Thứ Năm, 28 tháng 8, 2025

SỰ NGUY HẠI CỦA LẠM DỤNG CÔNG NGHỆ, COI NHẸ TƯ DUY

BÀI 1: BIỂU HIỆN MỚI CỦA SUY THOÁI TƯ TƯỞNG!

     Công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), mở ra nhiều cơ hội phát triển vượt bậc cho đời sống xã hội và công tác quản lý nhà nước. Trong xu thế tất yếu của chuyển đổi số, một số người bộc lộ tâm lý chủ quan, lạm dụng, tuyệt đối hóa, thậm chí coi AI như “đũa thần” thay thế việc học, tư duy, nghiên cứu. Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, việc lạm dụng công nghệ, coi nhẹ tư duy tất yếu dẫn đến những hệ lụy khó lường...

Lạm dụng công nghệ, biến người dùng thành “cái máy” thứ hai

Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ (KHCN), AI đã trở thành hiện tượng toàn cầu, tác động toàn diện đến đời sống con người, là thước đo trình độ sáng tạo và ứng dụng KHCN ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Ở nước ta, AI ngày càng được ứng dụng rộng rãi, góp phần làm thay đổi diện mạo đời sống xã hội. Không ai phủ nhận tính ưu việt của công nghệ, nhưng bên cạnh những tiện ích vượt trội, đời sống xã hội và môi trường công tác lại xuất hiện tình trạng rất đáng suy nghĩ. Một số người thay vì coi AI là công cụ hỗ trợ thì lại phó mặc, thậm chí “mê sảng” vì nó, đến mức biến mình thành “cái máy” thứ hai.

Tại một số hội nghị, sự kiện gần đây ghi nhận những tình huống dở khóc, dở mếu. Có người lên bục phát biểu, đọc nhầm số liệu, diễn đạt rập khuôn, đọc “như một cái máy” khiến người nghe thực sự ngán ngẩm. Nguyên nhân không nằm ở trình độ công nghệ, mà ở sự ỷ lại. Người có kiến thức về công nghệ dễ dàng nhận ra, trong những tình huống đó, bài phát biểu đã được soạn thảo bằng AI. Người phát biểu thì lười biếng, ỷ lại, không chịu nghiên cứu, không chỉnh sửa, không thẩm định, có sao đọc vậy. Hệ quả là bài phát biểu trở thành “ngôn ngữ của máy móc”, rập khuôn, sáo mòn, xa rời thực tiễn; thậm chí sai cả luận cứ, lệch cả luận điểm...

Trong môi trường báo chí, truyền thông cũng có tình trạng tương tự. Công chúng truyền thông liên tục phát hiện, chỉ ra những lỗi sai sơ đẳng nhưng không kém phần tai hại của một số bài báo, sản phẩm truyền thông được sản xuất bằng AI nhưng thiếu kiểm tra, thẩm định. Có một số bản thảo khi tiếp cận, người biên tập phải thốt lên chua xót: “Xấu hổ quá!”. Xấu hổ là phải, bởi đó là sản phẩm được viết bằng AI. Bài phản ánh về sự kiện chính trị mà cứ “vô tư” tả cảnh, tả tình, “tán hươu, tán vượn”, sến sẩm như bài tập làm văn của học trò, dẫn đến giả dối, phỉnh nịnh một cách thô thiển...

Người viết bài này đã trực tiếp chứng kiến tại một hội nghị góp ý vào dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội đảng bộ ở một địa phương, chỉ là phạm vi một địa phương, nhưng trong bản dự thảo lại có những nội dung, chỉ tiêu mang tầm quốc gia, xa rời thực tế, hoàn toàn không mang tính khả thi. Tìm hiểu mới vỡ lẽ, đó là sản phẩm được soạn thảo bởi AI. Mà AI thì tư duy máy móc. Nó bám vào những câu lệnh của người dùng để cho ra kết quả, nhiều khi chỉ là mớ ngôn ngữ thập cẩm đã được lập trình sẵn.

Việc lạm dụng thái quá đến mức phó mặc, lệ thuộc vào AI phơi bày tình trạng rất đáng lo ngại, đó là kiểu “đóng băng” tư duy. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, việc học tập lý luận chính trị, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết, kiểu “đóng băng” tư duy là rất nguy hại. Bởi, khi đã lệ thuộc AI, chủ thể không chịu tư duy, lười suy nghĩ, thì những sản phẩm như bài thu hoạch, bài phát biểu, thậm chí là cả giáo án, dự thảo văn kiện... đều là thứ “hàng công nghiệp”. Đó là những sản phẩm chỉ để “đọc cho có”, hoàn toàn không có tác dụng gì trong việc thẩm thấu vào tư duy, tâm hồn, trái tim con người.

Nói một cách công bằng thì căn bệnh lười học, lười đọc, lười nghiên cứu không phải đến lúc có AI mới xuất hiện, mà nó đã tồn tại từ lâu. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ: Một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, trong đó nổi bật là lười học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, ngại tư duy, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả... Nguyên nhân của tình trạng này một phần xuất phát từ tâm lý chủ quan, thỏa mãn, dừng lại. Một bộ phận cán bộ, đảng viên sau khi đã trang bị đầy đủ bằng cấp, có đủ học hàm, học vị phục vụ nhu cầu thăng tiến thì bộc lộ tư tưởng thỏa mãn, cá biệt có trường hợp còn mắc chứng “công thần cộng sản”, sinh ra kiêu căng, tự mãn. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ trong bài viết “Học tập suốt đời”: Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, chạy theo bằng cấp, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ... dẫn đến bảo thủ, không thích nghi với nhịp sống hối hả của kỷ nguyên KHCN...

Trong bối cảnh bùng nổ công nghệ AI, nếu những cán bộ đã mắc sẵn bệnh lười học, lười đọc, lười nghiên cứu, nay lại lạm dụng thái quá vào AI thì sự nguy hại càng tăng lên gấp bội. Với cán bộ trẻ, khi trong tư duy chưa có nền tảng lý luận vững chắc, trong tư tưởng chưa có bản lĩnh chính trị vững vàng mà lại lạm dụng công nghệ thì chỉ có thể biến mình thành “cái máy” thứ hai, không hơn không kém.

Công nghệ chỉ là công cụ. Dù nó có phát triển mạnh đến đâu, vươn lên tầm cao đến mấy thì vĩnh viễn nó vẫn chỉ là công cụ. Nó hoàn toàn không thể thay thế tư duy của bộ óc con người; hoàn toàn không mang cảm xúc của tâm hồn, trái tim con người. Nhưng với kiểu lười biếng, thích ăn sẵn, không ít người đã “thần thánh hóa” AI, xem nó như một thứ “đũa thần” giải quyết mọi công việc. Những sai sót bày ra trước bàn dân thiên hạ chỉ là những dẫn chứng rất nhỏ, ai cũng có thể thấy. Còn những sai sót ngấm ngầm, nhất là tình trạng bào mòn tư duy, vô hồn, vô cảm trong xử lý, điều hành công việc... thì lại diễn ra âm thầm, rất khó để công luận “chỉ mặt, đặt tên”. Và đây chính là biểu hiện của một dạng suy thoái tư tưởng. Bởi, nền tảng hình thành bản lĩnh chính trị, đạo đức của cán bộ, đảng viên hoàn toàn không phải là thứ được “lập trình”, mà đòi hỏi phải trải qua quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng thường xuyên, liên tục. Không khó để nhận thấy, một khi tư duy bị “đóng băng”, cán bộ sẽ chỉ còn là “cái loa phát lại” ngôn ngữ của công nghệ. Công chúng không chỉ thất vọng về năng lực mà còn mất niềm tin vào sự gắn bó, trách nhiệm của cán bộ với thực tiễn đời sống...

Công nghệ không có lỗi, lỗi là ở người dùng

Công nghệ không phải là nguyên nhân của suy thoái, nhưng thông qua đó, nó phơi bày sự yếu kém trong bản lĩnh và tư duy của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, trong môi trường “bình dân học vụ số” hiện nay, cần nhận thức rõ và phân biệt rạch ròi, AI là công cụ, còn con người mới là chủ thể quyết định.

Nếu coi công nghệ là cứu cánh, chúng ta sẽ rơi vào cạm bẫy nguy hiểm, sự sáng tạo bị thay thế bằng rập khuôn, sự chủ động bị thay thế bằng thụ động. Trong công tác lãnh đạo, điều hành, quản lý... của hệ thống chính trị các cấp; đặc biệt là trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, việc lạm dụng AI sẽ gây ra những hệ lụy nhãn tiền. Khi đó, văn kiện, báo cáo trở nên khô cứng, sáo mòn, không phản ánh hơi thở thực tiễn. Phát biểu của cán bộ thiếu hồn cốt, không khơi gợi niềm tin, thậm chí gây phản ứng tiêu cực từ dư luận. Năng lực tư duy phản biện và sáng tạo-yêu cầu cốt lõi trong lãnh đạo, quản lý, bị xói mòn từng ngày.

Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã cảnh báo: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nếu không được ngăn chặn sẽ dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nguy hiểm khôn lường... Rõ ràng, ỷ lại vào công nghệ không chỉ là một thói quen xấu mà còn tiềm ẩn nguy cơ biến thành “cửa ngõ” dẫn đến sự suy thoái sâu sắc hơn. Nếu tình trạng này lan rộng, chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ “công nghệ hóa tư duy”, công việc được giải quyết bằng những bản sao vô hồn của máy móc, thay vì phải bằng trí tuệ, tầm nhìn, bản lĩnh và cảm xúc con người. Điều này đi ngược lại tinh thần mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong chỉ đạo đại hội đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2025-2030: Văn kiện phải có sức sống từ thực tiễn, từ hơi thở của đời sống xã hội.

Thực tiễn đã chứng minh, công nghệ chỉ phát huy giá trị khi nó được sử dụng bởi những con người có trí tuệ, năng lực, có bản lĩnh và trách nhiệm. Ngược lại, khi cán bộ lười biếng, “khoán trắng” cho trợ lý, mà trợ lý thì lại dựa dẫm vào công nghệ, thì chính là lúc cả “thầy” lẫn “trò” tự đánh mất năng lực tư duy độc lập.

Trong kỷ nguyên số, việc ứng dụng công nghệ là xu thế tất yếu. Nhưng không một loại công nghệ nào có thể thay thế con người trong vai trò trung tâm của lãnh đạo, quản lý, sáng tạo. Sự ỷ lại vào công nghệ, coi nhẹ tư duy, chính là biểu hiện của suy thoái mà Đảng ta đã cảnh báo...
(còn nữa)
Yêu nước ST.

CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH ĐÚNG NHƯNG THỰC THI PHẢI NGHIÊM!


     Có thể khẳng định, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta luôn hướng tới mục tiêu đúng đắn, phù hợp từng giai đoạn và với quan điểm “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc với tinh thần “vì nhân dân phục vụ”.

Thế nhưng, thực tế những năm qua, nhiều người dân không hài lòng, thậm chí bức xúc vì một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thực thi không đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ít trường hợp lạm dụng quyền lực để thu vén cá nhân, cố tình gây khó để người dân, doanh nghiệp phải có quà cáp, nhờ vả... Đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến người dân suy giảm niềm tin, gây “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” và là cớ để các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Đó là ý kiến của thương binh Cát Văn Vinh (80 tuổi, ở tổ dân phố Đoài Giáp, phường Sơn Tây, TP Hà Nội), đồng thời cũng là ý kiến của nhiều người khi chúng tôi hỏi về sự cần thiết phải xây dựng Đảng, chính quyền thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.

Bàn về vấn đề này nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Đại tá, cựu chiến binh, cán bộ tiền khởi nghĩa Trần Tiệu (sinh năm 1928 ở xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, nay là xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An; gần 80 năm tuổi Đảng) bày tỏ rất tâm huyết: “Năm 1945, tôi tham gia cách mạng, cắm cờ Việt Minh ở đình làng, rồi tuyên truyền, vận động, tổ chức cho nhân dân đấu tranh giành chính quyền tại xã Vĩnh Thành và huyện Yên Thành. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công thì vận động người dân tham gia các hội cứu quốc và trực tiếp dạy “Bình dân học vụ”... Suốt 47 năm công tác và cho đến bây giờ, tôi luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, trước kia đường lối của Đảng được đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện rất nghiêm túc nên nhân dân thực sự phấn khởi, tin tưởng. Sau này, do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, một bộ phận “công bộc” sống cơ hội, thực dụng, không giữ được bản lĩnh, chỉ thích làm những việc mang lại lợi ích cho mình chứ không có tinh thần phục vụ dân, chấp hành chính sách, pháp luật không nghiêm khiến nhân dân suy giảm niềm tin vào chính quyền, nhất là ở cấp cơ sở”.

Hỏi dẫn chứng về những biểu hiện cán bộ không gương mẫu thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật, chúng tôi được nhiều người dân trả lời: Thực tế đầy ra và ai cũng biết. Chính nghị quyết của Đảng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhiều lần chỉ rõ, đồng thời đề ra các giải pháp, yêu cầu phải nghiêm túc chấn chỉnh, khắc phục. Thế nhưng vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức thiếu tinh thần vì nhân dân phục vụ, thậm chí còn nhũng nhiễu, tiêu cực.

Những việc xấu, việc sai của các “công bộc” mà nhiều người dân phản ánh là: Nói không đi đôi với làm; dối trên, lừa dưới và nịnh trên, nạt dưới; thiếu tôn trọng và không quan tâm giải quyết những kiến nghị chính đáng, hợp pháp của người dân; không công minh trong xử lý công việc, quá thiên vị người nhà, người thân, người “đi cửa sau”; thiếu gương mẫu trong thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm, tự cho mình “quyền ưu tiên đặc biệt”; việc gì không có lợi cho mình thì không nhiệt tình làm (và ngược lại)...

Có rất nhiều ví dụ về những việc thể hiện không xứng đáng là “công bộc”, khiến nhân dân không “tâm phục, khẩu phục”, thậm chí bất bình, như: Gia đình cán bộ có vài mảnh đất, trong đó có cả đất lấn chiếm vẫn được cấp “sổ đỏ” rất nhanh, còn gia đình dân thường thì dù đất có nguồn gốc rõ ràng vẫn bị “hành” mãi không được cấp; con, cháu của không ít cán bộ “được miễn” thực hiện nghĩa vụ quân sự, được cấp giấy mời dự các sự kiện không đúng thành phần trong khi nhiều người có công thực sự thì bị bỏ quên; việc khen thưởng (huân chương, bằng khen...) đối với các tập thể thường bị chậm vì bộ phận giúp việc “ngâm”, phải gặp gỡ, nhờ vả thì mới được nhận; người dân đi làm các thủ tục hành chính phải xếp hàng chờ đến lượt mình, nhưng thỉnh thoảng lại có người chen ngang, được “ưu tiên” giải quyết trước...

Đó là những việc nhỏ diễn ra thường xuyên, còn nhiều việc lớn, vi phạm của một số cán bộ, công chức, viên chức, thậm chí cố tình gây khó khăn để người dân và doanh nghiệp phải lo lót, chạy chọt, “bôi trơn” mới được giải quyết, trong khi người thân quen của cán bộ thì được “ưu tiên đặc biệt” (như việc xét thương binh, bệnh binh, đấu thầu, tuyển dụng, bổ nhiệm...), khiến nhân dân không khỏi tâm tư, bức xúc và các thế lực thù địch lấy đó làm cớ để thổi phồng, quy chụp, chống phá chế độ ta.   

Theo Đại tá, cựu chiến binh Trần Tiệu: “Đảng, Nhà nước cần quyết liệt đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức không xứng đáng là “công bộc”, không làm việc vì nhân dân, đất nước, tập thể mà chỉ vì tư lợi. Chính những người này đã gây nên hiểm họa “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” và cản trở sự phát triển của đất nước. Nếu đội ngũ "công bộc" đều tốt, thực thi đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước thì chẳng kẻ thù nào có thể chống phá được, vì nhân dân ta đều thấy đường lối, chủ trương của Đảng là đúng và luôn đoàn kết, một lòng theo Đảng. Vấn đề là một bộ phận không nhỏ những người có trách nhiệm thực thi đã cố tình làm sai, nên phải kiên quyết thanh lọc, khắc phục những “cầu nối hư hỏng” này để ý Đảng luôn thuận lòng dân”.

Làm thế nào để không còn những “công bộc rởm” và “cầu nối hư hỏng”? Giải pháp căn cơ được nhiều người đề xuất là: “Có thực mới vực được đạo”-trước hết cần quan tâm chăm lo, bảo đảm tốt đời sống, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức để họ thực sự an tâm làm việc, không bị áp lực “cơm, áo, gạo, tiền”. Tiếp đó, phải mở rộng công khai, minh bạch các chế độ, chính sách và quy định về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt là phát huy vai trò giám sát của nhân dân bằng nhiều hình thức, lập đường dây nóng, hộp thư điện tử để gửi-nhận và giải quyết tố giác thuận lợi, khách quan; có quy chế thưởng-phạt nghiêm minh, đủ sức răn đe để phòng ngừa vi phạm và khuyến khích, động viên những người thực hiện tốt.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết từ năm 1947, Bác Hồ đã chỉ rõ: Phải ráo riết phê bình và tự phê bình; phải kiên quyết thực hành kỷ luật; “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”; “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”...
Yêu nước ST.

“PHỦ XANH” THÔNG TIN TÍCH CỰC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Trong kỷ nguyên số, không gian mạng đã trở thành mặt trận trọng yếu trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng xã hội ở Việt Nam những năm gần đây chính là điều kiện thuận lợi để lan tỏa thông tin chính thống, định hướng dư luận tích cực.

Theo báo cáo của DataReportal về mức độ phổ biến và sử dụng các thiết bị, dịch vụ kết nối, Việt Nam có 79,8 triệu người sử dụng internet và 76,2 triệu tài khoản mạng xã hội vào tháng 1-2025.

Đây là thuận lợi lớn, nhưng chính mặt trận này, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để tuyên truyền chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, tung tin xuyên tạc công kích nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Thực tế cho thấy, nội dung chống phá không mới, nhưng phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên không gian mạng ngày càng tinh vi, phức tạp. Nếu không kịp thời kiểm soát và định hướng, không gian mạng rất có thể sẽ bị tin xấu độc “chiếm lĩnh”, đe dọa trực tiếp đến trận địa tư tưởng. Do đó, việc chủ động “phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng đang trở thành yêu cầu tất yếu và cấp bách. Đây được xem là giải pháp chiến lược nhằm tạo “lá chắn” tư tưởng vững chắc, góp phần đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, định hướng dư luận theo hướng lành mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.

Sự bùng nổ của công nghệ số đã đưa không gian mạng trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống người dân. Internet và mạng xã hội hiện là kênh chủ đạo để công chúng tiếp nhận, trao đổi thông tin. Việt Nam có lượng người dùng mạng xã hội thuộc hàng cao trên thế giới; trong số hơn 76 triệu tài khoản mạng xã hội ở Việt Nam, riêng Facebook, TikTok, Zalo và YouTube, mỗi mạng xã hội đều có hàng chục triệu người dùng. Rõ ràng, không gian mạng vừa là cơ hội, vừa đặt ra thách thức lớn nếu nội dung sai lệch chi phối nhận thức xã hội.

Mặt trái của bùng nổ thông tin là các nội dung độc hại, xuyên tạc lan truyền với tốc độ chóng mặt, tác động đến dư luận xã hội và nhận thức của đối tượng tiếp nhận. Nghiên cứu chỉ ra, tin giả lan truyền nhanh hơn nhiều lần so với tin đúng. Nội dung thông tin xấu độc thường giật gân, câu khách, nên dễ kích thích người dùng chia sẻ trước khi kiểm chứng. Hậu quả nguy hiểm của luồng tin xấu độc này là suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và tạo điều kiện để kẻ xấu thao túng dư luận, gây mất ổn định xã hội.

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới nhấn mạnh vai trò của không gian mạng, coi đây là mặt trận trọng yếu cần giữ vững, với phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng nội dung tích cực làm chính, "lấy cái đẹp dẹp cái xấu". Tinh thần ấy là "kim chỉ nam" cho loạt giải pháp “phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng hiện nay.

Trên tinh thần “lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu” của Nghị quyết số 35, nhiều giải pháp “phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng đang được triển khai đồng bộ. Để những thông tin tích cực trở thành dòng chảy chủ lưu trên không gian mạng và mạng xã hội, qua đó đẩy lùi thông tin xấu độc cần tập trung làm tốt một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, chủ động sản xuất và lan tỏa nội dung tích cực, chính thống. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần đóng vai trò nòng cốt trong việc tạo dòng thông tin tích cực trên không gian mạng. Báo chí cách mạng phải đổi mới mạnh mẽ phương thức truyền thông trên nền tảng số, ứng dụng công nghệ hiện đại (AI, Big Data…) để phân tích xu hướng, thị hiếu và sản xuất nội dung phù hợp với từng nhóm công chúng. Bên cạnh những bài viết chính luận chuyên sâu, cần đa dạng hóa hình thức thể hiện, từ podcast, video ngắn đến infographic, livestream để thông tin chính thống trở nên sinh động, hấp dẫn hơn với công chúng trẻ.

