Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

     Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” và sử dụng những phần tử cơ hội chính trị để chống phá cách mạng Việt Nam, hòng tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở nước ta. Do vậy, cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ phải gắn chặt với cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống các phần tử cơ hội chính trị. Bài viết góp phần nhận diện và đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và cơ hội chính trị ở nước ta hiện nay

Quân đội xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng : Diễn tập tình huống “Phòng, chống tấn công làm tê liệt mạng thông tin thành phố”)_Ảnh: TTXVN
1. Chiến lược “diễn biến hòa bình” và cơ hội chính trị

Nguồn gốc chiến lược “diễn biến hòa bình” là do sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc nhận thấy có thể thực hiện một cuộc tấn công bằng các nhân tố gây bất ổn ngay trong lòng CNXH sẽ làm sụp đổ các nước XHCN. Do vậy, cùng với “Chiến tranh lạnh”, chủ nghĩa đế quốc đẩy mạnh cuộc chiến tranh tư tưởng, tuyên truyền chống phá CNXH. Phương thức mới này được gọi là “diễn biến hòa bình” hay “chuyển hóa hòa bình”.

Cụm từ “diễn biến hòa bình” xuất hiện ở thời kỳ đầu của Chiến tranh lạnh khi Ngoại trưởng Mỹ Akisơn nhận thấy sự thất bại của Mỹ trong việc can thiệp quân sự đối với các nước XHCN. Chiến lược “diễn biến hòa bình” là khái niệm chỉ âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực đế quốc, phản động sử dụng nhằm tạo ra và ủng hộ lực lượng chống đối, phản cách mạng ngay trong lòng các nước XHCN, hòng lật đổ chế độ XHCN mà không cần can thiệp bạo lực từ bên ngoài. Đây là “chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành”(1).

Những năm 1947-1988 là giai đoạn thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để ngăn chặn sự phát triển của CNXH. Trong đó, chủ nghĩa đế quốc đã lợi dụng khó khăn ở một số nước XHCN để kích động bạo loạn (Hunggari năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968)... Những năm 1989-1993, Chiến lược “diễn biến hòa bình” gắn liền với chiến lược “vượt trên ngăn chặn” để xóa bỏ CNXH. Từ năm 1993 đến nay là giai đoạn đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tiến hành “Cách mạng màu” hòng xóa bỏ hoàn toàn CNXH.

Bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là “hoạt động của các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền, nhằm vào các nước có chế độ chính trị mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh… để chuyển hóa chế độ chính trị của các nước này theo một quỹ đạo có lợi cho họ”(2). Bản chất đó thể hiện rõ tính chất phản cách mạng: chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu hóa, phi vũ trang. Theo đó, những biến thái mới của “diễn biến hòa bình” thời gian gần đây là:

1) Chủ thể thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” không chỉ là các thế lực thù địch, các nước đế quốc tư bản mà còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bành trướng và bá quyền. Theo đó, động cơ chính trị của “diễn biến hòa bình” đã chuyển từ hoạt động chống phá về ý thức hệ là chính sang trọng tâm tấn công vì lợi ích dân tộc cục bộ là chính.

2) Mục tiêu chủ yếu của “diễn biến hòa bình” thời gian gần đây là làm thay đổi nhận thức, gây mơ hồ về tính chất quốc gia, dân tộc, chế độ chính trị của các nước theo hướng có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và cường quyền vì lợi ích địa - chính trị và địa - kinh tế thay vì mục tiêu chính trị cực đoan.

3) Phương thức “diễn biến hòa bình” đã chuyển sự chống phá từ bên ngoài vào bên trong các nước sang thúc đẩy các hoạt động chống đối ngay từ bên trong nội địa, nội bộ và tại chỗ là chính.

4) Các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” đã được đẩy lên đỉnh cao, đến mức có thể coi là một “công nghệ”, đó là “công nghệ lật đổ”, với kịch bản gồm: hình thành lực lượng đối lập sẵn sàng cho một cuộc bầu cử; đẩy mạnh truyền thông kích động trong các cuộc bầu cử; tẩy chay hoặc không công nhận kết quả bầu cử nếu phe đối lập không chiến thắng; tổ chức cho các đối tượng nhẹ dạ cả tin, những đối tượng chống đối xuống đường, cộng hưởng bởi các phương tiện truyền thông gây ra bạo lực đường phố; can thiệp từ bên ngoài vào với danh nghĩa ủng hộ “những chiến sĩ đấu tranh vì dân chủ” bởi lý do “có gian lận trong bầu cử”; sử dụng công cụ thông tin và ngoại giao gây sức ép với chính quyền mới được bầu và ép buộc từ chức, giải tán, hoặc quốc hội buộc tuyên bố bãi bỏ kết quả bầu cử; tuyên bố thắng lợi và công khai ủng hộ, công nhận chính phủ mới thân phương Tây.

5) Gây sức ép kinh tế - tài chính và tấn công mạng thông tin là hai phương thức nổi lên của các thế lực thù địch, phản động, cường quyền đối với các nước nhỏ. Do đó, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội và các tổ chức phi chính phủ để gieo mầm, thúc đẩy “xã hội dân sự”, kích động sự phản kháng của các phần tử chống đối, biểu tình lật đổ chế độ(3).

Chiến lược “diễn biến hòa bình” và chủ nghĩa cơ hội chính trị có mối quan hệ mật thiết, cộng sinh với nhau, nó càng thêm “nhựa sống” khi được những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cộng sức. Bởi vậy, cùng với việc nhận diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, cần chỉ rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị trong bối cảnh hiện nay. Chống chủ nghĩa cơ hội chính trị để xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, nâng cao tính tiền phong, tính chiến đấu của tổ chức đảng.

Chủ nghĩa cơ hội có nguồn gốc từ mâu thuẫn giai cấp và cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản, giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Chừng nào còn tồn tại cuộc đấu tranh này thì vẫn còn cơ sở cho chủ nghĩa cơ hội tồn tại. Trong phong trào cách mạng vô sản, chủ nghĩa cơ hội chính trị thể hiện sự thỏa hiệp, cải lương, hợp tác vô nguyên tắc, trái với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trên thực tế, tồn tại chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh (có tính chất cải lương, thiên về thỏa hiệp, muốn “cải biến” một cách hòa bình chủ nghĩa tư bản thành CNXH, từ bỏ đấu tranh giành thắng lợi thực sự về tay giai cấp công nhân) và chủ nghĩa cơ hội “tả” khuynh biến chủ nghĩa Mác thành một giáo lý chết cứng, cứng nhắc, không sáng tạo (tồn tại trong các Đảng công nhân thời Quốc tế II cho đến tận ngày nay). Dù là chủ nghĩa cơ hội hữu hay “tả” khuynh đều đẩy phong trào công nhân đi đến hy sinh vô ích và thất bại(4). Những người sa vào chủ nghĩa cơ hội tìm cách thỏa hiệp quan điểm này với quan điểm kia, để đứng trung dung giữa những quan điểm đối chọi nhau. Do đó, đối với họ, chỉ luôn là những lời nói bóng gió và giả thiết trống rỗng; là lời nói không đi đôi với việc làm.

Chủ nghĩa cơ hội chính trị và những kẻ cơ hội chính trị được Hồ Chí Minh gọi tên là “bọn hoạt đầu”(5). Chủ nghĩa cơ hội chính trị là kẻ thù bên trong, tồn tại với rất nhiều đặc điểm và rất nguy hiểm, phá hoại Đảng, phá hoại phong trào cách mạng từ bên trong. Chúng ta cần nhận rõ nguồn gốc nảy sinh, sự phát triển, biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị để có các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực.

2. Nhận diện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị ở nước ta hiện nay

Biểu hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

Hiện nay, “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là mũi đột phá trong âm mưu chiến lược của các thế lực thù địch, tấn công vào hệ tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng và đời sống văn hóa, tinh thần xã hội Việt Nam, hòng xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam, xóa bỏ những giá trị truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Về mục tiêu, tùy theo tình hình, thời điểm mà các thế lực thù địch tập trung thực hiện mục tiêu cụ thể, nhưng về cơ bản, chúng đều thực hiện mục tiêu làm rối loạn, mất ổn định chính trị, dao động về tư tưởng, dẫn đến mất phương hướng, tiến tới xóa bỏ, hoặc xa rời, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Về nội dung, các thế lực thù địch phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh các lãnh tụ cộng sản, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta; phủ nhận, xuyên tạc giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc...

Về phương thức, như: Bôi nhọ, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn về một số sự việc; phản ánh một chiều, phiến diện, thổi phồng, bóp méo sự thật; xây dựng ngọn cờ; sử dụng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý; sử dụng các kênh truyền thông, nhất là phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là mạng xã hội, các loại hình văn học, nghệ thuật để tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch vào trong nước; lợi dụng xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam để chống phá cách mạng Việt Nam.

Biểu hiện chủ nghĩa cơ hội chính trị ở nước ta hiện nay

Trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, có cơ hội hữu khuynh và “tả” khuynh. Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh là sự sùng bái phong trào tự phát, từ bỏ cách mạng XHCN, phủ nhận giai cấp công nhân giành chính quyền. Còn chủ nghĩa cơ hội “tả” khuynh là sự kết hợp hỗn tạp phương châm cách mạng cực đoan và phiêu lưu dựa trên cơ sở quan niệm duy ý chí về sức mạnh tuyệt đối của bạo lực cách mạng. Về hình thức bề ngoài có vẻ đối lập nhau, nhưng bản chất giống nhau.

Ở nước ta, khi nói đến cơ hội chính trị và các phần tử cơ hội chính trị là chỉ những người có quá trình tham gia hoạt động cách mạng, ít nhiều có công lao đóng góp cho cách mạng, nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng vì những điều kiện hoàn cảnh lịch sử khác nhau, lợi ích cá nhân của bản thân họ không được đáp ứng, họ tỏ ra bất mãn, bi quan, dao động, xuất hiện tư tưởng, quan điểm mơ hồ, lệch chuẩn.

