Thứ Hai, 12 tháng 5, 2025

 Thanh Hóa Phát huy vai trò người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Bà Hoàng Thị Định (người đứng thứ 2 bên trái), NCUT thôn Xuân Hợp, xã Xuân Bình (Như Xuân) chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế đồi rừng cho người dân.

Thanh Hóa hiện có 1.281 NCUT ở 1.281 thôn, bản, khu phố của 183 xã, thị trấn thuộc 11 huyện miền núi và 6 huyện, thị xã có xã, thôn miền núi. Đội ngũ NCUT trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã và đang thể hiện tốt vai trò, đóng góp công sức của mình trong tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; luôn dẫn dắt, đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước; tích cực vận động nhân dân tham gia phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, hưởng ứng phong trào bảo vệ đường biên, cột mốc chủ quyền quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Họ thực sự là “cầu nối” giữa Đảng, chính quyền với đồng bào DTTS; vận động nhân dân tích cực phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng; tham gia xây dựng quy ước, hương ước của địa phương. Trong phát triển kinh tế, NCUT đã mạnh dạn ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh, là những tấm gương có ảnh hưởng tích cực đến công tác xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương; tuyên truyền, vận động nhân dân thay đổi, bài trừ những phong tục, tập quán lạc hậu trong tang ma, cưới xin, góp phần thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư”. Nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận nhân dân để phản ánh kịp thời tới cấp ủy, chính quyền. Tuyên truyền, vận động đồng bào tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, duy trì và phát huy bản sắc văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới cao, góp phần cùng với cấp ủy, chính quyền từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân vùng DTTS và miền núi của tỉnh.

Tại huyện Như Xuân, NCUT đã phát huy vai trò là hạt nhân, nêu gương sáng không ngại khó khăn, vận động nhân dân các dân tộc thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo. Ông Trần Văn Hùng (70 tuổi), thôn Đức Thắng, xã Thượng Ninh được người dân tín nhiệm bầu là NCUT trong thôn năm 2012. Ông đã tuyên truyền, vận động nhân dân phát triển chăn nuôi trâu, bò để nâng cao thu nhập. Hằng năm, ông tuyên truyền đến các phụ huynh cho con em trong độ tuổi đến trường; đứng ra hòa giải những tranh chấp, xích mích, góp phần giữ gìn trật tự an ninh tại địa phương. Ông còn thường xuyên giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cho 6 hộ trong thôn khai thác 12ha keo, 3ha cao su của gia đình để cải thiện đời sống với thu nhập mỗi hộ khoảng 45 triệu đồng/năm. Bên cạnh đó, ông tìm nơi tiêu thụ sản phẩm cho người dân trong thôn, tạo thêm việc làm cho các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Ông Hùng còn tích cực vận động người thân, bà con hiến đất, cây cối, vật liệu để mở rộng đường giao thông. Phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên, gia đình ông đã tặng thôn bộ âm thanh phục vụ công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến người dân. Ông cũng thường xuyên đến từng hộ gia đình nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng để từ đó có những kiến nghị, đề xuất kịp thời lên cấp trên. Với những cách làm thiết thực của ông đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân. Nhờ đó, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, 84 hộ dân trong thôn đã hiến hơn 800m2 đất, đóng góp ngày công, tiền của xây dựng hơn 4km đường bê tông, 4km đường điện chiếu sáng...

Không chỉ riêng ông Hùng, ở huyện Như Xuân, nhiều gia đình NCUT như: Gia đình ông Lương Quang Hợi, thôn Làng Mài, xã Bình Lương; gia đình ông Hà Văn Tịnh, thôn Thanh Sơn, xã Thanh Hòa; gia đình ông Quách Thuận Lương, thôn Mít, xã Xuân Bình... không những vươn lên làm giàu cho gia đình mình mà còn hỗ trợ, giúp đỡ nhiều hộ gia đình khác thông qua việc hỗ trợ giống, vốn, kỹ thuật, việc làm, giúp nhiều hộ vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng. Nhờ đó, đến tháng 6-2024, tỷ lệ hộ nghèo trong huyện giảm còn 9,94%; hộ cận nghèo còn 16,03%...

Hiện nay, trên địa bàn huyện Như Xuân có 124 NCUT là người cao tuổi, bí thư chi bộ, trưởng bản, cán bộ nghỉ hưu, người sản xuất, kinh doanh giỏi, thầy thuốc... Xác định đây là đội ngũ có khả năng quy tụ, vận động, khuyến khích người dân thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết vươn lên phát triển kinh tế - xã hội... Những năm qua, cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn huyện Như Xuân luôn quan tâm, động viên NCUT tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền đẩy lùi nạn tảo hôn; tích cực phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng, xây dựng nông thôn mới... Đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho NCUT, tổ chức tham quan, học hỏi kinh nghiệm của NCUT từ các địa phương khác...

Ông Bùi Công Bằng, dân tộc Mường, là NCUT thôn Thành Minh, xã Thành Long (Thạch Thành) đã cùng với mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, công an xã, các tổ an ninh trật tự, an toàn xã hội của thôn tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự đồng thuận về chính trị và tư tưởng trong đồng bào theo đạo. Ông đã tích cực tuyên truyền cho đồng bào theo đạo hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và thực hiện Chỉ thị số 10 và Đề án 375 của UBND tỉnh Thanh Hóa về công tác đảm bảo an ninh trật tự (ANTT), an toàn xã hội (ATXH) khu dân cư, toàn dân bảo vệ ANTT, ATXH; tham mưu cho chính quyền, công an xã, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong hệ thống chính trị, Hội đồng Giáo xứ Vân Lung xây dựng Đề án mô hình “Xứ đạo bình yên - gia đình văn hóa”. Bên cạnh đó, ông tích cực vận động nhân dân hiến đất làm đường giao thông nông thôn. Gia đình ông đã gương mẫu tự nguyện hiến 600m2 đất cho địa phương mở rộng đường giao thông; thường xuyên tham gia các hoạt động tuyên truyền pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới đồng bào DTTS và các giáo dân...

Những đóng góp của đội ngũ NCUT đã góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn các huyện miền núi. Đến nay, toàn vùng đã có 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa, 100% thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm xã được cứng hóa; 100% các xã thuộc khu vực miền núi đều có điện lưới quốc gia; tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt 72,8%. Hiện 11 huyện miền núi có 64 xã đạt chuẩn NTM...

