phần Lan và quần đảo Svalbard của Na Uy. Sau Thế chiến II, Bắc Âu từng bước trở thành “sự tồn tại thần thoại” – kinh tế phát triển, phúc lợi ưu việt, chính trị ổn định, xã hội yên bình, nghiễm nhiên trở thành “tấm gương ưu tú” trong phát triển trên toàn thế giới. “Mô hình Bắc Âu” từng trở thành mô hình phát triển hấp dẫn trên toàn cầu.

Vị trí kinh tế vượt trội và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú

Trên thực tế, sự phát triển và thịnh vượng của Bắc Âu phần lớn là do điều kiện tự nhiên của chính nó.

Thứ nhất, vị trí kinh tế của các nước Bắc Âu rất thuận lợi. Do nằm trên các bán đảo và đảo ở phía tây bắc châu Âu, Bắc Âu không chỉ có thể tận hưởng những tác động lan tỏa và bức xạ của năm nền kinh tế Tây Âu mà còn tránh được ở một mức độ nhất định việc tiếp tục xảy ra xung đột giữa các cường quốc. Thứ hai, năm quốc gia Bắc Âu đều là những quốc gia nhỏ với lãnh thổ rộng lớn và dân cư thưa thớt. Thụy Điển, quốc gia đông dân nhất, chỉ có 10,3 triệu người, mật độ dân số 24,6 người/km2. Đan Mạch, nơi có mật độ dân số cao nhất, 136,5 người/km2 nhưng dân số chỉ 5,84 triệu người. Phần Lan có dân số 5,539 triệu người, Na Uy có dân số 5,534 triệu người và Iceland, quốc gia ít dân số nhất, chỉ có 370.000 người, với mật độ dân số 3,4 người/km2. Thứ ba, năm quốc gia Bắc Âu có khí hậu ôn hòa. Mặc dù đều thuộc vĩ độ cao nhưng do ảnh hưởng của dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương nên Bắc Âu có những khu vực ấm áp và ẩm ướt, thích hợp cho con người sinh sống. Thứ tư, năm nước Bắc Âu có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, giàu tài nguyên thủy sản, lâm nghiệp và khoáng sản. Na Uy và Đan Mạch cũng là những nước phát triển dầu mỏ chính ở Biển Bắc. Na Uy là nước xuất khẩu dầu thô lớn thứ ba thế giới và là nước sản xuất khí đốt tự nhiên lớn nhất châu Âu. Rõ ràng, nói về sự thành công của “mô hình Bắc Âu” không thể không nói tới những điều kiện này thuộc về yếu tố tạo ra “thần thoại”. Hơn nữa, Bắc Âu thực tế đã trải qua những thay đổi sâu sắc kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Cuộc khủng hoảng Ukraine đã đẩy nhanh sự thay đổi này, và “thần thoại Bắc Âu” sắp bước vào hồi kết.

Từ bỏ chính sách trung lập không liên minh

Tiền đề quan trọng để hình thành “Thần thoại Bắc Âu” là sau Thế chiến II, châu Âu tiếp tục duy trì hòa bình và ổn định. Năm quốc gia Bắc Âu nằm ở góc Tây Bắc châu Âu. Từ thời cận đại tới nay họ luôn cố gắng tránh xa các cuộc  tranh chấp giữa các cường quốc. Chính sách quốc gia như vậy tuy không thể giúp họ hoàn toàn đứng ngoài hai cuộc chiến tranh thế giới, nhưng thiệt hại họ phải chịu ít hơn nhiều so với các nước châu Âu khác. Sau khi chiến tranh thế giới II kết thúc, Đan Mạch, Na Uy và Iceland trở thành thành viên sáng lập NATO. Trong khi Thụy Điển và Phần Lan, những quốc gia gần gũi với Liên Xô, theo đuổi chính sách không liên kết quân sự và duy trì vị trí trung lập để không trở thành tiền đồn của cuộc đối đầu Mỹ-Liên Xô. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang vào năm 2022, Phần Lan và Thụy Điển đã nộp đơn xin gia nhập NATO. Mặc dù gặp phải một số trở ngại do sự phản đối của Thổ Nhĩ Kỳ, Hungary, nhưng Phần Lan đã chính thức gia nhập NATO vào ngày 4/4/2023, tiến trình gia nhập của Thụy Điển cũng đang tăng tốc hoàn thành với sự phê chuẩn của Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 01 và Hungary vào tháng 02 năm nay. Phần Lan và Thụy Điển lựa chọn gia nhập NATO trong cuộc khủng hoảng Ukraine không phải vì sợ Nga mà vì họ không còn sợ Nga nữa. Đồng thời lợi dụng cuộc khủng hoảng Ukraine để thay đổi chính sách trung lập còn sót lại trong lịch sử, hoàn toàn hội nhập vào phe phương Tây do Mỹ lãnh đạo.