Trên thực tế, đối tượng cơ hội chính trị không chỉ giới hạn ở những cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị bị tha hóa mà còn cả những phần tử chống đối, phản cách mạng từng bị xử lý kỷ luật, nuôi tham vọng chờ cơ hội phục thù; những trí thức, văn nghệ sỹ, thậm chí có cả một bộ phận trí thức trẻ thiếu tu dưỡng rèn luyện, nặng về hưởng thụ, lãng quên trách nhiệm với cộng đồng... Khi cách mạng thuận lợi thì họ tỏ ra rất “cấp tiến”, khi cách mạng gặp khó khăn thì họ thoái lui, thỏa hiệp, công kích vào Đảng.

Có thể chia thành các nhóm: 1) Nhóm cơ hội chính trị đang là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan Quân đội, Công an, văn nghệ sỹ, trí thức, nhà báo, nhà văn, nhà thơ,... hiện đang làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đoàn thể... được Nhà nước trả lương từ ngân sách nhưng trong cuộc họp nói một đằng, ngoài cuộc họp nói khác, nói một đằng, làm một nẻo... 2) Nhóm cơ hội chính trị là các đối tượng nêu trên nhưng đã nghỉ hưu sống bằng lương hưu, thậm chí có người bỏ Đảng, bỏ chế độ hưu, công khai đối lập với Đảng, ra mặt công kích chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi ích của xã hội... 3) Nhóm cơ hội chính trị gồm các phần tử chống đối, bất mãn (có cả những người của hai nhóm trên); các đối tượng có hận thù với cách mạng, viên chức chế độ cũ đã bị cách mạng cải tạo, xử lý nhưng vẫn nuôi tham vọng phục thù, lợi dụng các yếu tố thời cuộc bất lợi, cấu kết với các thế lực thù địch tìm mọi cách kết nối thành hội, nhóm, manh nha hình thành các tổ chức phản động, chống phá sự nghiệp cách mạng. 4) Nhóm cơ hội chính trị là người có uy tín trong cộng đồng dân tộc ít người, chức sắc tôn giáo có tư tưởng chính trị cực đoan, tìm cách triệt để khai thác các vấn đề chính trị, xã hội trong nước, móc nối, tranh thủ sự hậu thuẫn của các thế lực bên ngoài, tìm cách phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, mưu toan tạo phản, lật đổ chế độ, đưa tôn giáo vào chính trị và nuôi dưỡng ý tưởng ly khai, lập nhà nước riêng(6).

Thủ đoạn của các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” và sử dụng các phần tử cơ hội chính trị để chống phá cách mạng Việt Nam

Một là, chúng sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet, sách báo, tạp chí từ nước ngoài, sử dụng các đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, nhiều tờ báo và tạp chí tiếng Việt, nhà xuất bản để tuyên truyền xuyên tạc, chống cách mạng Việt Nam; dùng điện thoại trực tiếp phỏng vấn, kích động, tâng bốc, lôi kéo một số người có quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, Mỹ và các nước phương Tây sử dụng các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài, vừa lôi kéo tập hợp lực lượng, vừa tiến hành các hoạt động bạo loạn hòng gây ra tình hình mất ổn định ở Việt Nam; một số tổ chức phản động đang ráo riết móc nối với phần tử cơ hội chính trị trong nước dựng lên “ngọn cờ” chống Đảng, hình thành tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam dưới hình thức “nhóm nối kết”, “tập hợp dân chủ đa nguyên”... Trên cơ sở đó từng bước công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập, chờ thời cơ để lật đổ chính quyền.

Ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc và tôn giáo, để gây sức ép về chính trị, chia rẽ nội bộ, kích động hận thù, hình thành xu hướng ly khai đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam; lợi dụng chiêu bài: “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam; nhìn nhận tôn giáo ở Việt Nam như một lực lượng chính trị có thể “đối trọng” với Đảng Cộng sản; cho rằng “chủ nghĩa dân tộc là một lực lượng hùng hậu nhất cuối thế kỷ XX có thể sử dụng làm sụp đổ hệ thống XHCN”. Do vậy, họ khuyến khích, nuôi dưỡng các đối tượng phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo gia tăng hoạt động, tuyên truyền chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Bốn là, thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ (NGO), qua các hình thức giao lưu, hợp tác về văn hóa, khoa học, giáo dục… để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, chuyển hóa chính trị, mua chuộc cán bộ; móc nối với những người nắm giữ bí mật quốc gia. Chúng mời đích danh một số người thuộc lớp trẻ mà chúng cho là có tư tưởng cấp tiến sang phương Tây tham quan, nghiên cứu để tuyên truyền, quảng bá nền dân chủ của phương Tây. Ngoài ra, chúng có nhiều hoạt động can thiệp sâu vào công việc nội bộ của ta như tổ chức nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo nhằm tuyên truyền, quảng bá cho các giá trị phương Tây.

Năm là, chúng tăng cường móc nối với một số đối tượng cơ hội chính trị chống đối Việt Nam, tìm “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng, hình thành phe phái, tiến tới hình thành đảng đối lập ở Việt Nam. Chúng thực hiện các hoạt động như viết và tán phát các tài liệu dưới danh nghĩa góp ý kiến, nhật ký, đối thoại, thư khẩn, lời kêu gọi... nhưng thực chất là tìm cách liên kết với nhau mở các chiến dịch chống phá Đảng, Nhà nước bằng các hình thức khác nhau.

Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị là cơ sở quan trọng để có giải pháp phù hợp, kịp thời đấu tranh, phòng chống.

3. Giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị

Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ không thể tách rời với đấu tranh không khoan nhượng với các phần tử cơ hội chính trị. Đây phải được xem là một nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cơ hội chính trị là yêu cầu khách quan, đòi hỏi phải gắn chặt với phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do vậy, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy và người đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và chủ nghĩa cơ hội chính trị.

Nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị của các cấp ủy, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị, cấp ủy, chi bộ để làm chỗ dựa nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bởi vì, đây là các chủ thể lãnh đạo, quản lý, tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và chống cơ hội chính trị. Thực tiễn cho thấy, ở địa phương, cơ quan, đơn vị nào mà cấp ủy đảng, người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng xem xét, phân tích, đánh giá đúng tình hình, nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “cơ hội chính trị” thì ở đó tạo được sự thống nhất về tư tưởng, hành động; cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân đủ sức chủ động phòng ngừa, giải quyết tốt, có hiệu quả ngăn chặn những hành động chống phá của các thế lực thù địch.

Muốn vậy, cần đặc biệt coi trọng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấu suốt đường lối chính trị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có nhận thức đúng đắn về con đường đi lên CNXH; nhạy cảm chính trị, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội chính trị; chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, không để gây ra hậu quả.

Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đi đôi với phát huy vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và cơ hội chính trị.

Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng, quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh tư tưởng; bảo đảm cho mọi cán bộ, đảng viên tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Trong đó, cần tập trung vào các nội dung như: Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách và chỉ đạo các hoạt động đấu tranh; xây dựng bộ máy nhà nước, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; củng cố, phát huy vai trò của các cấp chính quyền; xây dựng và phát huy vai trò các tổ chức chính trị - xã hội trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, cơ hội chính trị. Cần nhanh chóng sàng lọc, phát hiện và sớm đưa ra khỏi bộ máy những phần tử cơ hội chính trị.

Tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, bố trí sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ trong điều kiện mới. Đẩy mạnh và kiên trì giải pháp giáo dục chính trị, tư tưởng và tăng cường công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên cả trong và ngoài hệ thống chính trị. Kiên trì thực hiện nhất quán chính sách tôn vinh và đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng.

Ba là, xây dựng, kiện toàn ban tuyên giáo, ban chỉ đạo 35 các cấp vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nòng cốt, huy động đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, xây dựng “thế trận lòng dân” tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, cơ hội chính trị.

Rà soát hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ Trung ương đến địa phương; khắc phục sự chồng chéo, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ cho từng tổ chức, giữa bộ máy lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước. Việc thực thi trách nhiệm phải được giám sát bằng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy tắc chuẩn mực, lương tâm nghề nghiệp.

Đẩy mạnh đổi mới cơ chế, chính sách trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút người tài, người có bản lĩnh, kinh nghiệm để tạo ra một lực lượng cán bộ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có sự trao truyền, nối tiếp giữa các thế hệ. Tạo môi trường hấp dẫn (về điều kiện làm việc, chính sách tiền lương, nhà ở...) để người tài yên tâm công tác, tâm huyết với nghề, có nhiều đóng góp vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể trong việc nhận diện những nhóm, đối tượng chống phá, thù địch.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đấu tranh ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí; nâng cao tính gương mẫu trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, của cấp ủy cấp trên và của cấp mình, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong đó, chú trọng tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai kết quả kiểm tra, giám sát, xử lý các khuyết điểm, vi phạm để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Gắn cuộc đấu tranh ngăn chặn các phần tử cơ hội chính trị với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực thi triệt để nội quy kiểm soát về quyền lực, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, nâng cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên. Thực hành nguyên tắc đạo đức “Nói đi đôi với làm”, kiên quyết khắc phục tình trạng nói không đi đôi với làm. Nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Hơn lúc nào hết, cần tăng cường và đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, nghĩa cơ hội chính trị và các phần tử cơ hội trong nội bộ để loại ra khỏi tổ chức đảng.