Q1

 Hậu Giang: Lắng nghe, thấu hiểu và giải quyết kịp thời kiến nghị của cử tri

Đồng chí Trần Văn Huyến (thứ 2 từ phải qua), Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, tìm hiểu thực tế phản ánh của cử tri và đề nghị chính quyền địa phương phối hợp với đơn vị thi công cao tốc sớm mở đường dân sinh để người dân ấp 11, xã Vị Thắng đi lại thuận tiện.

Đồng chí Trần Văn Huyến (thứ 2 từ phải qua), Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, tìm hiểu thực tế phản ánh của cử tri và đề nghị chính quyền địa phương phối hợp với đơn vị thi công cao tốc sớm mở đường dân sinh để người dân ấp 11, xã Vị Thắng đi lại thuận tiện.

Trân trọng, lắng nghe ý kiến cử tri

Mừng vì sắp tới sẽ có con đường đi lại thuận tiện, bà Phan Thị Lùn, cử tri ấp 11, xã Vị Thắng, huyện Vị Thủy, bày tỏ: “Trẻ sắp đến ngày tựu trường mà tuyến đường dân sinh ở đoạn xây dựng tuyến cao tốc tại ấp 11 chưa xong. Không có đường đi lại, nên rất bất tiện. Tại buổi tiếp xúc, sau phản ánh của chúng tôi, Chủ tịch HĐND tỉnh Hậu Giang đã đi khảo sát thực tế và chỉ đạo hỗ trợ người dân. Chúng tôi rất phấn khởi vì tới đây, sẽ có đường dân sinh để tụi nhỏ đi học dễ dàng”.

Gần gũi, lắng nghe, trân trọng, quan tâm, thấu hiểu từng ý kiến phản ánh của cử tri, đại biểu HĐND 3 cấp đã ghi nhận và phối hợp các ban, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương trả lời cụ thể, thẳng thắn, đầy trách nhiệm tại buổi tiếp xúc vừa qua. Theo đó, đại biểu, đại diện chính quyền địa phương với trách nhiệm, thẩm quyền của mình, đã trả lời rõ, không nói chung chung, đi thẳng vào vấn đề cử tri phản ánh.

Đồng chí Trần Văn Huyến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, cho biết: “Cử tri thấy khó mới chia sẻ với đại biểu tại buổi gặp trực tiếp. Chúng tôi rất quý những góp ý, chia sẻ chân tình. Bằng tất cả tấm lòng và trách nhiệm với cử tri, mỗi đại biểu dân cử theo chức năng, nhiệm vụ sẽ kịp thời hỗ trợ. Chúng tôi giải quyết ngay các ý kiến của cử tri tại hội trường, những ý kiến nào cấp thiết sẽ đi thực tế, cùng với chính quyền địa phương tìm giải pháp tối ưu nhất. Ưu tiên nhất là giải quyết nhu cầu cấp thiết, đảm bảo quyền lợi chính đáng của nhân dân”.

Theo ông Trương Tấn Quang, ở ấp 3, xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, lo nhất là hiện nay, ở một số nơi, người dân còn thiếu nước sạch để sử dụng, rất bất tiện. Bên cạnh đó, thực trạng nước thải từ rơm rạ sau khi thu hoạch lúa, rác thải vật tư nông nghiệp không được phân loại, kể cả hóa chất độc hại xả trực tiếp xuống sông, kênh, rạch… khiến nguồn nước bị ô nhiễm, bốc mùi không thể sử dụng được. Đó là 2 điều mà bà con cử tri rất cần được quan tâm hỗ trợ, giải quyết kịp thời.

Bày tỏ lo lắng về việc một số hợp tác xã nông nghiệp đang bị “bỏ quên”, gây lãng phí, cử tri Đỗ Văn Toàn, ở ấp 1, xã Vị Đông, huyện Vị Thủy, chia sẻ: “Xã có Hợp tác xã Vị Đông 1, trước đây, được đầu tư, hoạt động khá hiệu quả. Thế nhưng, đến nay, sau một thời gian dài không thấy hoạt động nữa, cơ sở bỏ không rất uổng phí. Vì vậy, chúng tôi mong muốn chính quyền địa phương quan tâm khai thác cơ sở vật chất, phát huy hiệu quả của hợp tác xã này, để góp phần phát triển nông nghiệp tại địa phương”.

Cử tri Đỗ Văn Toàn cũng phản ánh bức xúc trước thực trạng rác thải để nhiều ngày, nhưng chưa có xe đến thu gom mang đi, gây bốc mùi khó chịu. Vấn đề này, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống hàng ngày của bà con khu dân cư xã Vị Đông, nên mong chính quyền địa phương sớm giải quyết dứt điểm.

Ghi nhận và giải đáp các vấn đề cử tri phản ánh, đồng chí Nguyễn Công Duy, Chủ tịch UBND huyện Vị Thủy, cho hay: “Vị Đông đã được công nhận xã nông thôn mới, đầu tư hợp tác xã là vấn đề ưu tiên và cần thiết. Trong đó, Hợp tác xã Vị Đông 1 chưa phát huy hiệu quả, huyện sẽ giao ngành chức năng tìm hiểu nguyên nhân, liên hệ với chính quyền địa phương tìm giải pháp phù hợp để tiếp tục tận dụng, khai thác hợp tác xã này”.

Riêng vấn đề rác thải, thu gom chậm, ảnh hưởng đến đời sống người dân, đồng chí Nguyễn Công Duy giao Chủ tịch UBND xã Vị Đông làm việc với công ty phụ trách để có chấn chỉnh ngay. “Hiện nay, có nhiều đơn vị thực hiện nhiệm vụ đảm bảo vệ sinh môi trường. Nếu đơn vị mà xã đã ký hợp đồng không thực hiện tốt nhiệm vụ thì cần cân nhắc lựa chọn đơn vị khác để đảm bảo chất lượng sống tốt nhất cho bà con ở khu dân cư Vị Đông, không để tái diễn phản ánh trên”, đồng chí Nguyễn Công Duy nói.

Kịp thời, giải quyết nhanh, không chờ đợi

Đó là đánh giá và cũng là sự phấn khởi chung của nhiều cử tri sau buổi tiếp xúc, khi chủ tọa đã yêu cầu ban, ngành, địa phương có liên quan đến gặp trực tiếp cử tri nắm rõ tình hình và giải quyết ngay, kịp thời.