Trong lịch sử, Thụy Điển và Phần Lan giữ vững trung lập đều là lựa chọn bất đắc dĩ thậm chí cảm thấy hổ thẹn. Thụy Điển từng là một cường quốc vùng biển Baltic, bị suy yếu do thất bại hoàn toàn trong cuộc “Chiến tranh phương Bắc” từ năm 1700-1721 với Nga Sa hoàng và chuyển sang theo đuổi chính sách trung lập không liên kết. Trong hai cuộc chiến tranh thế giới, Thụy Điển luôn đi trên dây giữa thân Đức và thân Anh, Pháp, không chỉ bảo vệ đất nước khỏi sự tàn phá của chiến tranh mà còn kiếm được rất nhiều tiền từ chiến tranh. Có thể nói rằng Thụy Điển được hưởng lợi ích rất nhiều trong chính sách trung lập của mình. Ngược lại, đằng sau sự trung lập của Phần Lan là một đoạn lịch sử muốn quên đi. Từ tháng 11/1939 đến tháng 3/1940, Phần Lan đã tham gia vào “Chiến tranh mùa đông” thảm khốc với Liên Xô. Liên Xô đã chiếm được vùng Karelia, bao gồm Vyborg, thành phố lớn thứ hai của Phần Lan. Vào tháng 6/1941, Phần Lan đã phối hợp với Đức Quốc xã để chiếm lại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, nhưng luôn không công nhận quan hệ đồng minh với Đức. Chính sách “trung lập” này để lại không gian cứu vãn tương đối lớn cho Phần Lan. Tháng 2/1944, Phần Lan quyết định “nổi dậy”, đảo ngược chính sách khi nhìn thấy chiến thắng của Liên Xô. Nhờ vậy, họ không cùng Đức trở thành nước bại trận. Trong chiến tranh và sau chiến tranh, chính quyền Phần Lan đã xác lập con đường trung lập cho ngoại giao nước này. Hiển nhiên, Thụy Điển và Phần Lan đều có ân oán lịch sử với Nga, sau chiến tranh họ không gia nhập NATO ngay lập tức chỉ là không muốn trở thành trận địa tiền tuyến trong cuộc đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô mà thôi.

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Thụy Điển và Phần Lan gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 1995, hợp tác với NATO ngày càng tăng. Trên thực tế, họ đã từ bỏ chính sách không liên kết từ lâu. Tuy nhiên, trong bối cảnh NATO liên tục mở rộng về phía đông, hai nước vẫn chọn ở bên ngoài NATO. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang, Thụy Điển và Phần Lan đã tích cực tham gia vào các hoạt động của NATO để hỗ trợ quân sự cho Ukraine. Trong đó, Phần Lan có đường biên giới 1.200 km với Nga tích cực triển khai viện trợ Ukraine. Đến tháng 2/2024, viện trợ quân sự của Phần Lan cho Ukraine đã đạt 22 đợt, đã quyên tặng trang bị quân sự trị giá hàng tỷ USD, trong đó có máy bay chiến đấu F-16. Ngày 13/12/2023, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy đã đến Oslo, Na Uy, để tham dự hội nghị thượng đỉnh Ukraine-Bắc Âu lần thứ hai, trong đó 5 quốc gia Bắc Âu cam kết viện trợ và thiết bị quân sự hàng tỷ USD cho Ukraine. Động thái này được đưa ra trong bối cảnh Hạ viện Mỹ giữ viện trợ quân sự cho Ukraine. Các nước Bắc Âu dám làm thể hiện thái độ diều hâu như vậy đối với Nga, không phải vì họ tin rằng NATO sẽ đảm bảo an ninh cho họ mà vì họ tin rằng Nga không có khả năng hoặc thậm chí không sẵn sàng gây chiến với họ. Quả thực, phản ứng của Nga đối với việc Phần Lan gia nhập NATO chỉ nhấn mạnh hành động này sẽ gây “ảnh hưởng tiêu cực” đối với quan hệ Nga-Phần Lan. Biện pháp ứng phó chủ yếu chẳng qua là thành lập “Quân khu Leningrad” mà thôi.