Năm là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, cơ hội chính trị.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình xử lý công việc của các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ này, bảo đảm yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Tiếp tục phát triển các giải pháp công nghệ truyền thông; đầu tư các thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ lực lượng tham gia đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Trang bị đầy đủ và đồng bộ các phương tiện cơ sở vật chất - kỹ thuật để phục vụ cho việc quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản… Đầu tư tài chính thỏa đáng kết hợp với việc khai thác những nguồn lực khác phục vụ tốt nhất cho hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Gần 40 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là chưa có tiền lệ. Vì vậy, không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót trong quá trình lãnh đạo của Đảng. Đây chính là khoảng trống để xuất hiện những phần tử cơ hội chính trị truyền bá các tư tưởng sai trái, thù địch. Các tư tưởng cơ hội chính trị cùng với chiến lược “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch gây nguy hại nghiêm trọng tới sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và trong sạch về tổ chức bộ máy của Đảng, tới vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, vận mệnh của Đảng, của quốc gia - dân tộc. Đây là vấn đề mà mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cần phải nhận thức rõ, tăng sức “đề kháng”, “miễn dịch” để không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trước các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 554 (4-2024)

Ngày nhận bài: 13-2-2024; Ngày bình duyệt: 16-4-2024; Ngày duyệt đăng: 22-4-2024.

(1) Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển Bách khoa quân sự: Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.303.

(2), (3) Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.732, 732-733.

(4) Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 25-02-2020.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, các tr.297, 308, 311.

(6) Xem Trương Giang Long: Cơ hội chính trị - nhận diện và phòng chống, https://cand.com.vn/ , đăng ngày 12-5-2020.
Ảnh: Quân đội xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng : Diễn tập tình huống “Phòng, chống tấn công làm tê liệt mạng thông tin thành phố”.
QV-ST!

CẢNH GIÁC VỚI MÀN “KHÓC MƯỚN”!

     Vừa dựng xe máy cái “rầm” ở ngoài sân, Hùng bước nhanh vào quán, mặt hầm hầm, lấy chân khều cái ghế rồi ngồi phịch xuống. Tôi chưa kịp hỏi han thì Hùng đã oang oang:

- Xăng với chả dầu, đã giảm rồi mà vẫn cao quá. Đổ đầy bình mà xót hết cả ruột! Anh em mình làm công ăn lương còn nhức hết đầu, huống hồ bà con lao động. Chả biết công tác quản lý kiểu gì nữa.

Tôi hiểu ra vấn đề Hùng đang nói nên trêu lại:

- Thì phải chấp nhận chứ sao!

Như “gãi đúng chỗ ngứa”, Hùng lên giọng gay gắt:

- Chấp gì mà chấp. Trên mạng người ta đang rần rần lên kìa. Giá xăng dầu tăng “phi mã” còn chính quyền cứ “bình chân như vại”, “bỏ mặc người dân”. Sinh ra cái Quỹ bình ổn giá lại trở thành “túi tiền riêng” của các nhóm lợi ích, là nơi để doanh nghiệp đầu mối “tự tung tự tác”, tham ô, tham nhũng. Tôi đọc mà thấy sôi hết cả máu!

- Ông lại lướt mấy cái trang “lề trái”, nghe đám cơ hội chính trị “khóc mướn” rồi hùa theo chứ gì? Uống ngụm nước cho hạ hỏa đi.

Hùng ấm ức:

- Nhưng họ nói có lý lắm. Xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, sao lại cứ để tăng cao vậy?

- Bình tĩnh đi, ông phải hiểu, giá xăng dầu phụ thuộc trực tiếp vào biến động của thị trường thế giới. Nhưng ông có biết, giá xăng dầu ở Việt Nam hiện nay so với mặt bằng chung không? Ông không cập nhật à? Theo thống kê của Bộ Công Thương, mức tăng giá xăng dầu trong nước hiện vẫn được kiểm soát thấp hơn đáng kể so với nhiều nước trong khu vực. Một phần quan trọng là nhờ sử dụng Quỹ bình ổn giá đó nhé.

Thấy Hùng lắng nghe, tôi tiếp lời:

- Bản chất của Quỹ bình ổn giá không phải là ngân sách nhà nước cấp, mà là tiền của người dân được trích lập trong giá bán để sử dụng lại cho chính người dân khi thị trường biến động cực đoan. Đây là cơ chế nhân văn và phải được coi là “giảm xóc” mới đúng. Nhờ có quỹ, khi giá xăng dầu thế giới tăng sốc thì giá trong nước mới được kìm giữ để không tăng đột biến. Hơn nữa, Chính phủ còn sử dụng linh hoạt các công cụ thuế. Việc giảm thuế bảo vệ môi trường hay xem xét điều chỉnh thuế nhập khẩu xăng dầu trong những thời điểm căng thẳng là minh chứng rõ nhất cho nỗ lực gánh bớt khó khăn cùng người dân. 

Hùng gật gù:

- Thế mà bọn chúng cứ thổi phồng lên làm tôi hoang mang quá.

- Chứ sao! Trên mạng xã hội, các luận điệu tiêu cực kiểu đó thường ẩn nấp dưới vỏ bọc “dũng cảm” lên tiếng bảo vệ quyền lợi người dân, lo cho bà con nghèo. Những kẻ cơ hội chính trị muốn biến một vấn đề kinh tế thuần túy thành một cuộc khủng hoảng niềm tin, nhằm khiến người dân nghĩ rằng khó khăn họ đang gặp phải không phải do bối cảnh khách quan của thế giới mà do sự “yếu kém”, “tư lợi” của bộ máy lãnh đạo, quản lý. Đây là thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước trước nhân dân.

Đến lúc này, Hùng gãi đầu cười ngượng nghịu:

- Ôi, thâm độc thế sao? Suýt nữa tôi lại vô tình tiếp tay cho những luận điệu xuyên tạc ấy. Từ nay tôi sẽ cảnh giác cao độ ông ạ!
QV-ST!

TỈNH TÁO TRƯỚC ÂM MƯU LỢI DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỂ XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ CỦA QUÂN NHÂN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Các ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI) xuất hiện đã mang lại nhiều lợi ích trong cuộc sống, nhưng cũng gây ra không ít tác hại đáng quan ngại khi con người sử dụng với ý đồ xấu để gieo rắc những tiêu cực trong xã hội. Thời gian qua, một số đối tượng xấu sử dụng công nghệ AI để xuyên tạc mối quan hệ quân nhân và tán phát trên không gian mạng. Do vậy, nhận diện và đấu tranh với những hành vi này là việc làm cần thiết để giữ gìn phẩm giá và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình hiện nay.

Bóc mẽ thủ thuật lợi dụng AI để tung tin, hình ảnh giả mạo

AI ra đời mang lại những lợi ích thiết thực cho con người trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong giáo dục, nghệ thuật, giải trí, y tế, nghiên cứu khoa học, giao thông vận tải... Các ứng dụng của AI đã dần thay thế một số hoạt động, kỹ năng của con người và tiệm cận đến đời sống thực tế khiến chúng ta đôi khi khó có thể phân biệt được đâu là sản phẩm của công nghệ AI và đâu là đời sống thực. Nhiều sản phẩm của ứng dụng AI tạo ra hình ảnh, âm thanh, video, bản tin một cách tinh xảo, sát thực tế đến kinh ngạc. Hiện nay, các ứng dụng AI này được quảng cáo hướng dẫn sử dụng một cách công khai trên các trang mạng xã hội, nhất là các website, Facebook, Zalo, TikTok... Do dễ dàng tiếp cận và sử dụng các ứng dụng công nghệ của AI nên người dùng có thể tự tạo ra cho mình những hình ảnh, video theo ý muốn từ những hình ảnh, video đã chụp, quay từ trước hoặc tạo ra những hình ảnh, video hoàn toàn mới nếu người dùng cung cấp mô tả một cách chi tiết hình ảnh, video hoặc bản tin mà mình muốn tạo ra.

Thời gian qua, một số đối tượng đã lợi dụng hình ảnh quân nhân nhằm mục đích câu view, câu like hoặc xuyên tạc, vu khống, nhất là khi có vụ việc đang trong quá trình điều tra, xử lý. Họ sử dụng các ứng dụng AI để chỉnh sửa, cắt ghép hình ảnh quân nhân với khuôn mặt bầm tím, bị thương,... sau đó tung lên mạng xã hội. Những hình ảnh này thường đi kèm với thông tin sai lệch, vu khống quân nhân bị đồng đội hoặc cấp trên hành hung. Với các kỹ thuật xử lý đơn giản, không khó để các đối tượng sử dụng công nghệ AI tạo nên các video clip cảnh đánh nhau “như thật” giữa hai quân nhân sau đó tung lên không gian mạng khiến người xem không thể phân biệt được thật-giả. Hoặc thủ thuật tạo dựng hình ảnh, video giả mạo (deepfake) để tạo ra video có hình ảnh và giọng nói của quân nhân với các phát ngôn tiêu cực hoặc thực hiện những hành vi không tốt tạo nên sự quan tâm của dư luận xã hội.

Ngoài ra, các đối tượng có thể sử dụng Chatbot AI để tạo ra các cuộc hội thoại giữa quân nhân với nhau hoặc với người thân nhằm truyền bá tư tưởng lệch lạc, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và kỷ luật Quân đội. Bên cạnh đó, đối tượng xấu có thể sử dụng AI để viết bài, tạo tin tức giả nhằm bôi nhọ nhân phẩm, đạo đức của quân nhân hoặc thổi phồng, bóp méo sự việc liên quan đến mâu thuẫn giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới nhằm chia rẽ đoàn kết nội bộ đơn vị. Nguy hại hơn, lợi dụng việc quân nhân tử vong do bệnh tật gần đây, một số đối tượng đã sử dụng công nghệ AI để tạo ra hình ảnh, video clip, đoạn ghi âm giả mạo, các bản tin... làm “bằng chứng” và vu khống rằng quân nhân bị cấp trên, bị đồng đội hành hung nhằm thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, kích động người dân gây rối.