Đồng thời, cần tăng tần suất và độ phủ của thông tin tích cực. Muốn “phủ xanh” dòng thông tin, chúng ta phải tạo ra thật nhiều nội dung tích cực chất lượng và khuyến khích cộng đồng (mỗi cán bộ, đảng viên, người dân) tích cực chia sẻ. Khi thông tin tích cực được lan tỏa rộng rãi sẽ “leo top” và xuất hiện dày đặc, dần lấn át tin xấu độc. 

Thực tế tại TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội cho thấy cách làm này đã giúp tập hợp nhiều câu chuyện đẹp, việc làm tốt trở thành “dòng thời sự tích cực chủ lưu” mỗi ngày, định hướng dư luận tích cực và tạo “sức đề kháng” cho cộng đồng cảnh giác hơn trước thông tin tiêu cực.

Cùng với đó, cần phát động các chiến dịch truyền thông sáng tạo để lôi cuốn giới trẻ tham gia lan tỏa thông tin tích cực. Chẳng hạn, Trung ương Đoàn đã triển khai cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp” trên mạng xã hội, thu hút đông đảo thanh, thiếu niên hưởng ứng và hình thành thói quen chia sẻ những câu chuyện đẹp, lan tỏa mạnh mẽ các giá trị tích cực.

Hai là, phát huy tốt vai trò chủ công của các lực lượng nòng cốt. Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng nòng cốt trên mặt trận truyền thông số là yếu tố then chốt. Trước hết, báo chí chính thống phải tiên phong định hướng dư luận, đấu tranh phản bác thông tin sai lệch. Mỗi nhà báo, biên tập viên cũng là một “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng, cần vạch trần luận điệu xuyên tạc bằng ngòi bút sắc bén. Nhiều cơ quan báo chí đã lập chuyên trang bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường số, tuyên truyền sâu về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu đổi mới, đồng thời có các bài viết phản bác luận điệu sai trái của thế lực thù địch.

Bên cạnh báo chí, những người có tầm ảnh hưởng (KOL) trên mạng xã hội cũng cần chung tay lan tỏa thông tin tích cực. Tiếng nói của họ có thể truyền cảm hứng đến hàng triệu người, đặc biệt là giới trẻ, giúp thông tin tích cực thẩm thấu mềm mại, tự nhiên hơn. Nếu phát huy tốt vai trò các KOL, thông điệp tích cực sẽ lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu coi mình là “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng số, tiên phong lan tỏa thông tin tích cực. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 85-QĐ/TW (ngày 7-10-2022) yêu cầu cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội đúng mực, chịu trách nhiệm về phát ngôn trên mạng. Thực hiện nghiêm quy định này sẽ giúp mỗi đảng viên trở thành hạt nhân tích cực đấu tranh phản bác thông tin xuyên tạc. Cùng với đó, phát huy vai trò các lực lượng chuyên biệt trên không gian mạng, nhất là lực lượng công nghệ cao phải luôn thường trực để kịp thời phát hiện, phản bác quan điểm thù địch và lan tỏa thông tin tích cực.

Ba là, ứng dụng công nghệ để ngăn chặn tin xấu độc. Cần phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) để sớm phát hiện tin giả, tin độc hại; đồng thời phối hợp với các nền tảng như Facebook, Google, TikTok... rà quét, loại bỏ nội dung vi phạm. Trước đó, các bộ, ngành chức năng đã yêu cầu các nền tảng này áp dụng công nghệ quét tự động và chặn tính năng kiếm tiền trên nội dung vi phạm; nhờ đó, nhiều nội dung xấu độc đã bị gỡ bỏ. Song song với giải pháp kỹ thuật, cần tổ chức “đội phản ứng nhanh” gồm những chuyên gia am hiểu để kịp thời phản bác tin giả, luận điệu sai trái ngay khi xuất hiện. Thực tế, Ban Chỉ đạo 35 các cấp đã thành lập các tổ chuyên trách trên không gian mạng để phản ứng nhanh, phối hợp xử lý hiệu quả các tình huống. Sự kết hợp giữa sức mạnh công nghệ và sức mạnh con người tạo thành “gọng kìm” nhiều tầng, giúp nhanh chóng vô hiệu hóa thông tin độc hại.

Bốn là, nâng cao ý thức, kỹ năng của người dùng. Mỗi người dùng internet cần trở thành “người gác cổng” thông tin cho chính mình, chỉ tiếp nhận và lan truyền nội dung hữu ích, kiên quyết nói không với tin giả, tin xấu độc. Muốn vậy, cần đẩy mạnh giáo dục và trang bị kỹ năng về thông tin cho cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ. Ngay từ trường học, học sinh, sinh viên cần được học cách nhận diện tin giả, kiểm chứng thông tin; hiểu rõ tác hại của việc phát tán tin xấu độc. Bộ Giáo dục và Đào tạo nên đưa an toàn và văn hóa thông tin số vào chương trình học như một kỹ năng sống thiết yếu.

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và bùng nổ truyền thông số, “phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng đã trở thành "mệnh lệnh" của thời đại để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông tin tích cực tựa "dòng nước trong lành" nuôi dưỡng nhận thức và niềm tin của quần chúng; ngược lại, thông tin xấu độc chẳng khác gì "virus" tấn công vào “hệ miễn dịch” tư tưởng xã hội. Cuộc đấu tranh trên mặt trận này thực chất là cuộc chiến giành quyền chủ động thông tin, nếu chúng ta không nhanh chóng lấp đầy không gian truyền thông số bằng sự thật và những điều tốt đẹp, kẻ xấu sẽ gieo rắc dối trá và hận thù.

“Phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng là chiến lược bền vững nhằm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Để hiện thực hóa chiến lược này, cần sự chung tay của toàn xã hội. Báo chí chính thống phải đổi mới mạnh mẽ, tiên phong dẫn dắt dòng thông tin. Cơ quan quản lý nhà nước cần hoàn thiện hành lang pháp lý, kỹ thuật để giám sát, xử lý hiệu quả vi phạm trên mạng; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chuyên trách hoạt động. Các lực lượng nòng cốt phải phối hợp chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, tạo thành nhiều lớp "lá chắn" bảo vệ tư tưởng. Mỗi người dân hãy luôn tỉnh táo trước thông tin xấu độc và tích cực lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Đó chính là hành động thiết thực để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định xã hội và xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh./.
Ảnh trên: Cán bộ, đảng viên đẩy mạnh "phủ xanh" thông tin chính thống, thông tin tích cực trên mạng xã hội./.
Ảnh dưới: Tổng quan xu hướng sử dụng Internet và mạng xã hội của người dùng Việt Nam 2025.

Yêu nước ST.

TIN TƯỞNG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM!

     Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại, mốc son mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, được toàn thể nhân dân phấn khởi đón chờ. Đây là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhìn lại chặng đường đã qua, khẳng định những thành tựu to lớn, đồng thời đề ra phương hướng, mục tiêu chiến lược cho giai đoạn phát triển mới. Chính vì vậy, nó cũng trở thành mục tiêu chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Với bản chất phản động và thủ đoạn thâm độc, tổ chức khủng bố Việt Tân đã tìm mọi cách xuyên tạc, chống phá sự kiện có ý nghĩa đặc biệt này.

Ngày 2-2-2025, Việt Tân tán phát cái gọi là “văn bản chính trị” mang tên "Kỷ nguyên thật sự bền vững", đưa ra hàng loạt luận điệu xuyên tạc, hòng đánh tráo khái niệm, gieo rắc hoài nghi trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Việt Tân chọn thời điểm tán phát hết sức nhạy cảm: Đảng Cộng sản Việt Nam vừa kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập; các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV hoàn tất; cả nước đang hướng tới kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là sự tính toán nhằm lợi dụng sự kiện lớn để gây nhiễu loạn dư luận, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Trong cái gọi là văn bản này, Việt Tân tập trung khoét sâu vào 3 vấn đề cơ bản.

Thứ nhất, chúng xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Về kinh tế, chúng vừa thừa nhận Việt Nam có tăng trưởng, vừa rêu rao rằng sự phát triển ấy “thiếu bền vững”, “nguy cơ tụt hậu luôn hiện hữu”. Về chính trị, chúng phủ nhận sạch trơn thành tựu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tinh gọn bộ máy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; cố tình xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; bôi nhọ chính sách quốc phòng “4 không”. Về văn hóa, xã hội, chúng bịa đặt rằng chế độ cộng sản “đàn áp, khủng bố tinh thần nhân dân”, rằng các giá trị văn hóa truyền thống “bị xuống cấp trầm trọng”; đồng thời, kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo để phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ hai, chúng cáo buộc Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyên nhân khiến đất nước “tụt hậu”. Bằng giọng điệu xảo trá, chúng một mực cho rằng chế độ “một đảng” là “rào cản phát triển”, vu cáo Đảng ta đã bỏ lỡ các “cơ hội vàng” để đất nước cất cánh. Nguy hiểm hơn, chúng còn xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng-vốn là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, chúng dựng lên cái gọi là “lối thoát” để Việt Nam sớm trở thành “con rồng châu Á”. Trong đó, “dân chủ” và “nhân quyền” lại được lặp đi lặp lại như một điệp khúc cũ kỹ. Bản chất đây chỉ là thủ đoạn “bình mới rượu cũ”, chiêu trò mà chúng đã nhiều lần sử dụng: Nói đi nói lại để gieo rắc hoài nghi, từng bước tác động vào nhận thức của một bộ phận quần chúng thiếu thông tin.

Mục tiêu xuyên suốt của Việt Tân là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ bệ nền tảng tư tưởng, phủ nhận thành quả gần 40 năm đổi mới, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ đó phá hoại kỷ nguyên phát triển mới của đất nước ta. Song, những luận điệu này hoàn toàn vô căn cứ và bị thực tiễn phát triển của Việt Nam bác bỏ.

Sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện. Về kinh tế, từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá và cấm vận, Việt Nam thoát khỏi nhóm nước thu nhập thấp từ năm 2008, gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình. Quy mô kinh tế năm 2024 đạt hơn 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới, nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư. Đây là bước tiến dài chưa từng có trong lịch sử phát triển dân tộc.

Về chính trị, Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, phá thế bị bao vây, cô lập, tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Quan hệ đối ngoại ngày càng được mở rộng, đến nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có 13 đối tác chiến lược toàn diện. Vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, được cộng đồng quốc tế đánh giá là một điểm sáng về hòa bình, hợp tác và phát triển.