Cử tri Trần Văn Dương, ở ấp 9A2, xã Vị Bình, bộc bạch: “Tôi có phản ánh tuyến Đường tỉnh 926, cây xanh mọc um tùm, cần phát quang sớm để tạo vẻ mỹ quan, tránh che khuất tầm nhìn và hạn chế muỗi xuất hiện; vấn đề cột điện tại ấp nghiêng ngã đã 3 năm nay, khiến việc đi lại của người dân không an toàn. Phấn khởi lắm khi ngành điện đã đến trao đổi, lưu số điện thoại của tôi và hẹn ngày cụ thể xuống rà soát và khắc phục trong thời gian sớm nhất”.

“Phương châm làm việc là “rõ đầu mối, rõ nội dung”, vấn đề nào giải quyết được ngay, sớm thì không chờ, vấn đề nào khó thì tìm hiểu và tìm giải pháp gỡ khó cho nhân dân trong thời gian sớm nhất”, đồng chí Trần Văn Huyến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, khẳng định.

Đổi mới hình thức, nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri là điều được ghi nhận trong thời gian qua, của HĐND 3 cấp. Cụ thể, HĐND 3 cấp đã tổ chức nhiều hình thức tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp thường lệ, tiếp xúc cử tri chuyên đề theo ngành, lĩnh vực; tiếp xúc cử tri trực tuyến, qua các nhóm zalo; tiếp xúc cử tri tại nhà... Từ sự sáng tạo, đổi mới, qua các buổi tiếp xúc, đại biểu HĐND đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, là cầu nối giữa cử tri với cơ quan nhà nước ở địa phương.

Ngoài ra, công tác tổng hợp kiến nghị của cử tri cũng được Thường trực HĐND tỉnh quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn HĐND các cấp trong tỉnh. Trên cơ sở đó, việc tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri đi vào nền nếp, cơ bản kịp thời, đầy đủ và phân loại theo lĩnh vực, cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Công tác theo dõi, đôn đốc việc trả lời, giải quyết ý kiến, kiến nghị cử tri luôn được thực hiện nghiêm túc.

Qua 6 tháng đầu năm, UBND tỉnh tiếp nhận 76 lượt ý kiến, kiến nghị của cử tri. Hiện có 64/76 ý kiến, kiến nghị được giải quyết dứt điểm, tỷ lệ 84,2%; còn 12/76 ý kiến đã được trả lời nhưng chưa giải quyết xong, chủ yếu liên quan đến lĩnh vực quy hoạch, đầu tư xây dựng, sửa chữa giao thông, thủy lợi... do ảnh hưởng đến nguồn ngân sách địa phương, nên không thể đáp ứng được hết các ý kiến, kiến nghị trong một thời gian ngắn... Tuy nhiên, UBND tỉnh giao các cơ quan, đơn vị có liên quan khẩn trương xem xét, tiếp tục giải quyết dứt điểm 12 lượt ý kiến, kiến nghị của bà con.

Tính “chuyên nghiệp” đã được thể hiện rõ khi mỗi ý kiến cử tri nêu ra, đại biểu nắm sâu, trả lời chắc, hợp lý, hợp tình. Đồng chí Mã Thị Tươi, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh, thông tin: “Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo đại biểu, tổ đại biểu HĐND thường xuyên thực hiện giám sát, các ban HĐND thẩm tra việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri; công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri và xem xét giải quyết các kiến nghị phức tạp, kéo dài được thực hiện tốt”.

Kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri. 

Q1

 Vận dụng và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngày 17-11, Tổng Bí thư Tô Lâm dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại ấp Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN).

Ngày 17-11, Tổng Bí thư Tô Lâm dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại ấp Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN).

Đoàn kết – Lời căn dặn thiết tha của Bác Hồ

Trong những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng đoàn kết trong Đảng và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Bác là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng. Từ trải nghiệm thực tiễn, Người đi đến kết luận: Trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước chưa đủ, cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết thành nhiều luận điểm có tính chân lý về đại đoàn kết toàn dân tộc. Người viết: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ, thì chúng ta nhất định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi và làm trọn nhiệm vụ nhân dân giao phó”; “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”; “Đoàn kết là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”; “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Đại đoàn kết toàn dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ các quan hệ liên kết qua lại giữa các thành viên, các bộ phận, các lực lượng xã hội của dân tộc từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới... Bác viết: Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài... Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ. Để quy tụ, tập hợp được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Bác cho rằng cần phải có chính sách và phương pháp phù hợp từng đối tượng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng có thể điều chỉnh cho phù hợp với từng giai tầng xã hội, từng nhóm đối tượng khác nhau, song đại đoàn kết toàn dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng. Chính sách đại đoàn kết dân tộc, như Người đã khẳng định: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”.

Tư tưởng đoàn kết trong Đảng làm hạt nhân đại đoàn kết toàn dân tộc của Bác Hồ có ý nghĩa chiến lược, đó là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt nam. Xây dựng Đảng thành một khối đoàn kết, thống nhất là hạt nhân để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bản Di chúc thiêng liêng, điều quan tâm đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nói về Đảng, trước hết là vấn đề đoàn kết trong Đảng. Bác khẳng định: Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Truyền thống đó được bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước, được Đảng ta kế thừa và phát huy trong giai đoạn lịch sử mới. Thấm nhuần những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của tinh thần đoàn kết, nhất là sự đoàn kết, thống nhất trong một đảng cầm quyền, trong hạt nhân lãnh đạo.

Đoàn kết, thống nhất là quy luật tồn tại, trưởng thành và phát triển của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Đảng có đoàn kết thành một khối thống nhất mới đủ sức mạnh để đánh đổ các thế lực áp bức bóc lột. Đảng có đoàn kết thành một khối thống nhất mới đủ sức lôi cuốn, tập hợp đông đảo quần chúng cần lao vào trận tuyến cách mạng, lật đổ chế độ cũ, xây dựng chế độ xã hội mới. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền. Bác chỉ rõ: Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo. Khi viết Di chúc, điều đầu tiên Bác quan tâm là nói về tầm quan trọng của đoàn kết trong Đảng: Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Theo Bác, sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng phải dựa trên cơ sở một mục tiêu, một lý tưởng thống nhất: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”; “Đối với Đảng, đối với nhân dân, chúng ta có một nghĩa vụ vẻ vang là: suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đầy tớ tận tụy của nhân dân”. Tinh thần đoàn kết đó phải được thể hiện ở sự nhất trí, thống nhất trong toàn Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và xây dựng đội ngũ cán bộ; được xây dựng, bồi đắp trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, chính sách và theo những nguyên tắc tổ chức của Đảng.