Những hệ lụy khôn lường

Việc các đối tượng xấu lợi dụng công nghệ AI để xuyên tạc, bôi nhọ mối quan hệ giữa quân nhân với nhau hoặc giữa quân nhân với người dân gây ra những hệ lụy hết sức phức tạp.

Thứ nhất, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý đối với quân nhân đang tại ngũ. Khi thông tin xuyên tạc được lan truyền, có thể khiến các quân nhân hiểu lầm, nghi kỵ lẫn nhau, gây nên tâm lý e dè giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới và giữa hạ sĩ quan, chiến sĩ đối với cán bộ chỉ huy đơn vị. Ngoài ra, thông tin xuyên tạc còn gây tâm lý hoang mang, lo sợ đối với thanh niên đến tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự dẫn đến một số trường hợp trốn tránh nghĩa vụ quân sự. 

Thứ hai, làm tổn hại danh dự, uy tín cá nhân và tập thể. Những thông tin, hình ảnh, video... mà những kẻ xấu sử dụng công nghệ AI tạo ra có thể nhằm vào cá nhân, tập thể cụ thể, thêu dệt những hành vi vi phạm kỷ luật, đạo đức, lối sống... Từ đó, làm tổn thương sâu sắc đến danh dự, uy tín, gây áp lực tâm lý cho quân nhân và gia đình họ.

Thứ ba, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Các thông tin giả mạo, xuyên tạc có thể khiến người dân hiểu sai về Quân đội, về quan hệ đồng chí, đồng đội trong quân ngũ, cho rằng nội bộ đơn vị có mâu thuẫn, mất đoàn kết, “thanh trừng” lẫn nhau, cán bộ suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, từ đó gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Thứ tư, tạo dư luận xấu trong xã hội về chính sách nghĩa vụ quân sự. Những vụ việc giả mạo, xuyên tạc trên không gian mạng có thể bị “thổi phồng” nhằm kích động, tạo làn sóng dư luận tiêu cực, gây tâm lý hoài nghi của người dân đối với chính sách nghĩa vụ quân sự, nhất là các gia đình có con em trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự. Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyển quân của các địa phương.

Chủ động kiểm soát, phòng ngừa, đấu tranh

Lợi dụng các ứng dụng của AI để thực hiện các hành vi bôi nhọ, xuyên tạc đời sống quân nhân trong quân ngũ là một trong những thủ đoạn nham hiểm, tinh vi của âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm tiến công trực tiếp làm suy yếu sức mạnh đoàn kết nội bộ của Quân đội và đoàn kết quân dân trong giai đoạn hiện nay.

Để phòng, chống, đấu tranh với âm mưu đó, trước hết cần thường xuyên giáo dục tinh thần giữ gìn đoàn kết, yêu thương, gắn bó với nhau, nhất là giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, giữa cán bộ với chiến sĩ. Bên cạnh đó, tăng cường giáo dục quân nhân về ý thức chấp hành kỷ luật Quân đội và trách nhiệm của từng quân nhân trong việc giữ gìn hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ ở mọi lúc, mọi nơi.

Coi trọng giáo dục pháp luật, kỷ luật Quân đội, các quy định của đơn vị khi tham gia các hoạt động trên không gian mạng, nhất là việc đưa hình ảnh và hoạt động của cá nhân và đơn vị lên không gian mạng, tránh để kẻ xấu lợi dụng. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm của quân nhân khi sử dụng internet, mạng xã hội, không chia sẻ và bình luận đối với các thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội. Nâng cao “sức đề kháng”, hình thành khả năng “miễn nhiễm” của mỗi quân nhân trước các tin giả, thông tin xấu, độc và các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Trong bối cảnh mạng xã hội bùng nổ hiện nay, cần quan tâm bồi dưỡng cho quân nhân kỹ năng nhận diện chính xác những thủ đoạn lợi dụng công nghệ AI tạo ra những thông tin xuyên tạc, gây mất đoàn kết nội bộ của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu. Chủ động hướng dẫn cho quân nhân về kỹ năng phân biệt thông tin thật-giả thông qua phân tích nội dung, hình thức của bản tin; những kỹ xảo trong các hình ảnh, video, bản tin do công nghệ AI tạo ra. Hướng dẫn quân nhân cách nhận diện các website chính thức, chính thống với các website giả mạo; cách phân biệt tên miền ở trong nước với tên miền ở nước ngoài. Bồi dưỡng cho quân nhân về kỹ năng chọn lọc thông tin lành mạnh, tránh bị tin giả thao túng tâm lý, nhận thức.

Thực hiện phương châm “lấy đẹp để dẹp xấu”, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, thường xuyên lan tỏa hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, về mối quan hệ đồng đội keo sơn gắn bó, tình cảm đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi... trên không gian mạng để không ngừng củng cố lòng tin của quân nhân tại ngũ và tình cảm của nhân dân đối với Quân đội.

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ thuật lợi dụng công nghệ AI để bôi nhọ, xuyên tạc mối quan hệ quân nhân, xuyên tạc đời sống quân ngũ trên không gian mạng là việc làm thiết thực, giải pháp quan trọng nhằm góp phần giữ vững những giá trị tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và môi trường văn hóa lành mạnh trong quân ngũ. Qua đó góp phần bảo vệ sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, bảo vệ sức mạnh và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam./.
QV-ST!

CHIÊU TRÒ “BÌNH CŨ, RƯỢU ĐỘC”!

     Sáng chủ nhật, dưới gian bếp phảng phất mùi khói, vợ chồng ông Tỉnh lúi húi làm mâm cơm sum họp gia đình, còn đứa cháu trai tên Vinh được bố mẹ “cử” sang giúp ông bà thì cắm mặt vào điện thoại. Bất chợt Vinh la lên làm ông Tỉnh giật mình:

- Ông bà ơi, thế này thì loạn rồi!

Ông Tỉnh nhíu mày:

- Loạn cái gì mà loạn? Mau đi giúp ông bà lau bát đĩa cho sạch sẽ!

Vinh đến giơ điện thoại cho ông nội xem, miệng liến thoắng:

- Đây ông, toàn tin cập nhật nóng hổi. Các vụ xô xát, cháy nổ, va chạm xe... liên tục xảy ra. “Dân mạng” thì bình luận kêu ca chính quyền quản lý yếu kém. Cháu vừa chia sẻ để mọi người cùng biết và phòng tránh những sự việc đáng tiếc!

- Lại cái thói “tay nhanh hơn não” rồi cháu ạ! 

- Ông thì cái gì cũng nghi ngờ. Bây giờ tin tức cập nhật từng giây, có hình ảnh thực tế hẳn hoi. Với lại, tài khoản của người đăng tin có hàng chục nghìn lượt theo dõi chứ có phải tài khoản ảo đâu ông ơi! 

Thấy đứa cháu nội "trẻ người non dạ", ông Tỉnh nghiêm giọng:

- Cháu cứ dán mắt vào điện thoại mà lại mù mờ thông tin, không biết phân biệt thật, giả. Mấy hôm trước, bản tin truyền hình đã cảnh báo về những thông tin như thế này rồi. Không ít đối tượng xấu đang cố tình sử dụng phần mềm cắt ghép những video, hình ảnh từ các vụ việc cũ mèm, chèn giọng đọc AI (trí tuệ nhân tạo) vào rồi giật tít mập mờ, làm như thể sự việc vừa mới xảy ra.      

- Ô hay... Thế họ mất công “xào” thông tin cũ để làm gì ông nhỉ?

- Đó không chỉ đơn giản là “câu view” rẻ tiền, mà chính là chiêu trò “bình cũ, rượu độc” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chúng cố tình “nhặt nhạnh” những vụ việc tiêu cực cũ kỹ và đã được cơ quan chức năng giải quyết, rồi chắp ghép hòng vẽ nên một bức tranh xã hội u ám, đầy rẫy bất ổn. Một bộ phận người dân tò mò, nhẹ dạ như cháu đã trở thành “loa phóng thanh” tán phát thông tin ấy gây hoang mang dư luận, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự. Mục đích sâu xa của chúng là bôi nhọ hình ảnh đất nước ta, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và năng lực quản lý của chính quyền địa phương, lực lượng chức năng. Đó chính là một thủ đoạn trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của thế lực thù địch đấy!

- Vậy mà cháu cứ tưởng mình chia sẻ những thông tin này là làm việc tốt, giúp mọi người không mắc phải các sự cố.

- Muốn làm việc tốt nhưng lại thiếu hiểu biết, không phân biệt được thông tin thật, giả mà chia sẻ cho mọi người thì thành tiếp tay cho kẻ xấu đấy cháu ạ! Luật An ninh mạng đã quy định rõ, hành vi tán phát tin giả, tin sai sự thật gây hoang mang dư luận sẽ bị xử phạt nặng, thậm chí bị xử lý hình sự đấy!

- Cháu đã hiểu và sẽ xóa ngay những chia sẻ của mình. Từ nay cháu sẽ cảnh giác, tỉnh táo như ông để không bị lừa, không mắc mưu kẻ xấu.

Ông Tỉnh gật đầu hài lòng:

- Không gian mạng là ảo, nhưng hệ quả là thật đó. Khi tiếp nhận thông tin, cháu phải tỉnh táo, biết “gạn đục khơi trong” nhé! Thôi, ông cháu ta tiếp tục làm việc kẻo bà lại phê bình chỉ mải tán chuyện...
QV-ST!

VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC KHÔNG PHỦ NHẬN VAI TRÒ ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG NHẤT CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN!

THẤY ĐÚNG VAI TRÒ ĐỂ KHÔNG NGỘ NHẬN

     Sau khi Bộ Chính trị (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6-1-2026 về phát triển kinh tế nhà nước (KTNN), xuất hiện những quan điểm sai lệch cho rằng vai trò chủ đạo của KTNN phủ nhận động lực của kinh tế tư nhân (KTTN) theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Thực chất, theo tinh thần hai nghị quyết trên, hai khu vực kinh tế không những không đối lập mà bổ sung, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhận thức đúng để tránh cực đoan, khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng.