Về văn hóa, xã hội, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 60% (năm 1986) xuống còn 1,93% (năm 2024) (theo chuẩn đa chiều). Tuổi thọ trung bình tăng từ 62 tuổi (năm 1990) lên 75 tuổi (năm 2024). Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng gấp 25 lần chỉ sau 3 thập kỷ. Hệ thống giáo dục quốc dân được đổi mới căn bản, toàn diện; các chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách đối với người có công ngày càng được quan tâm. Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân không ngừng được củng cố, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

Về quốc phòng, an ninh, tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy; môi trường hòa bình, ổn định tiếp tục được giữ vững. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, xứng đáng là công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là nhân tố quan trọng bảo đảm cho đất nước ta vững vàng tiến vào kỷ nguyên phát triển mới. Những thành tựu đó là minh chứng hùng hồn, bác bỏ hoàn toàn luận điệu rằng Việt Nam đang “tụt hậu” hay “thiếu bền vững”.

Hơn thế, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Hiến pháp năm 2013 hiến định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Thực tiễn lịch sử suốt 95 năm qua đã chứng minh, Đảng luôn là lực lượng duy nhất đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm để lãnh đạo dân tộc vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Con đường phát triển đúng đắn của Việt Nam là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thành tựu đổi mới gần 40 năm qua là minh chứng rõ ràng. Đồng thời, với tinh thần nhìn thẳng sự thật, Đảng luôn dũng cảm chỉ ra hạn chế, bất cập, nguyên nhân, từ đó đề ra giải pháp phù hợp, linh hoạt, kịp thời. Nhờ vậy, đất nước không ngừng phát triển, vượt qua biến động khó lường của thế giới, tận dụng được thời cơ, vượt qua thách thức.

Có thể khẳng định, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam không phải “ảo tưởng” hay “nóng vội”, mà là hiện thực khách quan, bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, từ tiềm lực tổng hợp quốc gia, vị thế quốc tế ngày càng nâng cao và đặc biệt là sự thống nhất bền chặt giữa “ý Đảng, lòng dân”. Đây chính là cội nguồn sức mạnh bảo đảm cho sự phát triển bền vững, phồn vinh, thịnh vượng của đất nước trong tương lai.

Chống phá Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là âm mưu thường trực, thể hiện rõ bản chất xấu xa, phản động của các thế lực thù địch. Vì vậy, đi đôi với củng cố, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn xuyên tạc, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà dân tộc ta đã lựa chọn. Đó chính là bảo vệ kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam-kỷ nguyên của độc lập, tự do, hạnh phúc và phát triển bền vững./.
Ảnh: Toàn cảnh tòa nhà Landmark 81 tại TP Hồ Chí Minh.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT BỘ SÁCH THỐNG NHẤT - GIẢI PHÁP CHO NIỀM TIN XÃ HỘI.

     Bộ Chính trị yêu cầu rà soát việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm cung cấp một bộ sách giáo khoa thống nhất toàn quốc, tới 2030, miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh.

Quyết định của Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng một bộ sách thống nhất toàn quốc không chỉ nhằm giải quyết sự nhức nhối của mô hình “một chương trình, nhiều bộ sách” đã tồn tại hơn mười năm, mà còn gửi đi thông điệp về sự đồng bộ, công bằng và minh bạch trong giáo dục, lĩnh vực được coi là quốc sách hàng đầu. 

Thực tiễn những năm qua cho thấy, chủ trương nhiều bộ sách giáo khoa tuy được kỳ vọng mang tính cạnh tranh, thúc đẩy sáng tạo, nhưng lại tạo ra vô số bất cập. 

Mỗi năm, học sinh đã phải tập làm quen với sách mới, anh chị em không thể trưng dụng sách vở cũ của nhau, thầy cô vất vả chạy theo tập huấn, phụ huynh mệt mỏi gánh thêm chi phí. Gần 1 triệu đồng cho 1 bộ sách mỗi năm học mới khiến phụ huynh chỉ biết lắc đầu ngao ngán, “xưa đi học đâu có tốn kém thế”. 

Sự khác biệt giữa các bộ sách không làm gia tăng chất lượng tri thức, mà chủ yếu gây rối loạn và bất bình đẳng ngay trong môi trường học tập.

Không chỉ là vấn đề kỹ thuật, sự chồng chéo nhiều bộ sách còn kéo theo hệ lụy về niềm tin xã hội. Những cuộc tranh cãi về nội dung sai sót, những “cơn sốt” mua sách mỗi năm học mới, đã khiến dư luận hoài nghi: cải cách giáo dục liệu có thực sự vì học sinh, hay vì lợi ích của các nhóm biên soạn và phát hành? Khi nền tảng tri thức chung bị biến thành “nhiều phiên bản”, tinh thần công bằng trong tiếp cận giáo dục cũng bị xói mòn.

Chính vì vậy, việc trở lại một bộ sách giáo khoa thống nhất không phải là bước lùi, mà là một điều chỉnh hợp lý, cần thiết. Nó thiết lập chuẩn mực chung cho toàn quốc, giúp thầy cô an tâm đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp học sinh bình đẳng trong tiếp cận tri thức, và giúp phụ huynh yên tâm rằng con em họ không còn chịu cảnh “học lệch” từ những khác biệt vô lý. 

Quan trọng hơn, đó là cách khôi phục niềm tin rằng giáo dục thực sự đặt lợi ích của người học lên hàng đầu.

Khi đặt trong bối cảnh chính trị hiện nay, chủ trương này còn mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi giáo dục. Nó phản ánh một tư duy quản trị mới: tinh gọn, đồng bộ, minh bạch và lấy hiệu quả thực tế làm thước đo. Và đó chính là điều mà nhân dân đang trông đợi ở Đại hội XIV sắp tới. Nếu Đại hội XIII đã khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, thì Đại hội XIV phải chứng minh rằng mọi quyết sách có thể đi thẳng vào đời sống, chạm tới từng lớp học, từng gia đình, từng đứa trẻ. 

Một bộ sách thống nhất sẽ là minh chứng cụ thể cho tinh thần ấy rằng đổi mới không dừng lại ở khẩu hiệu, mà phải biến thành hành động thiết thực, gieo mầm tri thức vững chắc cho tương lai đất nước./.


Yêu nước ST

SỰ THẬT KHÔNG THỂ CHỐI CÃI VỀ THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ CỐNG HIẾN CỦA QUÂN ĐỘI ANH HÙNG!