Muốn có sự đoàn kết, nhất trí vững chắc, trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi; đảng viên phải nêu cao kỷ luật tự giác, phải thực hiện tự phê bình và phê bình. Trong Di chúc, Bác khẳng định: Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Bác còn khẳng định đoàn kết nhất trí phải xuất phát từ tình thương yêu thiêng liêng nhất, sâu sắc nhất, bền vững nhất giữa những người cộng sản. Bác viết: “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết”. Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa. Lời Bác dặn quý báu và thiêng liêng, là bảo vật quốc gia, chúng ta không những phải giữ gìn mà ra sức thực hiện bằng được tâm nguyện của Bác

Nhận diện âm mưu phá hoại khối đoại đoàn kết toàn dân tộc

Hiện nay, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường. Sự cạnh tranh của các nước lớn; xung đột quân sự khu vực khốc liệt, có nguy cơ lan rộng. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 phát triển bùng nổ. Ở trong nước vẫn còn những khó khăn, thách thức cần được giải quyết triệt để, như tình trạng phân hóa giàu nghèo, di cư trái phép; tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp, tỷ lệ cán bộ người dân tộc còn ít. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng thực hiện âm mưu “chia để trị”; chúng tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thâm độc hòng phá hoại đất nước ta từ bên trong. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên kích động nhân dân, thổi phồng, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền ở một số nơi; thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân.

Chúng tập trung phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, trọng tâm then chốt tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, là “mũi đột phá”, “thọc sâu” với mưu đồ làm tan rã niềm tin, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới “tự chuyển hóa” xóa bỏ tư tưởng XHCN, với những thủ đoạn rất tinh vi như: xuyên tạc những nguyên lý cơ bản, khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin đối với thực tiễn CNXH hiện nay; phủ nhận sự nhận thức lý luận và thực tiễn những nguyên lý căn bản nhất của học thuyết Mác- Lênin, được vận dụng sáng tạo ở nước ta; phủ nhận sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của dân tộc ta; khai thác những khó khăn, những khiếm khuyết trong thực thi các quyết sách của Đảng. Chúng xúc phạm lòng tôn kính của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với Bác Hồ kính yêu; xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Người. Chúng vu khống, dựng chuyện nói xấu, bôi nhọ cán bộ để gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân. Lợi dụng những phần tử bất mãn xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, bôi đen chế độ, khoét sâu tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước. Chúng gây chia rẽ giữa các dân tộc. Chúng hạ thấp vai trò của mặt trận Tổ quốc. Chúng muốn vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng với quân đội, chia rẽ giữa Đảng với quân đội. Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn trong điều kiện phát triển của hệ thống thông tin, truyền thông toàn cầu, chiến tranh mạng.     

Trong nội bộ Đảng một số nơi không thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng việc tổ chức sinh họat, buông lỏng quản lý đảng viên. Không tự phê bình và phê bình nghiêm túc, bình xét phân loại đảng viên thì qua loa đại khái dễ người dễ ta. Ý thức chấp hành kỷ luật thấp nên có nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật dẫn đến nguy cơ mất đoàn kết trong Đảng, mà còn vi phạm kỷ cương phép nước. Một số người từ việc thiếu bản lĩnh chính trị khi được các trang mạng tán dương lại ra vẻ hợm hĩnh dưới những mỹ danh “nhà yêu nước” “nhà dân chủ ” mà không biết mình đang bị lợi dụng và trở thành con rối trong tay bọn cơ hội phản động, trượt dài trên con đường phản bội. Một số cấp ủy, tổ chức đảng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, cán bộ lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, kéo bè kéo cánh gây mất đoàn kết nội bộ, cấp ủy cấp trên chưa sâu sát chỉ đạo kiểm điểm làm rõ đúng sai, xử lý nghiêm những người có khuyết điểm. Về vấn đề này, Bác Hồ đã nêu một luận điểm quan trọng: Một dân tộc, một đảng, và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Điều căn dặn của Bác giúp chúng ta nhìn nhận sự sa sút về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ đảng viên hiện nay.

Nhiêm vụ, giải pháp tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

Một là, chủ động, tích cực quán triệt sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm và hành động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Nâng cao hiệu quả và tiếp tục đổi mới, chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác dân vận, để sẵn sàng “đi trước một bước”, làm cho nhân dân hiểu, nhân dân tin, nhân dân ủng hộ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, để ý Đảng luôn hợp lòng dân.

Hai là, chú trọng, phát huy nguồn lực con người, khơi dậy khát vọng, tinh thần và ý chí phát triển, lòng yêu nước, niềm tự hào, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận toàn dân tộc. Đẩy mạnh tính tích cực chính trị, năng lực lao động, cống hiến, đổi mới sáng tạo của con người Việt Nam; nâng cao ý chí tự lực, tự cường trong mỗi người dân trước vận mệnh và tương lai của đất nước. Coi trọng việc phát huy động lực, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho các lĩnh vực then chốt; xây dựng chính sách mới có tính đột phá hơn để thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ người tài....

Ba là, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả lĩnh vực của đời sống, từ kinh tế - xã hội đến chính trị, văn hóa...; xây dựng hình thức thích hợp, tổ chức chu đáo, để nhân dân tham gia ý kiến trong mọi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; thiết thực, khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau; phát huy dân chủ, đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội; tăng cường giám sát, tổng kết thực hiện nghị quyết, chỉ thị, và thực hiện luật dân chủ ở cơ sở.

Bốn là, chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Theo đó, trong mọi quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở, cần đem “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” và phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Lợi ích đó phải được thể hiện qua mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Năm là, kiên quyết đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. Cần đặc biệt chú trọng, nâng cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, chủ nghĩa cá nhân... để không ngừng củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời giữ vững vai trò tiên phong, hạt nhân lãnh đạo của Đảng; không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng theo hướng sáng tạo, thực sự đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ công cuộc phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc.