Theo tinh thần Nghị quyết 79 và Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về vai trò chủ đạo của KTNN và một động lực quan trọng nhất của KTTN thì một bên giữ vai trò định hướng, điều tiết, còn bên kia tạo ra xung lực tăng trưởng. Nhận thức đúng mối quan hệ này là “chìa khóa” vận dụng đúng đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

Tính thống nhất biện chứng giữa KTNN và KTTN 

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, việc xác định đúng vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế luôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đặc biệt, nhận thức về mối quan hệ giữa KTNN và KTTN vẫn còn tồn tại những cách hiểu chưa đầy đủ, thậm chí sai lệch, bóp méo. Có quan điểm cho rằng việc khẳng định KTNN giữ vai trò chủ đạo đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò động lực quan trọng của KTTN. Tuy nhiên, cách nhìn này chưa phản ánh đúng tinh thần trong các văn kiện của Đảng cũng như thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta. 

Theo đó, Nghị quyết 79 xác định KTNN giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết, ổn định và dẫn dắt nền kinh tế. Vai trò này không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế thuần túy mà còn gắn với yêu cầu bảo đảm định hướng XHCN, giữ vững các cân đối lớn, kiểm soát những lĩnh vực then chốt có tính chiến lược của quốc gia. Như vậy, chủ đạo ở đây phải được hiểu là vai trò dẫn dắt vĩ mô, thể hiện ở khả năng chi phối các “điểm nút” quan trọng của nền kinh tế, qua đó tạo nền tảng và môi trường ổn định cho toàn bộ nền kinh tế vận hành hiệu quả.

Trong khi đó, Nghị quyết 68 nhấn mạnh KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, có vai trò thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế. Điều này phản ánh thực tế rằng khu vực KTTN, với tính linh hoạt, năng động và khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, chính là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất, khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội. Ở đây, động lực quan trọng nhất được hiểu là yếu tố có khả năng tạo ra xung lực phát triển mạnh mẽ, làm gia tăng tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Hai cách tiếp cận trên phản ánh hai phương diện khác nhau về bản chất nhưng gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể thống nhất của nền kinh tế. Một bên tạo ra “khung”, “trật tự” và “định hướng” cho nền kinh tế vận hành ổn định, bền vững; bên kia tạo ra “sức sống” và “xung lực” để nền kinh tế phát triển nhanh và hiệu quả. Hai yếu tố này không những không mâu thuẫn mà còn là điều kiện của nhau: Không có sự dẫn dắt, định hướng của KTNN thì động lực từ KTTN có thể phát triển lệch hướng, thiếu bền vững; ngược lại, nếu không có động lực mạnh mẽ từ KTTN thì vai trò chủ đạo của KTNN cũng khó được hiện thực hóa một cách hiệu quả trong thực tiễn. 

Nói cách khác, nếu KTNN là “trục định hướng” của nền kinh tế thì KTTN chính là “động cơ tăng trưởng”. Hai yếu tố không thể thay thế nhau, càng không thể triệt tiêu lẫn nhau và không thể tuyệt đối hóa vai trò của KTNN mà xem nhẹ vai trò động lực của KTTN, hoặc ngược lại, đề cao KTTN một cách cực đoan mà phủ nhận vai trò chủ đạo của KTNN dẫn đến sai lầm về mặt nhận thức đối với bản chất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Thể hiện rõ vai trò trong thực tiễn vận hành nền kinh tế

Theo tinh thần của Nghị quyết 79, vai trò chủ đạo của khu vực KTNN thể hiện rõ nhất ở việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt, chi phối các cân đối lớn và có ý nghĩa nền tảng của nền kinh tế như: Năng lượng, tài chính-ngân hàng, viễn thông và hạ tầng giao thông. Đây là những lĩnh vực có tác động lan tỏa mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Chẳng hạn, trong hệ thống tài chính-ngân hàng, các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối thị phần tín dụng và bảo đảm an toàn hệ thống. Trong lĩnh vực năng lượng, các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ lực trong sản xuất và cung ứng điện, xăng dầu, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Những yếu tố này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn mang tính chính trị-xã hội sâu sắc. 

Vai trò chủ đạo của KTNN còn thể hiện ở chức năng điều tiết vĩ mô. Chẳng hạn, trong giai đoạn 2021-2025, khi nền kinh tế chịu tác động của đại dịch Covid-19, tác động từ sự bất ổn về chính trị, xung đột vũ trang ở một số khu vực trên thế giới và những biến động kinh tế toàn cầu, với khả năng kiểm soát của mình, KTNN đã trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế, giúp nền kinh tế tránh được những cú sốc lớn từ bên ngoài, đồng thời bảo đảm các mục tiêu phát triển ổn định trong dài hạn.

Việc đẩy mạnh đầu tư công, phát triển kết cấu hạ tầng, hay các gói hỗ trợ kinh tế đều dựa trên nền tảng của KTNN. Riêng năm 2025, Chính phủ đã huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng trái phiếu để đầu tư vào các dự án hạ tầng lớn như đường sắt, đường bộ, sân bay, bến cảng, năng lượng, qua đó vừa kích thích tăng trưởng vừa tạo nền tảng dài hạn cho phát triển. Điều này cho thấy chỉ có KTNN mới đủ tiềm lực và khả năng dẫn dắt các chương trình đầu tư quy mô lớn, mang tính chiến lược.

Số liệu thực tiễn cho thấy, mặc dù tỷ trọng đóng góp trực tiếp của khu vực KTNN trong tổng sản phẩm nội địa (GDP) không chiếm đa số, song vẫn duy trì ở mức khoảng 20% trong giai đoạn gần đây. Điều này cho thấy rõ rằng vai trò chủ đạo không được đo bằng tỷ trọng tuyệt đối, mà bằng khả năng kiểm soát các “điểm nút chiến lược”, nắm giữ các “huyết mạch” của nền kinh tế, KTNN đã phát huy vai trò, chức năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế vận hành hiệu quả.

Ở chiều ngược lại, theo tinh thần Nghị quyết 68, vai trò của KTTN được thể hiện rõ qua các chỉ số định lượng trong các giai đoạn phát triển. Trước hết, xét về đóng góp vào GDP, giai đoạn 2021-2025, khu vực KTTN chiếm khoảng 50-51% GDP, vượt xa khu vực KTNN và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho vai trò trung tâm của khu vực tư nhân trong tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Không chỉ vậy, KTTN còn đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước, cho thấy vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn lực tài chính rất lớn cho Nhà nước. Đồng thời, khu vực này sử dụng khoảng 82-85% lực lượng lao động của cả nước, tương đương hơn 40 triệu người. Điều này khẳng định KTTN chính là khu vực giải quyết việc làm chủ yếu, góp phần quan trọng vào ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.

Về đầu tư xã hội, khu vực tư nhân chiếm khoảng 56-60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong những năm gần đây. Đây là nguồn lực rất lớn, thể hiện khả năng huy động vốn trong dân cư và doanh nghiệp, đồng thời phản ánh niềm tin của xã hội vào khu vực tư nhân. Đây là một trong những lý do quan trọng khiến KTTN được xác định là động lực quan trọng nhất.

Ngoài ra, KTTN có vai trò nổi bật trong hoạt động xuất, nhập khẩu, đóng góp khoảng 35% kim ngạch nhập khẩu và 25% kim ngạch xuất khẩu, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, khu vực này là lực lượng đi đầu trong đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao năng suất lao động. Những yếu tố này tạo ra “xung lực” phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế, giúp duy trì tốc độ tăng trưởng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Điểm đáng chú ý là khu vực KTTN hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (theo số liệu thống kê năm 2025, số lượng doanh nghiệp tư nhân là 940.000). Điều này cho thấy sự lan tỏa rộng khắp của khu vực này trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, thương mại đến dịch vụ. Chính sự lan tỏa này tạo ra hiệu ứng dây chuyền, thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, qua đó khẳng định vai trò động lực của KTTN không chỉ ở quy mô mà còn ở tính lan tỏa và khả năng kích thích toàn bộ nền kinh tế.

Từ những số liệu trên có thể rút ra nhận định mang tính bản chất: Nếu KTNN giữ vai trò chủ đạo thông qua việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt và điều tiết vĩ mô thì KTTN chính là lực lượng trực tiếp tạo ra tăng trưởng, việc làm và đổi mới sáng tạo. Một bên tạo “nền tảng và trật tự”, bên kia tạo “động lực và sức sống”. Hai vai trò này khác nhau về chức năng nhưng thống nhất trong mục tiêu chung là phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế. Đây chính là mối quan hệ biện chứng, bổ sung lẫn nhau, phản ánh đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.
QV-ST!

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ SỰ ĐỐI LẬP GIỮA KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ KINH TẾ NHÀ NƯỚC!

     Để phát huy các nguồn lực, tạo đột phá phát triển trong kỷ nguyên mới, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước (gọi tắt là Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79).

Ngay lập tức nhiều quan điểm chống phá, xuyên tạc cho rằng kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân hoàn toàn đối lập nhau; coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất đồng nghĩa với kinh tế nhà nước là thứ yếu, không còn vai trò chủ đạo? Trước hết cần khẳng định: Đảng không đặt các thành phần kinh tế vào quan hệ triệt tiêu lẫn nhau, mà xác lập chúng trong một chỉnh thể thống nhất, cùng phát triển vì mục tiêu chung. Việc nhận diện, vạch trần, đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, đối lập giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân là yêu cầu cấp thiết trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay.