1. Phê phán quan điểm sai trái cho rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam không có vai trò gì trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, đưa dân tộc Việt Nam bước sang thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Thắng lợi vĩ đại ấy là kết quả của sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng vũ trang cách mạng - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Tuy nhiên, một số quan điểm sai trái, thậm chí xuyên tạc cho rằng, Quân đội ta “không có vai trò gì trong Cách mạng Tháng Tám”, “chỉ là sản phẩm sau này của cuộc kháng chiến chống Pháp”, từ đó phủ nhận vị trí, vai trò và công lao to lớn của Quân đội ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Đây là những luận điệu xuyên tạc lịch sử, cần được đấu tranh, phê phán mạnh mẽ.
Trước hết, cần khẳng định rằng, những quan điểm trên là sai lệch, bởi chúng đã cố tình cắt xén, bóp méo sự thật lịch sử, xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Quân đội ta, với tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập ngày 22-12-1944 theo Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã sớm trở thành lực lượng vũ trang cách mạng nòng cốt của Đảng. Sự kiện thành lập Quân đội ta không phải là một bước đi tình cờ, mà là quyết định mang tầm chiến lược, thể hiện tầm nhìn thiên tài của Đảng và Bác Hồ: “Chính trị trọng hơn quân sự, nhưng chính trị không có vũ trang thì chính trị sẽ yếu ớt”. Nói cách khác, lực lượng vũ trang cách mạng ra đời là tất yếu khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ “ngàn cân treo sợi tóc”.
Thứ hai, luận điệu cho rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam không có vai trò gì trong Cách mạng Tháng Tám là sự phủ nhận sự thật: lực lượng vũ trang cách mạng chính là hạt nhân tổ chức, rèn luyện và dẫn dắt phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân. Trước khi Nhật đầu hàng Đồng Minh (8-1945), phong trào vũ trang khởi nghĩa đã diễn ra sôi nổi trên nhiều địa phương, từ Bắc Sơn, Võ Nhai, Cao - Bắc - Lạng đến nhiều vùng căn cứ cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân đã tham gia chiến đấu dũng cảm, kiên cường, đã mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ căn cứ địa, cổ vũ tinh thần nhân dân đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền. Nếu không có các lực lượng vũ trang này, liệu cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân trong Tháng Tám có thể nổ ra đồng loạt, nhanh chóng và giành thắng lợi trong vòng nửa tháng?
Thứ ba, việc xuyên tạc vai trò của Quân đội ta còn là thủ đoạn chính trị thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân. Chúng phủ nhận công lao, cống hiến của Quân đội nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, ngờ vực trong nội bộ ta, làm giảm niềm tin của nhân dân vào Quân đội anh hùng. Nếu ta không kiên quyết đấu tranh phê phán, làm sáng tỏ cội nguồn lịch sử, những luận điệu ấy có thể ảnh hưởng đến nhận thức, làm suy giảm sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.
Do vậy, việc bảo vệ sự thật lịch sử, khẳng định vai trò quan trọng của Quân đội ta trong Cách mạng Tháng Tám không chỉ là nhiệm vụ khoa học, mà còn là yêu cầu chính trị cấp thiết. Thực tiễn đã chứng minh: Quân đội ta, ngay từ buổi đầu còn non trẻ, đã góp phần to lớn, quyết định vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945.
2. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt cho toàn dân chống thực dân Pháp, phát xít Nhật và làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 
Lịch sử cách mạng Việt Nam khẳng định rõ: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó lực lượng vũ trang cách mạng giữ vai trò nòng cốt, xung kích đi đầu. Chính Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã sáng lập, giáo dục và rèn luyện lực lượng vũ trang, biến họ thành công cụ bạo lực cách mạng của nhân dân, là “thanh gươm” và “lá chắn” bảo vệ cách mạng, bảo vệ Đảng.
Ngay từ những năm 1940 - 1941, khi phong trào cách mạng phát triển mạnh, Đảng ta và Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Các đội du kích Bắc Sơn, Cao Bằng, Võ Nhai… chính là những hạt nhân đầu tiên, “hạt giống đỏ của cách mạng”. Trên cơ sở ấy, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập (22-12-1944), với 34 chiến sĩ ban đầu, nhưng đó là những con người kiên trung, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, đội quân này đã lập nhiều chiến công vang dội như Phay Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Tháng 5-1945, các lực lượng vũ trang được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Đây là bước phát triển tất yếu, biến lực lượng vũ trang từ những đơn vị nhỏ lẻ thành đội quân cách mạng có tổ chức, có kỷ luật tự giác, nghiêm minh, sẵn sàng làm nhiệm vụ lịch sử, theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện đặc biệt, nổ ra trong bối cảnh đặc biệt: phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh, chính quyền tay sai rệu rã, song kẻ thù vẫn còn lực lượng vũ trang mạnh với vũ khí hiện đại. Nếu không có sự tổ chức, dẫn dắt của lực lượng vũ trang cách mạng, quần chúng nhân dân không thể tự phát đứng lên đấu tranh giành chính quyền nhanh chóng và thắng lợi.
Vai tò của Lực lượng vũ trang cách mạng thể hiện rõ trong việc giữ vững căn cứ địa cách mạng: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Bắc Giang. Chính nơi đây đã trở thành “An toàn khu” của Xứ ủy Bắc kỳ và Trung ương Đảng, là nơi bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng, nơi tập kết lực lượng chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Cùng với đó, lực lượng vũ trang cách mạng đã mở rộng vùng giải phóng: nhờ các chiến dịch vũ trang, nhiều địa phương đã giải phóng sớm, tạo thế “tiền khởi nghĩa”, làm bàn đạp cho cao trào cách mạng cả nước; đã truyền lửa cách mạng bằng những chiến công của Giải phóng quân, góp phần đọng viên, cổ vũ tinh thần quần chúng, khơi dậy niềm tin “Nhật, Pháp có thể bị đánh bại, nhân dân ta có thể giành độc lập”.
Đồng thời, Quân đội ta làm nòng cốt trong khởi nghĩa giành chính quyền: từ nông thôn đến đô thị, từ các tỉnh trung du đến thủ đô Hà Nội, lực lượng vũ trang cách mạng đã phối hợp cùng quần chúng nhân dân đánh chiếm cơ quan đầu não của địch, buộc chúng phải đầu hàng.
Có thể khẳng định, không có lực lượng vũ trang cách mạng thì sẽ không có “ngày 19-8 lịch sử” ở Hà Nội, không có những đoàn quân tiến vào Huế, Sài Gòn, ép buộc chính quyền bù nhìn phải sụp đổ, không có ngày 2-9-1945 với bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Rõ ràng, Quân đội nhân dân Việt Nam - biểu tượng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và của niềm tin chiến thắng. Trong Cách mạng Tháng Tám, lực lượng vũ trang không đơn độc. Họ chính là con em của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Mối quan hệ máu thịt đó tạo nên sức mạnh vô song của Quân đội Cụ Hồ. Những đội tự vệ cứu quốc, dân quân du kích khắp nơi chính là cánh tay nối dài của lực lượng vũ trang cách mạng. Nhờ có Quân đội làm nòng cốt, phong trào quần chúng mới có chỗ dựa vững chắc, có niềm tin để đồng loạt đứng lên.
Vì vậy, Đảng ta đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám thành công là kết quả của đường lối cách mạng đúng đắn, sự lãnh đạo tài tình và có lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân khởi nghĩa”. Điều đó khẳng định Quân đội nhân dân Việt Nam chính là biểu tượng của ý chí sắt đá, là sự kết tinh của sức mạnh dân tộc trong giai đoạn lịch sử bước ngoặt.
Vai trò nòng cốt của Quân đội ta trong Cách mạng Tháng Tám đã để lại những bài học quý giá, đó là bài học về: Xây dựng quân đội kiểu mới, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch; phải luôn luôn đặt Quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Đây là sự bảo đảm Quân đội luôn trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và với nhân dân, với con đường cách mạng. Đó là, kết hợp sức mạnh chính trị với sức mạnh vũ trang - muốn cách mạng thành công, không chỉ dựa vào tinh thần chính trị mà cần có lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Những bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Quân đội ta tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”.
Phủ nhận vai trò của Quân đội ta trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự xuyên tạc trắng trợn lịch sử. Hơn 80 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng minh: Từ những ngày đầu thành lập, lực lượng vũ trang cách mạng - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam - đã là lực lượng nòng cốt, xung kích, dẫn dắt toàn dân vùng lên, làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng khởi nghĩa và Cách mạng Tháng Tám. Đó là sự thật không thể chối cãi, là niềm tự hào và là minh chứng bất hủ cho sức mạnh của dân tộc Việt Nam dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: UY LỰC TỔ HỢP TÊN LỬA TRƯỜNG SƠN DO VIỆT NAM TỰ PHÁT TRIỂN VÀ CHẾ TẠO!

     Tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) đã lần đầu tiên công bố tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển thế hệ mới có tên gọi Trường Sơn, còn có tên gọi VCS-01 (viết tắt của Vietnam Coastal Defence Missile System - Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển Việt Nam - 01).

Đây là tổ hợp tên lửa do chính Việt Nam nghiên cứu và chế tạo, là sản phẩm kết hợp giữa Tập đoàn Viettel (bao gồm Viện Hàng không Vũ trụ Viettel, Công ty sản xuất Viettel), nhà máy đóng tàu Z189, Bộ Quốc phòng… 

Những thành phần của tổ hợp tên lửa Trường Sơn

Tổ hợp tên lửa Trường Sơn bao gồm xe nạp tên lửa VTRV-01, xe chỉ huy điều khiển VCPV-01, xe bệ phóng VLV-01, xe radar cảnh giới và chỉ thị mục tiêu VTAR-1, xe kiểm tra kỹ thuật VTIV-01 và đạn tên lửa hành trình diệt hạm mang tên Sông Hồng.

Trong đó, xe phóng VLV-01 và xe vận tải - nạp đạn VTRV-01 đều được chế tạo trên khung gầm của xe Kamaz-6560 8x8 (8 bánh chủ động). Mỗi xe có thể mang tối đa 4 tên lửa.

Bệ phóng tên lửa trên xe phóng được thiết kế dạng mô-đun, giúp tái nạp tên lửa một cách nhanh chóng. Xe VTRV-01 được trang bị hệ thống cần cẩu thủy lực để nạp lại toàn bộ 4 tên lửa cho xe phóng trong chưa đầy 40 phút, giúp đảm bảo tác chiến hiệu quả.

Xe kiểm tra kỹ thuật VTIV-01 được lắp đặt trên khung gầm xe tải Kamaz-5350 6x6 (6 bánh chủ động), có chức năng đánh giá mức độ sẵn sàng và tình trạng kỹ thuật của tên lửa.

Hệ thống có khả năng kiểm tra tình trạng tên lửa ngay trong ống phóng, giúp đảm bảo tên lửa ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất.

Việc theo dõi và khóa mục tiêu được thực hiện bởi xe radar VTAR-1, được trang bị trên khung gầm KamAZ-6560 8×8. Hệ thống này cung cấp thông tin theo thời gian thực về các mục tiêu trên mặt nước, bao gồm phương vị, tầm bắn, tốc độ và hướng di chuyển. Hệ thống radar của xe VTAR-1 có khả năng hoạt động trong môi trường có sự cạnh tranh, gây nhiễu tín hiệu.

Cuối cùng là xe chỉ huy VCPV-01, được lắp đặt trên khung gầm xe tải Kamaz-5350. Xe này chứa các thiết bị hiện đại đáp ứng cho việc liên lạc và phối hợp liền mạch giữa các thành phần của tổ hợp tên lửa.

Theo thiết kế, một khẩu đội tên lửa hoàn chỉnh sẽ bao gồm 4 xe phóng và 4 xe nạp đạn, cho phép tổ hợp mang theo 32 quả tên lửa để tấn công các mục tiêu.

Các thành phần của tổ hợp tên lửa Trường Sơn được gắn trên khung gầm xe tải, đảm bảo tính cơ động cao và linh hoạt trong vận hành, có khả năng triển khai tác chiến chỉ trong 10 phút sau khi đến địa điểm phòng thủ.

Các xe mang những thiết bị của tổ hợp tên lửa Trường Sơn được trang bị công nghệ bơm lốp tự động giúp phương tiện có thể cơ động kể cả khi bị hỏng một số lốp.

Tên lửa Sông Hồng do Việt Nam tự sản xuất

Tổ hợp tên lửa Trường Sơn sử dụng đạn tên lửa hành trình diệt hạm mang tên Sông Hồng VSM-01A (VSM là viết tắt của Vietnamese Cruise Missile - Tên lửa hành trình Việt Nam) có tốc độ bay cận âm và có tầm bắn xa lên tới 80km.

Tên lửa được trang bị hệ thống dẫn đường tiên tiến, có khả năng chống nhiễu cao, giúp tăng độ chính xác khi hướng đến mục tiêu.

Hiện tại Việt Nam đã có thể làm chủ công nghệ và tự sản xuất được tên lửa Sông Hồng, giúp chủ động hơn trong việc cung cấp tên lửa cho các tổ hợp phòng thủ Trường Sơn.

Tổ hợp tên lửa Trường Sơn là một trong những thành phần nòng cốt của hệ thống phòng thủ bờ biển, có thể giáng những đòn tên lửa với uy lực mạnh, tiêu diệt các mục tiêu của đối thủ trên biển và trên bờ.

Đây là minh chứng cho năng lực tự chủ vũ khí công nghệ cao của Việt Nam, giúp đảm bảo an ninh quốc phòng và sự bình yên cho Tổ quốc./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÁC SĨ TÔN THẤT TÙNG & NHỮNG "LẦN ĐẦU" KHIẾN THẾ GIỚI Y HỌC KÍNH NỂ...

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÁC SĨ TÔN THẤT TÙNG & NHỮNG "LẦN ĐẦU" KHIẾN THẾ GIỚI Y HỌC KÍNH NỂ...

     Tên tuổi GS Tôn Thất Tùng đã trở thành niềm tự hào dân tộc, bởi ông là người mở ra những “lần đầu” lịch sử, không chỉ cho Việt Nam mà còn cho y học thế giới phải kính nể; tiêu biểu như:

 1938 – Sinh viên y khoa Việt Nam đầu tiên dám đứng lên đấu tranh để được thi nội trú, và chính ông xuất sắc trở thành Bác sĩ nội trú người Việt đầu tiên tại BV Phủ Doãn (nay là BV Hữu Nghị Việt - Đức) – phá bỏ rào cản thực dân, mở đường cho lớp Bác sĩ sau này.