Q1

 Bí thư Huyện ủy Krông Pắc và ước vọng kiến tạo “con đường lớn”

Bí thư Huyện ủy Trần Hồng Tiến chúc thọ 100 tuổi cụ Nguyễn Văn Long, Tổ dân phố 2, thị trấn Phước An. Ảnh: TL

Thành quả kết tinh từ tâm huyết, tư duy đột phá

Cuộc trò chuyện với Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Krông Pắc Trần Hồng Tiến diễn ra trong không khí cởi mở và gần gũi, khi ngoài kia Xuân Ất Tỵ đang về! Với phong thái thẳng thắn, luôn sẵn mở lòng, vị Bí thư vùng đất được coi là “thủ phủ” sầu riêng với phong cách diễn đạt mạch lạc, tường tận phác họa về thành tựu, đường hướng phát triển, tâm thế của Krông Pắc trên con đường đi tới tương lai.

Ngước nhìn biểu đồ tăng trưởng của vùng đất phía đông tỉnh Đắk Lắk, Bí thư Trần Hồng Tiến trầm ngâm: “Thấm thoắt đã trên 6 năm tôi về huyện. Trong bối cảnh thuận lợi, thách thức đan xen, song với sự chủ động, linh hoạt, đúng hướng, trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành của BCH Đảng bộ qua từng giai đoạn, Krông Pắc đã giành được nhiều thành tựu trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; kinh tế - xã hội chuyển biến tích cực, vượt bậc, tốc độ bứt phá nhanh, toàn diện, luôn đứng tốp đầu các địa phương trong tỉnh Đắk Lắk”.

Tất cả các nhóm chỉ tiêu đều đạt và vượt so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2020-2025 là 10,21%. Tổng thu ngân sách trên địa bàn 5 năm ước đạt gần 1.442 tỷ đồng, tăng bình quân gần 13%/năm. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội trong nhiệm kỳ khoảng 9.010 tỷ đồng, tăng 3.437 tỷ đồng so với chỉ tiêu Nghị quyết. Thu nhập bình quân đạt 72,89 triệu đồng/người/năm. “Mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới ở Krông Pắc là thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn và đời sống người dân, bám sát quan điểm không chạy theo thành tích, làm đến đâu chắc đến đó, người dân được thụ hưởng thật sự”, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Trần Quốc Vĩnh tâm sự.

Mải chuyện về những bứt phá, những “trái ngọt” vượt ngoài mong đợi, Bí thư Trần Hồng Tiến sôi nổi, hào hứng cho rằng, bám sát định hướng của tỉnh, những chủ trương, quyết sách lớn của Đảng bộ huyện đã biến thành thực tiễn sinh động, thể hiện được sự thích ứng, hiệu quả với làn gió mới đã cho Krông Pắc khoác lên mình sắc phục đa dạng, tinh khôi, năng động trên vùng cao nguyên đất đỏ.

Ở đó, trong mỗi chủ trương Huyện ủy, BTV Huyện ủy đã định hướng rất cụ thể, giao chính quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị của huyện triển khai. Trong từng giai đoạn, Krông Pắc đề ra giải pháp, kế hoạch chi tiết để hướng tới mục tiêu tổng quát. Lần từng bước cẩn trọng, kiên trì, mạnh mẽ trên con đường vừa mới lại vừa khó đang lựa chọn để đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông thôn mới, huyện đã từng bước chạm tới khát vọng của mình.

Để rồi cả 3 khâu đột phá do Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV xác định, có tính đến cả chiến lược lâu dài đã mang lại cho Krông Pắc nhiều thành quả mới.

Thứ nhất, về cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính, năng động, chuyên nghiệp. Huyện đã ban hành Bộ chỉ số cải cách hành chính cấp xã, Đề án chuyển đổi số huyện Krông Pắc giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030. Đến nay, 16/16 xã, thị trấn đã thực hiện tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, giải quyết các thủ tục hành chính phục vụ người dân và doanh nghiệp theo hướng đơn giản, gọn nhẹ.

Từ một địa phương trước đây có chỉ số cải cách hành chính xếp thứ 12 tỉnh Đắk Lắk thì đến năm 2021, 2022 Krông Pắc vươn lên xếp hạng 3. Chuyển đổi số năm 2020 xếp hạng 2, năm 2021 xếp hạng 1, năm 2022, 2023 xếp hạng 2.

Thứ hai, tập trung xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững, ứng dụng khoa học - công nghệ, tổ chức sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ, hình thành liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị; như triển khai hỗ trợ giống sản xuất theo quy mô lớn đối với các giống lúa chất lượng cao như ST24, ST25 với diện tích từ 1.600 đến 1.800ha/năm.

Theo Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Ngô Thị Minh Trinh, Krông Pắc hiện có gần 7.200ha sầu riêng, chiếm 1/3 diện tích sầu riêng tỉnh Đắk Lắk. Sản lượng đạt trên 92.000 tấn, doanh thu năm 2024 trên 7.000 tỷ đồng. Đây là địa phương tiên phong trong đăng ký nhãn hiệu “Sầu riêng Krông Pắc” với 2.053ha được cấp 37 mã số vùng trồng xuất khẩu, được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “KRONG PAC DURIAN SẦU RIÊNG”.

Đặc biệt là đã tổ chức thành công “Lễ hội Sầu riêng Krông Pắc” lần thứ I - năm 2022 thu hút trên 40.000 lượt khách, lần thứ II - năm 2024 gần 200.000 lượt khách với nhiều chuỗi sự kiện văn hóa - lịch sử đặc sắc. Lễ hội có tầm ảnh hưởng lớn, lan tỏa tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Krông Pắc và tỉnh Đắk Lắk, trở thành sự kiện hấp dẫn, riêng biệt, được người dân mọi miền Tổ quốc biết đến hình ảnh con người Krông Pắc thân thiện, mến khách, đậm bản sắc văn hóa mà không nơi nào có được.