Khi sự phát triển của tư duy kinh tế trở thành mục tiêu xuyên tạc

Qua bốn thập niên đổi mới, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời không ngừng phát triển tư duy lý luận kinh tế cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đó là quá trình vừa giữ vững nguyên tắc chiến lược, vừa linh hoạt trong phương thức tổ chức thực hiện nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Cần khẳng định rằng Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 không phải hai quyết định rời rạc, trái chiều nhau. Đó là biểu hiện sâu sắc của tư duy phát triển thống nhất trên cơ sở phát huy năng lực nội sinh của nền kinh tế theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIV xác định: “Phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”. Đó chính là định vị đúng vị trí của từng thành phần kinh tế, theo đó kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân dù có vai trò, tỷ trọng, mức đóng góp khác nhau trong tổng thể nền kinh tế, nhưng cùng hướng về một mục tiêu chung là phát triển đất nước nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đó cũng là sự nhất quán cả trong nhận thức, tư duy và thực tiễn lãnh đạo của Đảng, tuy nhiên nhiều luận điệu xuyên tạc tìm cách bẻ cong nhận thức. Trên các nền tảng mạng xã hội, trên nhiều diễn đàn núp bóng phân tích chính sách, không ít ý kiến cố tình đặt Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 ở hai cực đối lập không thể dung hợp nhau. Chúng lập luận rằng nếu xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất”, thì nhấn mạnh kinh tế nhà nước “chủ đạo” là “mâu thuẫn”; rằng Đảng đã không “nhất quán” ngay trong tư duy lãnh đạo và “lúng túng trong tư duy phát triển”; rằng Đảng “vừa muốn theo thị trường, vừa không dứt khỏi tư duy bao cấp”…

Thoạt nhìn luận điệu có vẻ như “phản biện chính sách” rất “thiện chí”; rất “công tâm”, rất “khoa học” nhưng bản chất bên trong chính là chúng cố tình tấn công vào nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng. Ở đây cũng không quá khó để nhận ra thủ đoạn dẫn dắt chính trị khá tinh vi: Cắt hai mệnh đề khỏi cùng một chỉnh thể đường lối, rồi dẫn dắt dư luận nhìn nhận chúng như hai lựa chọn loại trừ nhau. Đây chính là cách nhanh nhất, ngắn nhất để biến một chủ trương nhất quán thành “lỗi chính sách” nghiêm trọng cần khắc phục. Điều đó sẽ nhanh chóng dẫn tới mâu thuẫn trong cách nhìn, cách nghĩ của công chúng. Nguy hiểm ở chỗ nếu một chủ trương đúng nhưng bị cắt khúc, tách biệt, kéo lệch và lặp lại đủ nhiều cũng sẽ dẫn tới sự hoang mang, hoài nghi, dần dần len lỏi vào tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và người dân. Qua đó tác động tới sự đồng thuận trong nhận thức xã hội về những vấn đề kinh tế, chính trị của đất nước và hệ lụy là rất lớn nếu không đấu tranh, bác bỏ kịp thời.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, lâu nay thủ đoạn xuyên tạc quen thuộc của các thế lực thù địch vẫn cố tình “đối lập hóa” nhiều vấn đề kinh tế, chính trị của đất nước, nhất là các nghị quyết, các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước để tạo mâu thuẫn, xáo trộn trong tư tưởng, nhận thức của xã hội. Tuy nhiên, đối với Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79, thủ đoạn này không còn “thô ráp” như trước, mà được bọc trong lớp ngôn ngữ có vẻ “khách quan” như: Phản biện; kiến nghị chính sách; so sánh, phân tích; góp ý cải cách... để tạo cảm giác rất “chân thành”, “cầu thị”, “vì dân” nhưng thực chất là để che đậy tinh vi dụng ý chính trị thâm sâu bên trong của các thế lực thù địch.

Thủ đoạn “ru ngủ” này dễ dẫn dắt người đọc, người nghe, người xem tới sự tò mò trong nhận thức, dần dần tới hoài nghi, mâu thuẫn nếu không đủ tỉnh táo để nhận ra trước khi quá muộn. Nói tới Nghị quyết 79, chúng bám vào cụm “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, rồi gán ghép rằng đó là “tư duy bao cấp kéo dài”, “ưu ái doanh nghiệp nhà nước”, thậm chí “đi ngược quy luật thị trường”. Nói tới Nghị quyết 68, chúng thổi phồng cụm “một động lực quan trọng nhất”, suy diễn rằng Đảng đã “thừa nhận vai trò quyết định của kinh tế tư nhân”, rồi ngụy biện: Nếu kinh tế tư nhân đã là động lực lớn, thì kinh tế nhà nước còn “chủ đạo” để làm gì? Ở đây điểm đánh tráo nằm ở chỗ chúng cố biến hai khái niệm khác nhau về vai trò, chức năng thành hai lựa chọn đối nghịch, loại trừ nhau. “Chủ đạo” bị kéo thành “bao trùm, lấn át”. “Động lực” bị kéo thành “thay thế, chi phối”.

Quan hệ đúng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân là quan hệ bổ trợ, phân công và cộng hưởng, một bên giữ nền, bảo đảm các cân đối lớn; bên kia phát huy sức bật thị trường, giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Chúng khác nhau về chức năng, vai trò nhưng không đối lập, loại trừ hay buộc phải lựa chọn giữa có và không. Đại hội XIV đã xác định rất rõ: “Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”. Như vậy, quan điểm của Đảng đã rất rõ ràng, nhất quán, không hề mâu thuẫn trong định vị vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và đặt chúng trong một tổng thể có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau cùng hướng tới mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Một chủ trương kinh tế đúng không phải vì nó làm mạnh riêng một khu vực kinh tế nào, mà vì nó làm đất nước phát triển hơn, nhân dân hưởng lợi nhiều hơn, xã hội ổn định, văn minh hơn, tạo sự đồng thuận lớn hơn trong quần chúng nhân dân. Mọi thủ đoạn cố ý đẩy kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân sang hai thái cực đối lập về thực chất là cố tình phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, đi ngược lại lợi ích thiết thực của nhân dân và cơ hội phát triển hùng cường của dân tộc trong kỷ nguyên mới. 

Kinh tế nhà nước - vai trò chủ đạo không thể bị làm lệch nghĩa

Trước hết cần khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không phải là sự tiếp tục cơ chế quản lý tập trung bao cấp trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, càng không phải ôm đồm, bao sân, lấn át hoặc làm suy giảm vai trò của các thành phần kinh tế khác, nhất là kinh tế tư nhân. Cốt lõi của vai trò chủ đạo là phải bảo đảm sử dụng các nguồn lực kinh tế hiệu quả nhất để thực hiện các chức năng điều tiết, ổn định vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, thực hiện vai trò định hướng chiến lược, giữ vững quốc phòng, an ninh đất nước. Kinh tế nhà nước chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực hạ tầng chiến lược và các ngành kinh tế có tính chất nền tảng như năng lượng, dầu khí, tài chính - ngân hàng, viễn thông, hạ tầng số, logistics hoặc những lĩnh vực gắn với quốc phòng - an ninh… Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước cũng là một thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Do vậy, các nguồn lực kinh tế nhà nước nắm giữ không thể phân bổ, sử dụng tùy tiện, ngược lại phải dựa trên tín hiệu thị trường để tính toán hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí nguồn lực.

Kinh tế tư nhân - động lực quan trọng nhất, không phải lực lượng đối lập

Xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” không có nghĩa trao cho khu vực này vai trò thay thế kinh tế nhà nước. Vai trò động lực quan trọng nhất không đồng nghĩa với chi phối kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, càng không phải là lực lượng kinh tế đối lập. Nếu kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng ở những lĩnh vực trọng yếu, cốt lõi, thì kinh tế tư nhân sẽ là nơi thể hiện rõ nhất sức sống của thị trường, khả năng cạnh tranh, tính thích ứng nhanh với đổi mới công nghệ và cải thiện năng suất lao động. Nghị quyết 68 vì thế là kết quả của một quá trình tổng kết thực tiễn đủ dài để đi đến thống nhất nhận thức: “Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài”.

Thực tiễn cũng cho thấy vai trò và đóng góp to lớn của kinh tế tư nhân cho sự phát triển kinh tế, xã hội: “Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế”. Những con số biết nói đó cho thấy kinh tế tư nhân là nguồn lực rất quan trọng của nền kinh tế, sự phát triển của nó không đe dọa hoặc suy yếu vai trò kinh tế nhà nước mà ngược lại. Khi kinh tế tư nhân được tự do phát triển trong những lĩnh vực pháp luật không cấm sẽ phát huy được vai trò động lực cho phát triển kinh tế, xã hội, sẽ là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đóng góp to lớn trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường, thịnh vượng.

Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 không phải hai văn bản tách rời, càng không phải hai hướng đi đối lập, loại trừ nhau. Mà là hai bộ phận hữu cơ trong tổng thể đường lối phát triển kinh tế của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong tổng thể đó, kinh tế nhà nước phải đủ mạnh để giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tư nhân phải được giải phóng sức sản xuất để trở thành một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, đổi mới sáng tạo. Mọi thủ đoạn xuyên tạc, chống phá, đối lập giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân cần được vạch trần, bác bỏ./.
QV-ST!

THẤM NHUẦN GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN MINH CỦA ĐẢNG ĐỂ PHÒNG NGỪA SUY THOÁI

     Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã làm từ nhiều năm nay góp phần ngăn chặn, đẩy lùi được một phần sự suy thoái ở một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên làm giảm uy tín của Đảng. Trong hoàn cảnh mới, để hoàn thành trọng trách trước đất nước, nhân dân để xứng đáng đảng cầm quyền thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì Đảng phải tự vượt lên mình để củng cố và hoàn thiện tấm gương văn hóa soi rọi con đường phát triển cho toàn dân tộc.