 1945, ông được giao nhiệm vụ chữa bệnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng chính thời gian này ông xuất bản cuốn sách y khoa đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Từ trong gian khó, ông đặt nền móng cho khoa học y học Việt Nam hiện đại.

 1958 – Thực hiện ca mổ tim đầu tiên của Việt Nam. Khi đất nước còn ngổn ngang, thiếu thốn, ông chứng minh bác sĩ Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ kỹ thuật mà nhiều quốc gia khác còn chưa dám thực hiện.

 1961 – Với “Ton That Tung Method”, ông khiến thế giới chấn động: cắt gan chỉ trong 6 phút, trong khi phương pháp cũ phải mất 3–4 tiếng. Công trình được đăng trên The Lancet (Anh) – một trong những tạp chí y khoa danh giá nhất hành tinh. Từ đây, phương pháp Tôn Thất Tùng trở thành chuẩn mực toàn cầu.

 Bốn lần đầu, bốn dấu son rực rỡ, khẳng định: trí tuệ Việt Nam đủ sức tạo nên kỳ tích, để nhân loại phải ghi danh và nể phục./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUY ĐỊNH MỚI NHẤT VỀ CÁC TIÊU CHUẨN TRONG TUYỂN CHỌN CÔNG DÂN NHẬP NGŨ!

     Văn bản hợp nhất số 36/VBHN-BQP Thông tư quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, ngày 22-8-2025 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định như thế nào về các tiêu chuẩn trong tuyển chọn công dân nhập ngũ?

Tuổi đời
- Công dân từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi;
- Công dân nam được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo, thì tuyển chọn và gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

Tiêu chuẩn chính trị
- Thực hiện theo Thông tư liên tịch số 50/2016/TTLT-BQP-BCA ngày 15-4-2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định tiêu chuẩn chính trị tuyển chọn công dân vào phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam;
- Đối với các cơ quan, đơn vị và vị trí trọng yếu cơ mật trong Quân đội; lực lượng Tiêu binh, Nghi lễ; lực lượng Vệ binh và Kiểm soát quân sự chuyên nghiệp: Thực hiện tuyển chọn theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Tiêu chuẩn sức khỏe:
- Tuyển chọn những công dân đạt sức khỏe loại 1, loại 2 và loại 3 theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Thông tư số 105/2023/TT-BQP ngày 6-12-2023 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn sức khỏe, khám sức khỏe cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng;
- Đối với các cơ quan, đơn vị, vị trí quy định tại điểm b, khoản 2 điều này (cơ quan, đơn vị và vị trí trọng yếu cơ mật trong Quân đội; lực lượng Tiêu binh, Nghi lễ; lực lượng Vệ binh và Kiểm soát quân sự chuyên nghiệp), thực hiện tuyển chọn bảo đảm tiêu chuẩn riêng theo quy định của Bộ Quốc phòng;
- Không gọi nhập ngũ vào Quân đội những công dân mắc tật khúc xạ cận thị lớn hơn 1.5 diop trở lên, viễn thị các mức độ; chỉ số BMI nhỏ hơn 18.0 hoặc lớn hơn 29.9.
Tiêu chuẩn văn hóa
- Tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân có trình độ văn hóa lớp 8 trở lên, lấy từ cao xuống thấp. Những địa phương có khó khăn không bảo đảm đủ chỉ tiêu giao quân thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định được tuyển chọn số công dân có trình độ văn hóa lớp 7;
- Các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; đồng bào dân tộc thiểu số dưới 10.000 người thì được tuyển không quá 25% công dân có trình độ văn hóa cấp tiểu học, còn lại là trung học cơ sở trở lên.

Văn bản hợp nhất số 36/VBHN-BQP hợp nhất Thông tư số 148/2018/TT-BQP ngày 4-10-2018 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20-11-2018, với Thông tư số 68/2025/TT-BQP ngày 3-7-2025./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LỄ DIỄU BINH, DIỄU HÀNH A80 DIỄN RA VÀO 6 GIỜ 30 PHÚT NGÀY QUỐC KHÁNH 2-9!

     Lễ diễu binh diễu hành Kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (A80) sẽ diễn ra vào 6 giờ 30 phút ngày 2-9, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam, các đài địa phương, nền tảng mạng xã hội…

Lễ diễu binh, diễu hành và các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Ban Chỉ đạo Trung ương kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước trong 3 năm (2023-2025) giới thiệu tới báo chí tại Trung tâm Báo chí A80, chiều 26-8.

Sự kiện do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội tổ chức, cụ thể:

I. Về diễu binh, diễu hành trong lễ kỷ niệm:

Trung ương giao Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thành phố Hà Nội và các ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức thực hiện

1. Về thời gian: 6 giờ 30 phút ngày 2-9-2025, tại Quảng trường Ba Đình (được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam, các đài địa phương, nền tảng mạng xã hội…).

2. Về tổ chức, lực lượng:

Tính đến ngày 26-8, về tổ chức lực lượng, có 6 lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành, cụ thể gồm:

- Lực lượng rước đuốc Truyền thống và Tiêu binh Đài lửa.

- Lực lượng Pháo lễ.

- Lực lượng Không quân bay chào mừng.

- Lực lượng diễu binh, diễu hành: 4 khối nghi trượng; 43 khối đại diện lực lượng vũ trang nhân dân (26 khối Quân đội, 17 khối Công an); các khối quân đội nước ngoài (dự kiến 4 khối), gồm: Trung Quốc, Nga, Lào, Campuchia (đã đến Việt Nam: Campuchia 15-8, Lào 16-8, Nga 20-8, Trung Quốc dự kiến sang Việt Nam ngày 27-8); Lực lượng xe, pháo quân sự, xe đặc chủng Công an; Lực lượng diễu binh trên biển; 12 khối diễu hành quần chúng; 1 khối Văn hóa - Thể thao.

- Lực lượng đứng làm nền: Tiêu binh Lễ đài và 29 khối đứng (18 khối LLVT đứng đối diện khán đài A; 11 khối quần chúng đứng hai bên các khối LLVT mới được bổ sung từ ngày 21-8).

- Lực lượng xếp hình, xếp chữ.

3. Về Chương trình diễu binh, diễu hành, gồm:

- Rước đuốc truyền thống.

- Bắn Pháo lễ.

- Không quân bay chào mừng.

- Diễu binh, diễu hành các khối, theo thứ tự: Diễu hành của khối Nghi trượng; Diễu binh các khối đi bộ (thứ tự: Các khối Quân đội nhân dân Việt Nam, các khối quân đội nước ngoài, Dân quân tự vệ; các khối Công an); Diễu binh của khối xe, pháo quân sự; xe đặc chủng Công an; Diễu binh lực lượng vũ trang trên biển (truyền hình ảnh về Ba Đình); Diễu hành các khối quần chúng; Diễu hành của Khối Văn hóa, Thể thao.

4. Một số mốc thời gian tiếp theo:

- Sơ duyệt cấp Nhà nước: Từ 20 giờ ngày 27-8 (Thứ Tư).

- Tổng duyệt cấp Nhà nước: Từ 6 giờ 30 phút ngày 30-8 (Thứ Bảy). 

- Lễ chính thức: Từ 6 giờ 30 phút ngày 2-9 (Thứ Ba).

- Địa điểm: Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

II. Hoạt động của Trung tâm Báo chí Lễ kỷ niệm:

1. Thời gian: Hoạt động từ ngày 26-8 đến hết ngày 2-9-2025 (ngày thường mở cửa từ 8 giờ đến 17 giờ).

- Thời gian mở cửa ngày sơ duyệt: Từ 14 giờ ngày 27-8 đến hết chương trình sơ duyệt. 

- Thời gian mở cửa ngày tổng duyệt: Từ 18 giờ ngày 29-8 đến hết chương trình tổng duyệt ngày 30-8

- Thời gian mở cửa ngày lễ kỷ niệm: Từ 18 giờ ngày 1-9 đến hết 2-9-2025.

2. Địa điểm: Trung tâm Báo chí Quốc hội, tầng hầm B1 tòa nhà Quốc hội, đường Độc Lập, Ba Đình, Hà Nội.

3. Về số lượng phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên tham gia đưa tin về lễ kỷ niệm.

- Số lượng phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên trong nước: 1.390 của 171 cơ quan báo chí.

- Số lượng phóng viên nước ngoài: 150 của 50 cơ quan báo chí.

Đây là số lượng phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên đăng ký tác nghiệp cho sự kiện đông nhất từ trước đến nay.

III. Quy định tác nghiệp tại Lễ kỷ niệm:

Phóng viên hoạt động nghiệp vụ tại lễ kỷ niệm có quyền hạn và nghĩa vụ sau:

1. Thông tin trung thực, kịp thời về nội dung các hoạt động lễ kỷ niệm trên báo chí theo quy định của Luật Báo chí năm 2016.

2. Được cung cấp chương trình các hoạt động lễ kỷ niệm, các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung của hoạt động lễ tân; bảo quản, sử dụng các thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật.

3. Được tiếp xúc, trao đổi, phỏng vấn theo quy định của pháp luật và của Ban tổ chức. 

4. Được hướng dẫn và sắp xếp vị trí tác nghiệp làm việc thuận lợi, phù hợp với hoạt động nghiệp vụ của các loại hình báo chí. Phóng viên có trách nhiệm thực hiện đúng các hoạt động nghiệp vụ đúng vị trí đã được cơ quan chủ trì tổ chức hoạt động lễ tân sắp xếp; các thao tác nghiệp vụ của phóng viên phải bảo đảm yêu cầu trang trọng của hoạt động lễ tân, không làm cản trở các hoạt động của Ban tổ chức và việc bảo đảm an ninh cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước và khách mời.

5. Trang phục của phóng viên lịch sự, phù hợp với tính chất của hoạt động lễ tân và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

6. Thực hiện đúng các quy định về bảo đảm an ninh, trật tự của hoạt động buổi lễ và nội quy, quy định của tiểu ban an ninh của Ban tổ chức chức các hoạt động buổi lễ.

III. Thông tin tài liệu, liên hệ:

Các tài liệu liên quan về hoạt động của Trung tâm báo chí, thẻ tác nghiệp, sơ đồ vị trí tác nghiệp, tài liệu liên quan và các quy định hoạt động tác nghiệp của phóng viên được thông báo và gửi trong nhóm Zalo “Diễu binh - A80 - Tác nghiệp”./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG QUỐC GIA!

Bài viết mang tiêu đề “Hàng nghìn hộ dân mất nhà cửa để xây dựng sân bay cho Bộ Công an” lan truyền trên một số trang mạng xã hội thời gian gần đây thực chất là một sản phẩm bịa đặt, xuyên tạc, với dụng ý xấu nhằm gây hoài nghi, bất bình trong nhân dân đối với các chủ trương, chính sách phát triển đất nước.