Thứ ba, xúc tiến đầu tư với các dự án đã và đang được triển khai như: Đường giao thông liên xã Ea Phê - Ea Kuăng - Vụ Bổn dài 11,518km với mức đầu tư 60,093 tỷ đồng, dự án phát triển nhà ở đô thị Phước An diện tích 17,02ha với số vốn 975,013 tỷ đồng. Dự kiến đến năm 2025 có khoảng 36 dự án, tổng nguồn vốn trên 15.798 tỷ đồng. Đến nay, đã có 9 dự án được chấp thuận gồm: Trang trại chăn nuôi lợn giống công nghệ cao ITVN Vụ Bổn, Trường TH - THCS - THPT Tây Nguyên, Nhà máy Sơ chế và đóng gói trái cây xuất khẩu Krông Búk, Trang trại nuôi gà đẻ trứng Vụ Bổn, Trung tâm Thu mua, sơ chế, đóng gói trái cây, nông sản xuất khẩu Ea Yông, Nhà máy Sản xuất bao bì, túi xách Hòa Tiến, Khu du lịch sinh thái điện ảnh Moonlight Land, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Hòa An.

Dự án Công ty Cổ phần KD Green Farm đã trồng được 500ha chuối già Nam Mỹ tại xã Vụ Bổn. Sản phẩm được xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và châu Âu… Bên cạnh hiệu quả kinh tế còn tạo việc làm ổn định cho gần 1.000 lao động với thu nhập từ 7 đến 8 triệu đồng/người/tháng. Sản lượng năm 2024 đạt trên 20.000 tấn, doanh thu trên 250 tỷ đồng.

Từ thực hiện thành công, hiệu quả 3 khâu đột phá, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư xây dựng, tỉ lệ cứng hóa đường huyện đạt 91%, đường xã 74%, đường thôn, buôn 43%. Đến nay, 100% số thôn, buôn có điện, 96% số hộ dân được sử dụng điện. Đến cuối năm 2024, có 12/15 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Từ những khu tái định cư, các thôn, buôn dọc theo Quốc lộ 26, ở đâu cũng có thể nhận ra vùng đất chủ nhân của một trọng điểm phát triển kinh tế nhộn nhịp, năng động, đầy triển vọng. Có một Krông Pắc đã bước sang trang mới, hướng tới sự giàu có, phồn vinh.

Ngày mai bắt đầu từ hôm nay

Cuộc trò chuyện của chúng tôi với tập thể Thường trực Huyện ủy Krông Pắc cuốn mãi về chiều muộn...

Theo Bí thư Trần Hồng Tiến, những nguồn lực được huy động từ lợi thế của Krông Pắc lại được tôn bồi từ chiến lược phát triển với tầm nhìn tổng thể, tạo nên sự đa dạng trong phát triển. Để rồi mỗi vùng, mỗi miền quê đều tìm ra con đường hiện thực hóa, biến ý tưởng thành thực tiễn sinh động, hòa chung và đan cài vào sự phát triển của tỉnh, và rộng hơn là của quốc gia.

Trong các lợi thế thu hút đầu tư của Krông Pắc, hạ tầng giao thông đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài trục “xương sống” Quốc lộ 26, hai dự án giao thông trọng điểm của Đắk Lắk và vùng Tây Nguyên đi qua Krông Pắc đang được xúc tiến là đường Hồ Chí Minh đoạn tránh phía đông TP. Buôn Ma Thuột và cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột với 4 nút giao tại các xã Hòa Đông, Ea Knuếc, Tân Tiến, Vụ Bổn sẽ mở ra kỳ vọng đổi thay. Đến nay, các tuyến giao thông nối với cao tốc như Tỉnh lộ 9, tuyến liên xã Ea Phê - Ea Kuăng - Vụ Bổn được đầu tư nâng cấp, mở rộng, sẵn sàng kết nối.

Càng trò chuyện sâu càng vỡ vạc ra nhiều điều mới mẻ. Bí thư Trần Hồng Tiến có nhiều trăn trở, tư duy sâu, gợi mở những mô hình mới, cách làm hay để Krông Pắc tạo đà, bứt tốc. Tôi cảm nhận: sâu kín trong tố chất mộc mạc, dung dị, khiêm nhường của vị Bí thư Huyện ủy là một trái tim đầy nhiệt huyết, mang nặng trách nhiệm của một đảng viên trên vùng đất đang vươn mình, trỗi dậy.

Theo đó, Krông Pắc sẽ tập trung thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tăng cường công tác quản lý quy hoạch, huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, thu hút và đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ, chuyển đổi số.

“Krông Pắc đang tận dụng từng thời khắc, từng cơ hội để vươn lên, sớm ngày nào thì người dân sẽ chạm tay vào ước mơ, khát vọng sớm ngày đó. Nhiệm vụ đã rõ. Phải tập trung dồn sức hướng tới thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Krông Pắc trở thành vùng quê no ấm, giàu bản sắc, xứng đáng vai trò của vùng đất năng động, trọng điểm phía đông tỉnh Đắk Lắk”, Bí thư Tiến kỳ vọng.

Theo Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy Trần Văn Tuyến, một điểm nhấn nữa là trong nhiệm kỳ qua Huyện ủy, BTV Huyện ủy đã dành nhiều tâm sức chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Từ đó, đội ngũ cán bộ luôn gắn bó, đoàn kết, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, biết làm, cùng chung tay đưa Krông Pắc phát triển vượt bậc, toàn diện như hôm nay. Vì thế phải hết sức coi trọng, chăm lo tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, bởi công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”.

 “Phía trước mỗi quyết định về công tác cán bộ là sự nghiệp của một cơ quan, địa phương - nhìn rộng hơn là sự phát triển, là đời sống, hạnh phúc của Nhân dân. Công tác cán bộ phải công khai, minh bạch, chọn đúng người, đặt đúng vị trí, tạo đồng thuận cao. Cái gì đúng thì mình ủng hộ, cái gì chưa hợp lý phải có chính kiến, thuyết phục dần dần dựa trên nguyên tắc có lợi cho sự nghiệp chung. Nếu có quan điểm trái với lợi ích tập thể thì phải kiên quyết thay đổi, tuyệt đối không xét đến yếu tố quan hệ thân quen hoặc để nhóm lợi ích chi phối”, Bí thư Tiến thẳng thắn bày tỏ.

 “Tôi xác định động cơ rất vững vàng từ khi nhận trách nhiệm Bí thư Huyện ủy Krông Pắc là nhận nhiệm vụ trước Đảng và Nhân dân. Tôi luôn tâm niệm và nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ bằng tất cả tâm huyết, trách nhiệm, khát vọng của mình. Vì thế chúng tôi đã chọn tầm nhìn dài hạn, toàn cục trong các quyết sách cũng như trong quá trình chỉ đạo, điều hành”, Bí thư Trần Hồng Tiến khẳng định.