Không có bằng chứng nào cho thấy việc Thụy Điển và Phần Lan từ bỏ vị thế trung lập là kết quả áp lực từ bên ngoài. Đối với họ, giữ thái độ trung lập trong các hành động tập thể của phương Tây là một chính sách đối ngoại độc lập. Điều này có thể gây ra rủi ro cao hơn so với việc chủ động gây sức ép với Nga, một món nợ mà Phần Lan và Thụy Điển cần tính toán. Trên phương diện “Thần thoại Bắc Âu”, sự viện trợ mạnh mẽ của các nước Bắc Âu cho Ukraine đã thay đổi hình tượng giữ gìn hòa bình sau chiến tranh thế giới thứ II của họ, và không thể đánh giá thấp sự xói mòn quyền lực mềm này.

Cuộc khủng hoảng nhà nước phúc lợi sâu sắc

Các nước Bắc Âu là quốc gia phúc lợi điển hình nhất của phương Tây. Điểm chung của họ là nhà nước cung cấp cho người dân sự chăm sóc phúc lợi toàn diện “từ khi sinh ra đến khi chết đi” thông qua thuế cao. Nó bao gồm chế độ thai sản, chăm sóc trẻ em, giáo dục, việc làm, chế độ tai nạn lao động, chế độ thất nghiệp, chăm sóc người già, nhà ở, chăm sóc y tế, tang lễ, v.v. Đặc điểm của “Mô hình Bắc Âu” về nhà nước phúc lợi được đặc trưng bởi phạm vi bao phủ toàn diện, mức độ cao, tỷ lệ lớn các dịch vụ xã hội và gánh nặng cá nhân tương đối nhỏ. Do đó, Bắc Âu từng được coi là khu vực có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới. Chỉ số Gini đo lường khoảng cách giàu nghèo đều nằm trong khoảng từ 0,2 đến 0,26, nằm ở mức thấp nhất thế giới. Tuy nhiên, ngay cả đối với những nền kinh tế phát triển như các nước Bắc Âu, vốn là những nước nhỏ, dân số ít, nguồn nội lực dồi dào, việc duy trì mô hình thuế cao-phúc lợi cao này không phải là điều dễ dàng. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các nước Bắc Âu cũng lần lượt tiến hành “cải cách chủ nghĩa tự do mới”, học theo các biện pháp như Anh và Mỹ thúc đẩy tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát tăng trưởng phúc lợi công cộng, thị trường hóa phúc lợi xã hội. Sau nhiều thập kỷ cải cách, cấu trúc cơ bản của nhà nước phúc lợi Bắc Âu không thay đổi, nhưng mô hình xã hội vẫn mang một số màu sắc của “mô hình Anh – Mỹ”.

Nhìn bề ngoài, áp lực cải cách ở các nước Bắc Âu chủ yếu đến từ khó khăn tài chính. Là khu vực có tỷ lệ chi tiêu công cao nhất châu Âu, sau nhiều thập kỷ cắt giảm, chi tiêu công hiện tại của 5 quốc gia Bắc Âu chiếm khoảng 50% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cao hơn mức trung bình của EU (46,3%). Trong số đó, Na Uy cao nhất đạt 63%. Với hơn 80% chi tiêu của Chính phủ dành cho phúc lợi xã hội, nhiều người cho rằng thuế cao do phúc lợi cao hạn chế động lực làm việc của người lao động Bắc Âu và khả năng cạnh tranh quốc tế. Điều này chắc chắn không sai, nhưng trên thực tế, cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu của các nước Bắc Âu mới là nguyên nhân sâu xa thách thức tính bền vững tài chính của nhà nước phúc lợi. Ở bên ngoài mọi người hay nói vui rằng: “Kinh tế thế giới bị cảm mạo, kinh tế Bắc Âu bị sốt”. Năm 2009, GDP của Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Iceland lần lượt giảm 5,2%, 4,9%, 8,3%, 1,7% và 6,8%. Iceland trở thành quốc gia đầu tiên rơi vào khủng hoảng nợ công. Trong trường hợp này, tiêu chuẩn chi tiêu phúc lợi cứng nhắc khó tránh khỏi làm trầm trọng thêm khó khăn về tài chính. Sau khi cuộc khủng hoảng Ukraine leo thang toàn diện, “Mô hình Bắc Âu” phải đối mặt với một làn sóng thách thức nghiêm trọng khác. Năm nước Bắc Âu đều gặp khó khăn do tăng trưởng thấp, lạm phát cao. Theo thống kê của EU, GDP của Thụy Điển tăng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái vào năm 2022, Phần Lan tăng 1,6% và Đan Mạch tăng 2,7%. Tất cả đều thấp hơn mức trung bình của EU là 3,4%. Na Uy và Iceland, những nước không gia nhập EU, đang ở trong tình trạng tốt hơn một chút, nhưng cũng có những vấn đề về cơ cấu. Bởi vậy có thể thấy được rằng mô hình nước nhỏ dân số ít mà “Thần thoại Bắc Âu” dựa vào chắc chắn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Những biến động bên ngoài chắc chắn sẽ đòi hỏi phải tăng cường tính linh hoạt trong chế độ phúc lợi cao.