Thứ nhất, Việt Nam luôn coi phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, là một trong ba đột phá chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội. Các dự án sân bay, cảng biển, cao tốc… đều được đưa vào quy hoạch tổng thể quốc gia, được Quốc hội thông qua, Chính phủ chỉ đạo chặt chẽ, bảo đảm phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Không có chuyện “Bộ Công an thích thì làm”, càng không tồn tại “công an trị” như luận điệu mà bài viết đưa ra.

Thứ hai, việc giải phóng mặt bằng cho các dự án lớn luôn được đặt trên nguyên tắc công khai, minh bạch, tuân thủ pháp luật, đi đôi với chính sách đền bù, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân. Trên thực tế, nhiều dự án trọng điểm quốc gia như Cảng hàng không Long Thành, cao tốc Bắc - Nam, và các khu công nghiệp lớn đều cho thấy: đa số nhân dân đồng thuận, tích cực ủng hộ vì lợi ích lâu dài của quốc gia, dân tộc. Những thông tin kiểu “hàng nghìn hộ dân bị bứng khỏi quê hương” là sự phóng đại, bịa đặt nhằm khoét sâu tâm lý lo lắng của một bộ phận nhân dân.

Thứ ba, các luận điệu “nẫng tay trên”, “xây dựng hệ sinh thái công an” chỉ là cách quy chụp, chia rẽ giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị, hòng phủ nhận vai trò của Bộ Công an cũng như Quân đội nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia. Trên thực tế, mọi nhiệm vụ đều được phân công rõ ràng, đúng chức năng, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước. Không có chuyện “phe công an” hay “phe quân đội” như các thế lực xấu cố tình dựng lên.

Thứ tư, việc phát triển hạ tầng giao thông không chỉ phục vụ an ninh - quốc phòng mà còn tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế quốc gia trong hội nhập quốc tế. Đây là lợi ích thiết thực, lâu dài cho nhân dân, trái ngược hoàn toàn với cách gán ghép rằng “làm ăn kiểu ăn cướp”.

Có thể khẳng định: những luận điệu xuyên tạc về dự án sân bay Gia Bình cũng như việc phát triển hạ tầng nói chung không xuất phát từ sự quan tâm đến quyền lợi nhân dân, mà là thủ đoạn chống phá, gieo rắc tâm lý hoang mang, mất niềm tin. Nhân dân cần tỉnh táo, tiếp cận thông tin từ nguồn chính thống, không để bị dẫn dắt bởi những kẻ cơ hội chính trị, luôn tìm cách khoét sâu mâu thuẫn, gây rối nội bộ.

Phát triển hạ tầng, trong đó có hạ tầng hàng không, là yêu cầu tất yếu của một đất nước đang phát triển, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Không một thế lực nào có thể xuyên tạc hay cản trở con đường đi lên ấy./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÁCH TÍNH, NGUYÊN TẮC CHI TRẢ PHỤ CẤP LỰC LƯỢNG BẢO VỆ CÔNG TRÌNH QUỐC PHÒNG TỪ NGÀY 15.9!

Cách tính, nguyên tắc chi trả phụ cấp lực lượng bảo vệ công trình quốc phòng từ ngày 15.9 căn cứ theo Nghị định 213/2025/NĐ-CP.

Khoản 3 Điều 8 Nghị định 213/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15.9.2025) quy định nguyên tắc chi trả phụ cấp lực lượng bảo vệ công trình quốc phòng như sau: Phụ cấp đặc thù quân sự đối với người hưởng lương được tính theo mức tiền lương theo cấp bậc hàm, ngạch bậc hiện hưởng, cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có), phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) nhân với 10%; đối với người hưởng phụ cấp quân hàm (hạ sĩ quan, binh sĩ) được tính theo mức phụ cấp quân hàm hiện hưởng nhân với 10%; Phụ cấp trách nhiệm công việc đối với người hưởng lương được tính theo mức tiền lương cơ sở nhân với hệ số 0,2; đối với người hưởng phụ cấp quân hàm (hạ sĩ quan, binh sĩ) được tính theo mức phụ cấp quân hàm của hạ sĩ quan, binh sĩ nhân với hệ số 0,2; thời gian được hưởng các chế độ, chính sách tính từ ngày có quyết định và thực hiện cho đến khi có quyết định thôi thực hiện nhiệm vụ; trường hợp giữ chức danh từ 15 ngày trở lên trong tháng thì được hưởng phụ cấp cả tháng, giữ chức danh dưới 15 ngày trong tháng thì được hưởng 50% phụ cấp của tháng đó.

Khi thay đổi vị trí công tác hoặc cấp bậc quân hàm đối với sĩ quan hoặc mức lương đối với quân nhân chuyên nghiệp hoặc mức phụ cấp quân hàm đối với hạ sĩ quan, binh sĩ từ tháng nào thì áp dụng hưởng mức phụ cấp theo vị trí công tác hoặc cấp bậc quân hàm hoặc mức lương, mức phụ cấp quân hàm tương ứng kể từ tháng đó; Các loại phụ cấp quy định tại Điều này được chi trả cùng kỳ lương hàng tháng và không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.

Theo Nghị định 213/2025/NĐ-CP, mức phụ cấp lực lượng bảo vệ công trình quốc phòng từ ngày 15.9.2025 như sau: Phụ cấp đặc thù quân sự 10% áp dụng với: Lực lượng chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự Nhóm đặc biệt; lực lượng chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ các công trình quốc phòng Nhóm I loại A không niêm cất, lấp phủ. Phụ cấp trách nhiệm công việc 0,2 áp dụng với: Lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng./.
Môi trường ST.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2025

VIỆT NAM: LẠC QUAN NHƯNG THẬN TRỌNG CHO TĂNG TRƯỞNG DÀI HẠN!

     Một loạt thay đổi về hành chính, bao gồm việc giảm số tỉnh từ 63 còn 34 và loại bỏ cấp huyện, được kỳ vọng sẽ giúp tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho dòng vốn đầu tư.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 68-NQ/TW được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân, với trọng tâm là cải cách pháp lý, giảm rào cản kinh doanh, cải thiện tiếp cận đất đai và vốn, bảo vệ quyền tài sản và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Đây là nền tảng quan trọng giúp Việt Nam thu hút thêm dòng vốn chất lượng cao trong bối cảnh các nhà đầu tư toàn cầu ngày càng quan tâm đến môi trường pháp lý ổn định và minh bạch.

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài Chính), trong 7 tháng năm 2025 tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký (gồm vốn đăng ký mới, điều chỉnh và mua bán và sáp nhập (M&A) đã đạt 24,09 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ 2024.

Ông Matthew Powell, Giám đốc Savills Hà Nội nhận định, mặc dù đối mặt với những bất ổn toàn cầu và căng thẳng thương mại, Việt Nam vẫn kiên định thúc đẩy cải cách cơ cấu và nỗ lực thu hút đầu tư. Dù còn nhiều thách thức, dòng vốn FDI ổn định cùng với đà phát triển hạ tầng cho thấy tín hiệu lạc quan thận trọng cho tăng trưởng dài hạn.

Nửa đầu năm 2025 ghi nhận nhiều hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) bất động sản, với loạt thương vụ do các nhà đầu tư nước ngoài dẫn dắt. Trong đó có thể kể đến thương vụ Capitaland mua lại dự án tại Bình Dương từ Becamex IDC với giá trị lên tới 553 triệu USD. Hay như liên danh Sumitomo Forestry, Kumagai Gumi và NTT Urban Development cùng hợp tác với Kim Oanh Group phát triển dự án The One World. Bên cạnh đó, Nishi Nippon Railroad đã mua 25% cổ phần dự án Paragon Đại Phước từ Nam Long.

Những thương vụ này phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, đồng thời cho thấy sự nổi lên của các dòng vốn từ Mỹ và châu Âu – những thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn cao và thường đầu tư dài hạn.

Bất động sản công nghiệp vẫn là một điểm đến hấp dẫn nhờ lợi thế về lao động, chi phí và vị trí chiến lược. Bất chấp lo ngại về các rào cản thương mại với Mỹ, Việt Nam vẫn giữ vững vai trò trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Một loạt dự án mới được khởi công như hai khu công nghiệp của Becamex IDC tại Bình Dương (tổng diện tích 1.080ha), hay khu VSIP Nam Định (180ha) chuẩn bị khởi công trong quý III/2025.

Ở phân khúc nhà ở, xu hướng phát triển vùng ven tiếp tục chiếm ưu thế với các dự án quy mô lớn được khởi động. Vingroup khởi công dự án Vinhomes Green Paradise (2.870ha) tại Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), Sun Group ra mắt Sun Blanca City (96,6ha) tại Vũng Tàu, trong khi Masterise Homes đánh dấu sự hiện diện tại miền Trung với dự án Masteri Rivera Đà Nẵng (khoảng 1.112 căn hộ).

Lĩnh vực bán lẻ cũng ghi nhận những bước tiến rõ rệt, tiêu biểu là việc AEON Mall mở rộng hiện diện tại miền Tây với hai dự án mới: AEON Mall Long An (khai trương tháng 8/2025) và AEON Mall Cần Thơ (8,5ha, đang xây dựng).

Thêm vào đó, du lịch và hàng không là những lĩnh vực đang hưởng lợi từ lượng khách quốc tế tăng mạnh (9,2 triệu lượt trong 5 tháng), cùng các kế hoạch lớn như APEC 2027 tại Phú Quốc. Việc mở rộng sân bay và thành lập hãng hàng không Sun PhuQuoc Airways cho thấy tầm nhìn phát triển toàn diện của các nhà đầu tư tư nhân và chính quyền./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TÍNH CHÂN THỰC TRONG BÁO CHÍ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà báo vĩ đại và cũng là người khai sinh, dẫn dắt nền báo chí cách mạng Việt Nam, cho dù Người khiêm tốn chỉ coi mình “là một người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Với tư cách là người tạo dựng nền báo chí cách mạng và kinh nghiệm của một nhà báo lão luyện, Người đã đề ra một hệ thống quan điểm sâu sắc về báo chí cách mạng, trong đó, chân thực là tính chất hàng đầu mà báo chí cần tuân thủ.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính chân thực của báo chí cách mạng

Hồ Chí Minh đã nói: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới” (1). Muốn thực hiện sứ mệnh đó, trước hết, người làm báo cung cấp cho người đọc lượng thông tin xác thực về các sự kiện, vấn đề, hiện tượng, con người xảy ra hằng ngày, hằng giờ trong đời sống xã hội nhằm định hướng dư luận và hành động của quần chúng nhân dân. Nếu nhà báo đưa thông tin sai lệch, người đọc sẽ hiểu sai, hành động sai và từ đó sẽ dẫn đến những thiệt hại to lớn về vật chất và tinh thần cho xã hội.