Từ đó, tất cả mục tiêu đặt ra đều mang tầm nhìn dài hạn và được bàn bạc kỹ trong tập thể cấp ủy để cụ thể hóa bằng kế hoạch, giải pháp; tất cả vì mục tiêu phát triển, vì cuộc sống của người dân nên đã quy tụ được sức mạnh tập thể, sự đồng thuận xã hội. Chính vì thế, nhiệm kỳ 2025-2030, Đảng bộ huyện lần thứ hai liên tiếp được BTV Tỉnh ủy Đắk Lắk chọn tổ chức đại hội điểm toàn diện. Bí thư Huyện ủy Trần Hồng Tiến nói: “Tôi không né tránh bất cứ khó khăn, cản trở nào trong suốt hơn 6 năm qua và đến nay vẫn vẹn nguyên khát vọng, tâm huyết như ngày mới bước chân về huyện. Gắn bó với Krông Pắc, tôi thu lượm, gặt hái và trưởng thành với những giá trị của con người nơi đây mà không thể đo đếm được bằng con số. Đến bây giờ, điều tôi cảm thấy vui, mãn nguyện nhất là thành quả của mỗi bước đi, sự phát triển của vùng đất phía đông Đắk Lắk”.

Là người bề ngoài lộ vẻ nghiêm nghị nhưng vị Bí thư Huyện ủy xuất thân từ cán bộ Đoàn vẫn toát lên cốt cách tao nhã, thân thiện và chân tình, xởi lởi và hào sảng. Cách nói chuyện thân gần, cởi mở đó như được tiếp thêm thứ năng lượng ấm áp để rồi lan tỏa những dự định về tiền đồ và ước vọng về “con đường lớn” trên vùng quê bên dòng sông Krông Pắc huyền thoại, chất chứa niềm tin, khát vọng về một ngày mai tươi sáng.

Q1

 Trưng cầu ý dân và những vấn đề đặt ra

Kỳ họp thứ tám, Quốc hội Khóa XV quyết định nhiều vấn đề quan trọng.

Bất cứ một quốc gia, một nhà nước nào, phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, của xã hội một cách dân chủ, công khai và minh bạch luôn là một mục tiêu lớn, xuyên suốt, nhằm làm động lực cho phát triển con người, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…. Đây là vấn đề có xu thế toàn cầu, được nhiều quốc gia quan tâm. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế và quỹ đạo ấy, trong đó việc xây dựng và cho ra đời Luật Trưng cầu ý dân là một tiến bộ trong tiến trình thực hiện mục tiêu nhân dân làm chủ. 

Những vấn đề cơ bản về trưng cầu ý dân 

Trong thế giới đương đại, nhất là từ đầu thế kỷ 21 đến nay, việc trưng cầu ý dân  được nhiều quốc gia thực hiện nhằm các mục đích khác nhau. 

Từ năm 2016 đến nay, thế giới đã ghi nhận hàng loạt các cuộc trưng cầu ý dân  ở nhiều quốc gia, điển hình nhất là việc cử tri Vương quốc Anh đồng ý rời khỏi Liên minh châu Âu (Brexit) hồi tháng 6-2016; cuộc trưng cầu  ý  dân về thỏa thuận hòa bình lịch sử vừa được ký kết giữa chính phủ và lực lượng vũ trang cách mạng Colombia (FARC) hồi tháng 10-2016; cuộc trưng cầu ý dân tại Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 4-2017 hay như các cuộc trưng cầu ý dân diễn ra tại Niu Di-lân, Pháp, Hà Lan, I-ta-li-a… Những cuộc trưng cầu ý dân này đã thúc đẩy làn sóng quan tâm đến nền dân chủ trực tiếp ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vậy nên hiểu về trưng cầu ý dân là như thế nào?

Trong các xã hội dân chủ hiện đại, trưng cầu ý dân là một chế định hiến pháp tồn tại trong nhiều hệ thống chính trị khác nhau ở các châu lục. Cho đến nay, theo thống kê đã có 101 nước trên tổng số 190 nước có quy định về trưng cầu ý dân.
Theo cuốn Đại từ điển Tiếng việt do Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hồ Chí Minh tái bản lần thứ 13 thì “Trưng cầu được hiểu là đưa ra hỏi ý kiến của số đông một cách có tổ chức để thêm căn cứ khi đưa ra quyết định vấn đề gì”. Trưng cầu ý dân là hỏi ý kiến nhân dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực tiếp quyết định.

Theo Từ điển Tiếng Việt thì Trưng cầu ý dân là cuộc hỏi ý kiến của toàn thể dân chúng về một vấn đề chính trị hay pháp luật bằng cách tổ chức bỏ thăm.

Tiếng Anh, trưng cầu ý dân được viết là “referendum” (số nhiều referendums hoặc referenda). Còn có thuật ngữ khác là “plebiscite” – có nghĩa là cuộc bỏ phiếu toàn dân và thuật ngữ này vẫn được một số quốc gia trên thế giới sử dụng để thay thế cho “referendum”. Tuy nhiên, dù sử dụng thuật ngữ nào tùy thuộc vào bối cảnh của từng quốc gia, nhưng bản chất trưng cầu ý dân chính là một trong những hình thức của dân chủ trực tiếp.

Về cơ bản, trưng cầu ý dân được hiểu là thủ tục cho phép cử tri bỏ phiếu trực tiếp đối với các vấn đề chính trị, hiến pháp hay pháp lý cụ thể và kết quả trưng cầu ý dân có thể ràng buộc về mặt pháp lý, hoặc được sử dụng cho mục đích lấy ý kiến tham vấn. Trưng cầu ý dân diễn ra khi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị bỏ phiếu về một vấn đề nào đó, có thể là việc thông qua hiến pháp mới; sửa đổi, bổ sung hiến pháp; thông qua một đạo luật; hoặc đơn giản là một chính sách cụ thể của nhà nước liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia, quyền con người…

Về hình thức, trưng cầu ý dân có hai loại là trưng cầu ý dân bắt buộc và trưng cầu ý dân không bắt buộc. Trong đó, trưng cầu ý dân bắt buộc là cuộc bỏ phiếu của cử tri mà pháp luật quốc gia sở tại quy định bắt buộc phải tổ chức (như trưng cầu ý dân để thông qua cải cách hiến pháp; phê chuẩn các điều ước quốc tế…).
Trưng cầu ý dân không bắt buộc là cuộc bỏ phiếu của cử tri không bắt buộc phải tổ chức theo quy định của pháp luật mà được thực hiện khi có đề nghị của một số chủ thể nhất định. Chủ thể đề xuất tổ chức trưng cầu ý dân có thể là các cơ quan nhà nước hoặc cử tri.