Các nước phúc lợi xã hội ở Bắc Âu cũng đang phải đối mặt với những thách thức về đa dạng chủng tộc. Về cơ bản, phúc lợi cao của các quốc gia Bắc Âu là một hệ thống do Chính phủ vận hành, trong đó người dân chăm sóc lẫn nhau dựa trên sự cùng nhận thức về chủng tộc và tín ngưỡng. Sau những năm 1980, số lượng người nhập cư ở các nước Bắc Âu không ngừng tăng lên. Theo thống kê, đến năm 2020, số người nhập cư của Thụy Điện đã chiếm 19,8% tổng dân số, Iceland là 15,2%, Na Uy là 14%, Đan Mạch là 11%, Phần Lan là 6,4%. Tình trạng không hòa hợp giữa người nhập cư nước ngoài và người dân bản xứ Bắc Âu tồn tại phổ biến, gây xói mòn không nhỏ cho nền tảng phúc lợi xã hội của quốc gia. Bộ trưởng Di cư Maria Malmer Stenergard của Thụy Điển cho rằng, số lượng người nhập cư tăng lên những năm gần đây, kết hợp với sự hòa hợp xã hội kém đã dẫn đến sự phân biệt xã hội của Thụy Điển càng trở nên nổi bật. Hiện nay, tư tưởng cực đoan chống nhập cư đang ngày càng gia tăng ở các nước Bắc Âu. Rất nhiều người cho rằng nhập cư đã đe dọa đến văn hóa truyền thống, quan niệm giá trị và trật tự xã hội của đất nước mình. Mà điều này đối với chế độ nhà nước phúc lợi Bắc Âu lấy xã hội hài hòa công bằng làm mục tiêu mà nói không khác gì đổ thêm dầu vào lửa.

Sự đồng thuận chính trị chuyển hướng cực hữu

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Bắc Âu nhìn chung đã thiết lập một cơ cấu chính trị đồng thuận do các đảng dân chủ xã hội trung tả cầm quyền. Tôn trọng bình đẳng, đoàn kết xã hội, xây dựng giá trị nhà nước phúc lợi. Từ lâu đã thực hiện các chính sách của chủ nghĩa Keynes về việc làm cao, thuế cao, chi tiêu cao. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, hệ tư tưởng chủ nghĩa dân chủ xã hội đã bị lép vế hoàn toàn bởi chủ nghĩa tân tự do Anh-Mỹ và ảnh hưởng của các đảng trung hữu ở Bắc Âu tăng lên rõ rệt. Trong những năm gần đây, các lực lượng cực hữu ở Bắc Âu đã nổi lên và hầu hết các quốc gia đều có sự tham gia của cực hữu trong liên minh cầm quyền. Về mặt tư tưởng, các nước Bắc Âu trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh đều đã trải qua quá trình chuyển đổi từ “chủ nghĩa dân chủ xã hội” sang “chủ nghĩa dân chủ tự do”, rồi đến “chủ nghĩa dân chủ dân tộc”.

Cả năm quốc gia Bắc Âu đều có hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Điều này khiến một Đảng khó có thể chiếm đa số ghế trong Quốc hội. Các đảng cầm quyền thường phải thành lập chính phủ liên minh với các đảng khác để lên nắm quyền. Chế độ hợp tác đa đảng này muốn duy trì ổn định chính trị thì phải hình thành nhận thức chung về chính trị. Ưu điểm của nó là giúp đảm bảo cho các nhóm lợi ích và tầng lớp xã hội khác nhau đều có cơ hội tham gia chính trị, hình thành bầu không khí chính trị tương đối ổn định và ôn hòa. Nhưng khuyết điểm là dễ dàng tạo cơ hội cho các chính đảng cấp tiến tham gia chính trị. Chủ trương chính trị cực hữu càng có thể chuyển hóa thành quyết sách của chính phủ.Tháng 10/2022, Kristersson thuộc đảng ôn hòa cực hữu Thụy Điển lên nắm quyền. Ông là người được bầu làm Thủ tướng Thụy Điển với số phiếu thấp nhất kể từ năm 1978 (176 ủng hộ và 173 phiếu chống). Để duy trì vị trí quyền lực, Kristesson đã chọn thành lập Chính phủ liên minh với Đảng Dân chủ Thụy Điển cực hữu. Mặc dù phe cực hữu không giành được một vị trí trong Chính phủ, nhưng Chính phủ liên minh đã phải thỏa hiệp với đảng về vấn đề nhập cư, giảm mạnh hạn ngạch người tị nạn hàng năm từ 6.400 xuống còn 900, đồng thời cũng lên kế hoạch trục xuất những người nhập cư có hành vi sai trái.