1. Câu “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ở Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 với tư cách là Chủ tịch Đảng. Nhắc lại thời điểm ra đời của câu nói này để nhận thức sâu hơn tư tưởng của Hồ Chí Minh về một Đảng cầm quyền đang lãnh trách nhiệm to lớn trước đất nước. Trong hoàn cảnh thời đó, nguy cơ về sự tha hóa quyền lực và những biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, đảng viên chưa lớn (tha hóa đạo đức, quyền lực, tư tưởng chính trị, lối sống...) nhưng trong các bài viết khác nhau của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những năm trước và cả sau thời điểm này, Người đã nhấn mạnh đến vai trò gương mẫu, hành vi nêu gương của đảng viên, đạo đức cách mạng, về mục tiêu tối thượng của Đảng...

Trong những lời cuối cùng trước khi từ biệt thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự lo lắng đầu tiên “nói về Đảng”-một đảng cầm quyền, về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về tinh thần đoàn kết để xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ của nhân dân. Điều đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn ở Đảng không chỉ ở chỗ Đảng đã nắm quyền lãnh đạo mà điều quan trọng hơn là quyền lực đạo đức, quyền lực uy tín, quyền lực của sự tín nhiệm và sự gắn bó với nhân dân mới là quan trọng nhất của một tổ chức chính trị. Đó là nền tảng lâu bền nhất với một đảng cầm quyền. Chưa biết cụ thể khi nào cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn về lâu dài, Đảng cần có kế hoạch “nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” (Di chúc).

Nhắc lại thế để khẳng định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tới đạo đức và văn minh của Đảng không chỉ từ yêu cầu đạo đức của một đảng cầm quyền, mà còn nói tới sự văn minh của cách cầm quyền không đơn giản chỉ là một đảng chính trị mà ở sự gắn bó máu thịt với đất nước, nhân dân, ở mục tiêu duy nhất phấn đấu vì nhân dân, dân tộc. Đây là cốt lõi của vấn đề, là cái gốc tạo nên sự bền vững của quyền lực Đảng. Quyền lực ấy không vì mục đích tự thân mà để phụng sự đất nước.

2. Từ thực tiễn hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự phân biệt rõ ràng giữa đảng cộng sản cầm quyền với các đảng phái chính trị khác ở mấy khía cạnh: Đảng cộng sản tuy nắm quyền lãnh đạo nhưng không phải là một “đảng cai trị” như các đảng phái chính trị khác, không phải là một tổ chức quyền lực dù được luật pháp bảo trợ, càng không phải là một nhóm lợi ích mà là một lực lượng lãnh đạo chịu trách nhiệm về mọi vấn đề của đất nước trước Tổ quốc và nhân dân.

Các đảng phái chính trị khác trong các tuyên ngôn của mình cũng nói tới họ phụng sự nhân dân, đất nước, nhưng cần phân biệt ở cái gốc, ở đây là: Đảng ấy vì ai mà tồn tại, hành động nhằm mục đích gì, đại diện cho ai? Trách nhiệm và đạo đức của Đảng ở chỗ là bộ tham mưu, là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng, là lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của nhân dân, đất nước, là ý Đảng luôn hòa với lòng dân, được nhân dân yêu mến và ủng hộ từ tư tưởng chính trị, đường hướng hoạt động đến những tổ chức và con người cụ thể trong quan hệ với dân.

Một đảng hay tổ chức chính trị có thể giành được chính quyền bằng luật pháp, nhưng sự cầm quyền ấy có được ủng hộ lâu dài hay không lại là chuyện khác. Cách dùng từ “Đảng ta” không chỉ có các thành viên của Đảng mới dùng mà nhân dân nói chung, người ngoài Đảng cũng nói không phải như một thói quen mà nói lên sự gắn bó và tin yêu Đảng, nói về uy tín của Đảng trong xã hội.

3. Trong hoàn cảnh hiện nay, mệnh đề “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” được nhắc lại gắn với yêu cầu đổi mới sâu sắc, toàn diện để đất nước Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là việc nhắc lại một mệnh đề cũ mà phải đặt nó trong một bối cảnh xã hội khác trước, khi Đảng đã có kinh nghiệm lãnh đạo đất nước hơn 80 năm, đã trải qua nhiều kinh nghiệm, thành công về nhiều mặt và cả chưa thành công trên một số mặt, khi hoàn cảnh xã hội đã đặt ra cả những thuận lợi và những thách thức khác trước. Ở đây có vấn đề cần nhìn lại, nhận thức đúng thế và lực đã có, cần tạo ra sinh lực mới cho sự phát triển. Mục tiêu vào năm thứ 100 (tức năm 2045), kinh tế nước nhà là một trong những nền kinh tế hàng đầu, đất nước hiện đại, nhân dân hạnh phúc.

Mục tiêu ấy đặt ra trách nhiệm vô cùng lớn cho Đảng. Với tư cách là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của đất nước gần một thế kỷ qua, không thể không thừa nhận những chiến công huy hoàng, nhưng cũng không thể không nhận thấy một số khuyết tật, yếu kém của hệ thống mà Đảng phải chịu trách nhiệm chính. Sự suy thoái ở cả tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận của Đảng (tổ chức, cá nhân, đại diện...), tình trạng tham nhũng, lối sống xa dân, hưởng thụ, mất ý chí chiến đấu... như virus tàn phá cơ thể Đảng. 

Đảng đã chỉ ra căn nguyên của các bệnh lạm dụng quyền lực, thiếu kiểm soát quyền lực, suy thoái tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức, xa dân, nói không đi đôi với làm, thiếu gương mẫu khi thực thi công vụ và đời sống cá nhân xa hoa thì Đảng sẽ tìm ra những giải pháp mang tính đột phá để xử lý. Đó là con đường duy nhất để lấy lại vị thế, lòng tin với nhân dân. Không phải trở lại với những điều tốt đẹp như trước đây mà còn phải mới hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn vì thời đại mới đòi hỏi những yêu cầu, tiêu chuẩn mới.

Ba vấn đề lớn nhất, dễ gây ra những sai lầm nhất của Đảng cầm quyền nếu làm không tốt là ở đạo đức chính trị, văn hóa chính trị và quan hệ với nhân dân. Dễ nhận thấy nhất ở những tổ chức và cá nhân vi phạm kỷ luật, phạm pháp những năm qua là vấn đề kiểm soát quyền lực không thực sự chặt chẽ, quyết liệt, nghiêm minh. Có cán bộ và tổ chức có quyền lực đã lạm dụng quyền lực để thao túng các quan hệ xã hội vì lợi ích cá nhân và phe nhóm. Văn minh chính trị, văn minh quyền lực chưa được xây dựng thành những cơ chế giám sát hiệu quả, còn nặng về hô hào, khích lệ. Nhiều tổ chức và cá nhân tự cho mình quyền đứng cao hơn luật pháp, đồng nhất tổ chức và cá nhân họ là pháp luật. Họ ban phát đúng sai, nhân danh chân lý trong nhiều vấn đề xã hội và chuyên môn sâu. Nhiều vấn đề không tường minh. Nhiều chính sách bị điều chỉnh không theo nguyên tắc, quy định, pháp luật, không vì lợi ích đất nước, nhân dân. Phần lớn các quyết định của Đảng khi kỷ luật tổ chức, cá nhân thường có nội dung “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ”, “làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của tổ chức và cá nhân” chứng tỏ tổ chức, địa phương ấy đã đứng ngoài, đứng trên pháp luật, không minh bạch trách nhiệm, bao che cho nhau tạo nên một “tổ hợp” quyền lực để dễ bề thao túng. Nhiều cấp ủy cấp tỉnh như Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Bắc Ninh... và Bình Dương, Vĩnh Phúc (trước đây)... thời gian qua là những bằng chứng về sự vi phạm này.

Nhiều người hay nói xử lý tham nhũng không có vùng cấm, nhưng cơ chế để che giấu, kết bè cánh vi phạm, lũng đoạn chính quyền, sự bắt tay giữa cơ quan quyền lực với các doanh nghiệp thời gian qua đã gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế, xâm phạm quyền lợi của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức chính trị, uy tín của Đảng, lòng tin của nhân dân. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiện nay thực chất là một trong những giải pháp căn cơ để khôi phục tính chính danh và tính chất đạo đức, văn minh của Đảng.

4. Một trong những nội dung quan trọng của đạo đức và văn minh của Đảng chính là văn hóa chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh lợi ích của giai cấp, dân tộc là lợi ích của Đảng. Thời kỳ vận mệnh quốc gia như "chỉ mành treo chuông", Người đã nêu vấn đề “Tổ quốc trên hết” như tư tưởng bao trùm, nguyên tắc nền tảng của văn hóa chính trị. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên tất cả nên Đảng đã nhân lên sức mạnh và trở thành tổ chức chính trị được nhân dân tin cậy, yêu mến và ủng hộ. Đảng không đứng trên pháp luật dù cầm quyền, đảng lãnh đạo bằng pháp luật chứ không bằng mệnh lệnh, càng không vì đặc quyền và từ đặc quyền. Tinh thần thượng tôn pháp luật và nêu gương của các thành viên của Đảng đem lại uy tín cho Đảng. Trong suốt sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, có thành công, có thất bại, có đúng, có sai lầm, khuyết điểm, Đảng đã nhận những khuyết điểm của mình và khắc phục những sai lầm, khuyết điểm công khai. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”. Soi vào thực tiễn thì đây là một bài học lớn sâu sắc về văn minh chính trị.

Đảng là một tổ chức chính trị nhưng có các thành viên giữ những cương vị lãnh đạo chủ chốt từ cấp cao nhất xuống cơ sở. Các cá nhân ấy như những biểu tượng của Đảng. Họ thực hiện tốt trách nhiệm của mình thì đạo đức và văn minh của Đảng được đề cao. Trong quan hệ với nhân dân, họ là biểu tượng cho tổ chức. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những lãnh tụ của Đảng rất mẫu mực, dù làm gì, đến thăm ai, đi đâu cũng được nhân dân quý mến, kính trọng. Nhân dân tin yêu lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng vì họ nhìn thấy sự gắn bó máu thịt giữa cán bộ cấp cao với nhân dân, thấy mọi việc người lãnh đạo làm đều vì nhân dân, đất nước.