Từ khái niệm trưng cầu ý dân lại xuất hiện “trưng cầu ý dân tại địa phương”. Đó là một loại hình trưng cầu ý dân trong phạm vi một địa phương nhất định. Trong đó, người dân trực tiếp bỏ phiếu đồng ý hoặc không đồng ý về các vấn đề quan trọng tại địa phương được đưa ra trưng cầu.

Ngoài ra, thuật ngữ “trưng cầu ý dân” rất gần nghĩa với một số thuật ngữ khác như “phúc quyết” hoặc “lấy ý kiến nhân dân”. Giữa các thuật ngữ này, có thể so sánh, phân biệt như sau: 

- Trưng cầu ý dân và phúc quyết 

Về mặt ngôn ngữ, phúc quyết được hiểu là việc đưa ra một vấn đề đã được quyết định ra để biểu quyết. Những vấn đề đưa ra phúc quyết phải là những vấn đề đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua. 

Trong khi đó, những vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân có thể là những vấn đề đã được cơ quan nhà nước thông qua hoặc cũng có thể chưa được thông qua. Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam, thuật ngữ phúc quyết đã xuất hiện trong Hiến pháp năm 1946 và trong một số văn bản về tổ chức chính quyền địa phương vào cùng thời điểm đó (ví dụ như Sắc lệnh số 63-SL ngày 22-11-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa). 

- Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân 

Lấy ý kiến nhân dân là việc nhà nước tổ chức để nhân dân đóng góp, tham gia ý kiến của mình về một vấn đề cụ thể đưa ra lấy ý kiến. Như vậy, xét về khía cạnh chung, nội hàm của trưng cầu ý dân hẹp hơn so với nội hàm của lấy ý kiến nhân dân. Điểm khác biệt cơ bản giữa lấy ý kiến nhân dân với trưng cầu ý dân là ở chỗ: Thông qua trưng cầu ý dân người dân trực tiếp quyết định đồng ý hay không đồng ý (bằng cách bỏ phiếu) đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn thông qua ý kiến nhân dân, người dân chỉ đưa ra ý kiến (bằng văn bản hoặc góp ý trực tiếp) để cơ quan nhà nước tham khảo. 

Nhìn chung, vị trí và vai trò của trưng cầu ý dân trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như: Các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí, trình độ chính trị, trình độ pháp lý, thói quen thực hiện dân chủ của người dân trong từng nước, phụ thuộc vào sự tác động của các quốc gia khác trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, khi dân chủ càng phát triển thì càng tạo điều kiện mở rộng và phát huy vai trò của trưng cầu ý dân và ngược lại. 

Đặc điểm của trưng cầu ý dân 

Trưng cầu ý dân với tư cách là một trong các cơ chế dân chủ trực tiếp cung cấp cho cử tri các cơ hội tham gia vào các hoạt động của nhà nước. Với tư cách là một hình thức của dân chủ trực tiếp, hoạt động trưng cầu ý dân có các đặc trưng cụ thể như sau: 

Trưng cầu ý dân có thể được quy định trong một bản hiến pháp thành văn, trong một đạo luật chung hay trong một văn bản luật quy định việc trưng cầu ý dân chỉ phục vụ cho việc bỏ phiếu lấy ý kiến về một vấn đề cụ thể nào đó. Những lợi thế của việc quy định trưng cầu dân ý trong hiến pháp hay các văn bản pháp luật như nêu trên là bảo đảm tính minh bạch và có giá trị pháp lý ràng buộc, góp phần vào tính chính đáng của các cuộc trưng cầu ý dân.

Ở châu Âu, đa số các quốc gia quy định việc tổ chức trưng cầu ý dân cấp quốc gia trong hiến pháp (như Ác-mê-ni-a, Ai-len, Lát-vi-a, Thụy Sỹ, v.v..). Tuy nhiên, quy định trong một số hiến pháp về trưng cầu ý dân chỉ đưa ra nguyên tắc chung và phải được cụ thể hóa trong luật để có thể thực hiện trong thực tiễn.

Trưng cầu ý dân có thể do các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp hoặc người dân đề xướng. Ở một số quốc gia, thủ tục đề xướng được quy định trong hiến pháp, nhưng ở một số quốc gia khác, việc đề xướng trưng cầu ý dân được quy định trong một đạo luật hoặc văn bản điều hành của cơ quan hành pháp. 

Kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân do các nhà chức trách khởi xướng có thể mang tính tham vấn (không bắt buộc) hoặc có giá trị pháp lý ràng buộc (bắt buộc). Cuộc trưng cầu ý dân về Hiệp ước Hiến pháp EU tại Pháp và Hà Lan năm 2005 đã chứng minh kết quả của trưng cầu ý dân có thể mang tính tham vấn. Tuy nhiên, một chính phủ dân chủ khó có thể bỏ qua kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân cho dù nó chỉ mang tính chất tham vấn đi chăng nữa. Bởi kết quả của trưng cầu ý dân sẽ phản ánh nguyện vọng, tâm lý của toàn xã hội về một vấn đề cụ thể nào đó, giúp các cơ quan có thẩm quyền định hướng các chính sách và quyết sách một cách phù hợp.

Tại Việt Nam, Luật Trưng cầu ý dân được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25-11-2015 tại Kỳ họp thứ 10 và có hiệu lực từ ngày 1-7-2016. Luật Trưng cầu ý dân gồm 8 chương, 52 điều, quy định về việc trưng cầu ý dân; nguyên tắc trưng cầu ý dân; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong trưng cầu ý dân; trình tự, thủ tục quyết định việc trưng cầu ý dân và tổ chức trưng cầu ý dân; kết quả và hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân.

Theo ông Trần Công Phàn, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Luật gia Việt Nam, Luật Trưng cầu ý dân đã kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Q1