Khi sự đồng thuận chính trị chuyển sang cực hữu, ngay cả khi đảng trung tả nắm quyền, quan điểm chính trị của phe trung hữu và thậm chí cả phe cực hữu vẫn có thể gây ảnh hưởng không hề nhỏ. Kể từ tháng 6 năm 2019, Frederiksen thuộc Đảng Dân chủ Xã hội trung tả đã giữ chức Thủ tướng Đan Mạch. Trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2022, Đảng Dân chủ Xã hội của bà giành được 90 ghế, trong khi liên minh cực hữu giành được 73 ghế. Cuối cùng, Đảng Dân chủ Xã hội, Đảng Tự do và Đảng Ôn hòa đã thành lập một chính phủ liên minh mới. Trong cuộc bầu cử này, Đảng Nhân dân Đan Mạch cực hữu chỉ nhận được 2,6% số phiếu bầu, nhưng tư tưởng chống nhập cư của đảng này vẫn có ảnh hưởng lớn đến chính phủ Đan Mạch.

Sự đồng thuận chính trị của các nước Bắc Âu đã làm xói mòn thần thoại chính trị Bắc Âu về tính nhân đạo, bình đẳng, hài hòa được xây dựng sau chiến tranh thế giới II. Thứ nhất, chỉ trích toàn cầu hóa không còn là điều cấm kỵ chính trị. Thủ tướng Đan Mạch Frederiksen nhấn mạnh trong chiến dịch tranh cử năm 2019 rằng “Đối vớ tôi mà nói, ngày càng thấy rõ ràng rằng cái giá phải trả cho toàn cầu hóa không được kiểm soát, nhập cư ồ ạt và sự dịch chuyển lao động tự do đều là giai cấp cơ sở phải chi trả”. Vì vậy Đan Mạch phải thực hiện chính sách tiếp nhận nhập cư nghiêm ngặt. Thứ hai, sự trỗi dậy của các lực lượng cực đoan. Ngày 03/09/2023 khi một người biểu tình chống Hồi giáo đốt kinh Koran công khai ở Malmo, thành phố lớn thứ ba của Thụy Điển đã gây ra căng thẳng giữa Thụy Điển và các quốc gia Trung Đông, bao gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ. Theo hãng tin Pháp AFP, gần một nửa dân số Malmo là người nhập cư hoặc đến từ các gia đình nhập cư, nơi “gần như ngày nào cũng xảy ra các vụ nổ súng và đánh bom”, khiến nhiều người dân địa phương lo lắng. Thứ ba, cải cách nhà nước phúc lợi ngày càng triệt để. Trong năm quốc gia Bắc Âu, Thụy Điển là nước có mức độ cải cách phúc lợi lớn nhất. Đã xuất hiện những thách thức như mức độ dịch vụ y tế công giảm, thiếu nhân viên y tế, phân bổ nguồn lực y tế không đồng đều. Để tiết kiệm chi phí tài chính, Chính phủ Thụy Điển cũng đã áp dụng biện pháp bãi bỏ một số đồn cảnh sát, cắt giảm lực lượng cảnh sát, làm tăng thêm rủi ro cho an ninh xã hội.

“Thần thoại Bắc Âu” được hình thành sau chiến tranh thế giới thứ hai đang phải đối mặt với thách thức toàn diện về kinh tế, xã hội, chính trị. Điều này đương nhiên không có nghĩa là các nước Bắc Âu sẽ đi đến suy thoái kinh tế, bất ổn xã hội và khủng hoảng chính trị. Nhưng có thể khiến người ta càng chú ý hơn đến điều kiện khách quan mà “tấm gương ưu tú” này dựa vào để tồn tại trong cộng đồng quốc tế. Mỗi nước cần phải lựa chọn con đường đi tới hiện đại hóa theo tình hình thực tế của chính nước của mình. Kinh nghiệm của các nước khác có thể tham khảo, nhưng không bao giờ trở thành quy tắc vàng. Có lẽ rằng, hiện nay, việc từ bỏ câu chuyện “Thần thoại Bắc Âu” sẽ có lợi hơn là việc học hỏi kinh nghiệm từ mô hình này./.