Nhu cầu về thông tin của quần chúng mang tính thường trực. Nếu báo chí thường xuyên cung cấp cho người đọc lượng thông tin lớn, chuẩn xác, người dân sẽ thường xuyên tìm đến báo chí như một kênh thông tin đáng tin cậy nhất. Ngược lại, chỉ đôi lần tiếp nhận các thông tin không chính xác, niềm tin của quần chúng vào báo chí của Đảng sẽ bị giảm sút. Vì thế, chân thực là tính chất đầu tiên của một sản phẩm báo chí đích thực và lòng trung thực là phẩm chất đầu tiên của một nhà báo chân chính. Theo Hồ Chí Minh, sự trung thực của một nhà báo trước hết phải thể hiện ở việc phải viết đúng sự thật. Người giải thích: “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe” (2). Trong cuộc sống, sự thật chỉ có một nhưng phản sự thật thì muôn hình, vạn trạng. “Căn bệnh thành tích” sẽ dẫn đến “hội chứng tô hồng”, “có ít suýt ra nhiều” hay thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích. Để cảnh báo và nhắc nhở cán bộ nói chung và những nhà báo cách mạng nói riêng về việc không được vi phạm tính chân thực, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra các dạng thức của căn bệnh ba hoa và đề ra 5 giải pháp chữa thói ba hoa. Ngược lại với căn bệnh “tô hồng”, người làm báo cũng không được phép vì sự “bất mãn cá nhân” hoặc động cơ chính trị nào đó mà “bôi đen” hiện thực, làm quần chúng nhìn nhận vấn đề theo hướng tiêu cực. Đề cao tính chân thật, Hồ Chí Minh yêu cầu nhà báo khi phản ánh thực tiễn thì “phải có khen cũng phải có chê. Nhưng khen hay là chê đều phải đúng mức. Khen quá lời thì người được khen cũng hổ ngươi. Mà chê quá đáng thì người bị chê cũng khó tiếp thụ”. Nghĩa là, sự “phóng đại” hiện thực theo bất kỳ chiều hướng nào cũng đều tai hại. Cùng là sản phẩm văn hóa nhưng tác phẩm báo chí khác với tác phẩm văn chương ở chỗ: Sức mạnh của báo chí nằm ở sự thật không cần hư cấu.

Không dừng lại ở yêu cầu viết đúng sự thật, hiện tượng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, tính chân thực của báo chí cách mạng và sự trung thực của người làm báo cần phải thể hiện ở việc, “mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng” (3), phải thể hiện được vấn đề căn cốt, nóng hổi của cuộc sống. Báo chí cách mạng phải là “diễn đàn” của quần chúng nhân dân, biểu lộ tâm trạng và ý muốn, khát vọng của đông đảo quần chúng nhân dân. Một bài báo chỉ nói những điều vô thưởng, vô phạt, những điều ở “ngoài lề” cuộc sống, tâm điểm xã hội, ngoài tâm trạng và mong muốn của nhân dân thì dù có đúng về chi tiết, sự kiện vẫn không phải là một sản phẩm có tính chân thực cao.

Ở Hồ Chí Minh, tính chân thực của báo chí không dừng ở quan điểm, chủ trương mà còn được cụ thể hóa thành các phương pháp, cách thức thực hiện. Với kinh nghiệm của “người anh cả” của báo chí cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ ra các bước thao tác nghiệp vụ để trên cơ sở đó, một sản phẩm báo chí mang tính chân thực, khách quan có thể ra đời. Trước hết, nhà báo phải tích cực đi thực tế, bám sát cơ sở để có được lượng thông tin chính xác. Tiếp đó, người làm báo phải kiểm chứng thông tin; điều gì mà “chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết” (4). Để người đọc cảm nhận được tính chân xác của thông tin thì khi phản ánh sự kiện nào đó, nhà báo phải “nói có sách, mách có chứng”, tức là nói cái việc ấy ở đâu, thế nào, ngày nào, nó sinh ra thế nào, phát triển thế nào, kết quả thế nào?” (5). Người làm báo phải thận trọng rà soát lại tác phẩm của mình trước khi công bố. Hồ Chí Minh căn dặn những người làm báo như sau: “Viết rồi phải thế nào? Viết rồi thì phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ. Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh, đọc lại. Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải chữa lại” (6). Để bảo đảm tính chân thực của tờ báo thì mỗi tình tiết sai trong các ấn phẩm báo chí cần phải được đính chính chuẩn xác vào số sau. Hồ Chí Minh từng yêu cầu, ở đầu sách báo “đều phải ghi một câu: Hoan nghênh bạn đọc phê bình” và phải có một mục dùng vào việc đính chính các thông tin sai lệch. Hồ Chí Minh là tấm gương về lòng trung thực và tính cầu thị khi tự thân đính chính và xin lỗi bạn đọc vì chi tiết nhầm lẫn trong bài báo của mình: “Trong báo Nhân Dân (14-3-1962), dưới đầu đề “Làm thế nào cho lạc thêm vui” đúng ra là 1 tấn lạc đổi được 1,5 tấn (1 tấn rưỡi) gang. Vì để sót một dấu phẩy (,) mà viết sai thành 15 (mười lăm) tấn gang. Đó là một thái độ không nghiêm túc, cẩn thận, T.L. xin thật thà tự phê bình và xin lỗi các bạn đọc”. 

Yêu cầu về tính chân thực đối với các sản phẩm báo chí ở nước ta hiện nay

Báo chí là sản phẩm của con người nên muốn có một sản phẩm báo chí mang tính chân thực thì trước hết phải có đội ngũ nhà báo trung thực và dũng cảm. Trong cuộc sống hôm nay, sự trung thực, dũng cảm của nhà báo thể hiện ở việc họ phản ánh khách quan các điển hình tiên tiến, dám chống thói giả dối, “thổi phồng thành tích”, chống căn bệnh “nói không đi đôi với làm”, “làm thì láo, báo cáo thì hay”, dũng cảm phanh phui các hiện tượng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ các cấp và trong xã hội... Sự trung thực của nhà báo thể hiện ở việc anh ta phải đứng trên lợi ích của “dân” chứ không phải lợi ích của “quan” khi phản ánh hiện thực, phải đồng cảm và nói lên niềm mong mỏi của nhân dân. Trong cơ chế thị trường, sự thiếu trung thực của người làm báo sẽ dẫn đến những động cơ và cách thức tác nghiệp khác nhau. Nếu vì mục đích trục lợi, người làm báo sẽ dùng báo chí như phương tiện để lăng xê người này, vùi dập người khác, thậm chí họ còn dùng sản phẩm báo chí để ép doanh nghiệp phải đưa tiền hoặc ép làm quảng cáo. Nếu vì mục đích “câu khách”, người làm báo sẽ chăm chăm viết những sự kiện “giật gân” như các vụ án mạng, chuyện riêng tư của những người mẫu, diễn viên, các hiện tượng bí hiểm trong đời sống tâm linh mà không ý thức rằng, họ đã góp phần tạo ra sự thiên lệch trong thị hiếu và nhận thức xã hội. Nếu vì lười biếng mà thiếu trung thực thì người làm báo sẽ chỉ chăm chăm “xào xáo” lại những thông tin có sẵn trên mạng để viết bài mà không bám sát, kiểm tra thực tế. Nếu thiếu lòng trung thực, người làm báo còn có thể “ăn cắp” ý tưởng, số liệu trong sản phẩm báo chí của người khác và sau đó “cắt dán”, “xào xáo” lại thành bài viết của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cán bộ Đài

Mặt khác, tính chân thực của báo chí cũng phải được nhìn nhận, xem xét trên tinh thần biện chứng. Một khi đã xác định báo chí có mục đích tối thượng là phục vụ lợi ích của đất nước, của nhân dân thì tính chân thực của báo chí cũng phải được thực hiện trên nền tảng đó, hướng tới mục tiêu đó. Điều đó không có nghĩa là nhà báo phải “bẻ cong ngòi bút”, “uốn cong sự thật” nhưng phải hết sức ý thức về thời điểm và mức độ cung cấp thông tin trên phương tiện truyền thông đại chúng sao cho có lợi nhất cho đất nước, cho nhân dân. Có những sự kiện, sự việc có thể nói ra, viết ra, nhưng cũng có sự kiện, sự việc, sự thật nhưng chưa thể viết hay chưa thể nói hết vì liên quan đến bí mật quốc gia, lợi ích của dân tộc. Khi đề cập đến các vấn đề nhạy cảm như quan hệ quốc tế, các vấn đề lịch sử còn đang tranh cãi, những vấn đề an ninh, quốc phòng, các vụ án lớn đang trong quá trình điều tra... các nhà báo đều phải “nằm lòng” phương châm: Không phải sự thật nào cũng phải nói hết ra nhưng những gì đã nói ra đều phải là sự thật. Như vậy, chân thật là nguyên tắc nhưng việc thực thi phải tính đến mức độ, chừng mực, thời điểm. Nhà báo Hữu Thọ, bằng sự trải nghiệm của mình, đúc kết: “Bác Hồ dạy chúng ta rất nhiều, nhưng tôi tâm đắc nhất hai điều, một là trung thực, hai là chừng mực. Trung thực là có thế nào nói thế ấy không vì yêu ghét, lợi ích mà bẻ cong ngòi bút. Còn chừng mực là khen, chê phải đúng đắn, có mức độ. Và ở bất kỳ thời điểm nào cũng phải trung thực và giữ chừng mực” (7). Do đó, người làm báo phải ý thức rõ ràng về mối quan hệ giữa tính chân thực và tính tư tưởng của báo chí, giữa đạo đức nghề nghiệp và nghĩa vụ công dân. Sự cân nhắc thấu đáo, sự tính toán hợp lý khi giải quyết mối quan hệ này thể hiện sự nhạy cảm chính trị và bản lĩnh của người làm báo.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, rằng tờ báo chỉ là giấy trắng mực đen mà thôi nhưng với giấy trắng mực đen ấy, người ta có thể tạo ra những sản phẩm báo chí với mức độ chân thực và gắn với nó là tác dụng, ảnh hưởng khác nhau. Tất cả phụ thuộc vào năng lực chuyên môn và đặc biệt là đạo đức, ý thức chính trị của người làm báo./.
Theo QĐND 
Yêu nước ST.