Lắng nghe dân, biết dân cần gì thì tìm cách đáp ứng bởi với mỗi người, mỗi tổ chức đều thấm nhuần tư tưởng điều gì có lợi cho dân thì gắng sức làm, điều gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Đạo đức và văn minh của Đảng là ở đó, hiện hữu rất cụ thể vì họ thực sự vì nước, vì dân cả trong tình cảm lẫn hành động. Trong giai đoạn mới của đất nước, trách nhiệm của Đảng với việc củng cố, tăng cường tinh thần đạo đức và văn minh càng phải được đề cao bởi những trọng trách và kỳ vọng nhân dân đặt vào Đảng.

Lâu nay, trong nhận thức, từ cơ sở đến Trung ương, thường chỉ tồn tại quan niệm lãnh đạo nhân dân mà không thấy rằng trong lãnh đạo cũng cần học dân. Nhiều ví dụ cụ thể chứng minh rằng trong kinh tế, khoa học, tổ chức đời sống..., người dân có những sáng kiến mang tính đột phá. Thực tế cho thấy, có nhiều doanh nghiệp tư nhân quản lý và tổ chức sản xuất thành công hơn một số doanh nghiệp nhà nước. Nhiều nhà khoa học có những phát minh, sáng chế hơn hẳn một số cơ sở nghiên cứu do Nhà nước lập ra, điều hành. Học nhân dân để vì nhân dân cũng là một biểu hiện đạo đức, văn minh của văn hóa chính trị. Nhân dân kỳ vọng đất nước vươn mình vào kỷ nguyên mới vì có Đảng biết vượt lên chính mình để cống hiến cho đất nước, nhân dân./.
QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: TRÁCH NHIỆM PHẢI LÀM, SAO LẠI BAN ƠN?

     Một trong những việc khiến nhiều người dân bất bình và các thế lực thù địch, đối tượng bất mãn lợi dụng chống phá là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thiếu tinh thần phục vụ nhân dân; nhất là “biến” những việc thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm mình phải làm thành quyền “ban phát” cho người dân, doanh nghiệp và cấp dưới, buộc đối tượng lẽ ra được phục vụ phải mang ơn, thậm chí phải hối lộ, “bôi trơn”...

Chuyện khiến nhiều người dân va vấp và bức xúc nhất có lẽ là việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) lần đầu, vì hầu như hộ dân nào cũng phải làm sổ đỏ. Trách nhiệm giải quyết việc này thuộc chính quyền địa phương, trực tiếp là cán bộ địa chính phải hướng dẫn người dân làm các thủ tục cần thiết, kiểm tra đủ điều kiện để cấp sổ đỏ thì trình cấp có thẩm quyền ký duyệt; nếu không đủ điều kiện phải thông báo rõ lý do và hướng dẫn người dân cần phải làm gì tiếp theo.

Thế nhưng thực tế nhiều trường hợp phải chạy vạy, nhờ vả, phải thông qua “cò”, tốn nhiều tiền thì mới được cấp sổ đỏ-dù đó là quyền lợi hợp pháp của công dân, cơ quan chức năng phải có trách nhiệm thực hiện. Đặc biệt, có trường hợp người dân không khỏi thắc mắc, bức xúc khi thấy mảnh đất gần nhà mình có nguồn gốc tương tự, thậm chí là đất lấn chiếm, đất nông nghiệp... lại nhanh được cấp sổ đỏ (!)

Còn nhiều việc khác bị không ít cán bộ, công chức, viên chức “biến” từ nghĩa vụ, trách nhiệm phải làm thành sự “ban phát” cho người dân, doanh nghiệp, như: Giải quyết các thủ tục hành chính; cung cấp những thông tin theo quy định (thông tin quy hoạch, các chính sách, hướng dẫn...); các tập thể, cá nhân đề nghị huân chương hoặc hình thức khen thưởng khác; cấp các loại giấy phép; đăng ký kinh doanh, sản phẩm... Ví dụ điển hình là vừa qua, một số cán bộ Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã bị xử lý vì đặt ra “cơ chế ngầm”, mỗi hồ sơ của doanh nghiệp phải nộp vài triệu đồng mới được ký duyệt, nếu không sẽ bị trả lại không rõ lý do. Việc cán bộ, nhân viên các cơ quan chức năng cố tình đặt ra cơ chế “xin-cho”, “gây khó để có... phong bì” đã tạo nên nạn “tham nhũng vặt” khiến nhân dân rất bất bình, các thế lực thù địch có cớ chống phá, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Ngoài ra, trong giải quyết công việc của một số cơ quan, tổ chức cũng có tình trạng cấp trên “hành” cấp dưới, biến những việc thuộc trách nhiệm của mình thành “ban ơn”. Ví dụ như trong việc cấp kinh phí và trang thiết bị thuộc tài sản công, điều động, bổ nhiệm, nâng lương, khen thưởng, mượn nhà công vụ hay thuê, mua nhà ở xã hội... Những việc này theo quy định thì cấp trên phải làm trên cơ sở xem xét khách quan, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho cấp dưới; nhưng không hiếm cán bộ tự cho mình có quyền ưu tiên, thiên vị hoặc gây khó, tạo tình huống xin-cho, thậm chí còn chỉ đạo cấp dưới làm không đúng quy định để “đặc cách” người nhờ vả mình, hình thành lệ xấu chạy chọt, xin xỏ. Hệ lụy là những người ngay thẳng, không quỵ lụy "đi cửa sau" thì thiệt thòi, nảy sinh tư tưởng chán nản, bất mãn, nội bộ mất đoàn kết.

Tư tưởng “ban phát” làm cho nhiều cán bộ mặc nhiên coi những người được mình “ban ơn” phải mang ơn và trả ơn; nếu không thì sẽ bị quy chụp là vô ơn, không biết điều, thậm chí bị rêu rao là “ăn cháo đá bát”. Thói xấu này làm cho cấp dưới bức xúc vì thực tế họ có đủ tiêu chuẩn được nhận những quyền lợi hợp pháp do tập thể thống nhất đề nghị chứ không cần cấp trên “ban ơn”, tạo điều kiện.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Kiên quyết xóa bỏ cơ chế "xin-cho", giảm tối đa thủ tục hành chính... Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh... Đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: Phải tăng cường kiểm soát quyền lực, không để người dân phải xin những gì lẽ ra được hưởng. Mô hình quản trị quốc gia phải dựa trên pháp luật minh bạch, dữ liệu tin cậy, hạ tầng số hiện đại, bộ máy tinh gọn, cán bộ liêm chính, kỷ cương đi đôi với phục vụ. Đó mới là quản trị kiến tạo phát triển, không phải quản trị xin-cho.

Như vậy, Đảng, Nhà nước ta đã xác định rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân; phải quan tâm chăm lo, bảo đảm những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo phẩm chất, năng lực, hiệu quả công việc của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Quan điểm này được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ.

Tuy nhiên, trước thực tế một bộ phận cán bộ, nhân viên các cơ quan công quyền vẫn cố tình phớt lờ bổn phận, trách nhiệm, gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân, Đảng, Nhà nước cần có biện pháp xử lý dứt điểm, kiên quyết không để “con sâu làm rầu nồi canh”, gây ảnh hưởng xấu tới kỷ cương, phép nước và đặc biệt là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trong giai đoạn cách mạng mới, với sự chống phá ngày càng quyết liệt, tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, chúng ta càng phải chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, càng phải tăng cường kỷ luật thực thi công vụ để thể hiện rõ tinh thần vì nhân dân phục vụ. Kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng những vụ việc cán bộ, công chức tiêu cực, “hành dân” để thổi phồng, suy diễn, quy chụp Đảng, Nhà nước ta “nói hay, làm dở”, “nói một đằng, làm một nẻo” hòng thực hiện mưu đồ nham hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động tâm lý bất mãn, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ là đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận mà quan trọng nhất là phải bắt đầu từ những việc cụ thể trong thực thi công vụ hằng ngày. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải nhận thức rõ: Phục vụ nhân dân là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình chứ không phải sự ban phát; không thể biến trách nhiệm, việc phải làm thành đặc quyền cho hay không cho, khiến người dân, doanh nghiệp và cấp dưới phải xin xỏ, nhờ vả và chạy chọt, từ đó nảy sinh tư tưởng bất mãn, bức xúc, mất niềm tin./.
QV-ST!

“BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA” LÀ QUAN ĐIỂM KHOA HỌC CỦA ĐẢNG!

     Quan điểm “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” được hình thành, đúc kết trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và đã trở thành tư tưởng nhất quán, xuyên suốt, là thượng sách giữ nước trong mọi thời đại. Tuy nhiên, có ý kiến bình luận rằng, đây chỉ là "nỗi lo hão huyền, không có cơ sở thực tế". Phía sau cách lập luận này là âm mưu xuyên tạc, chống phá Đảng nên cần phải vạch trần, bác bỏ bằng các luận cứ khoa học và thực tiễn.

Với tư duy lý luận nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa, vận dụng sáng tạo, phát triển kế sách giữ nước của ông cha ta thành quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong Chiến lược quốc phòng Việt Nam, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và chính thức được đưa vào Văn kiện Đại hội XIII và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Quan điểm, phương châm này đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân và các nhà nghiên cứu chiến lược trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, trên một số diễn đàn, trang mạng hải ngoại, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là "nỗi lo hão huyền, không có cơ sở thực tế; làm lãng phí tài nguyên quốc gia, khi mà các nguồn lực này có thể được sử dụng cho phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo”. Mục đích sâu xa của họ nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước nói chung và sức mạnh quốc phòng của Việt Nam nói riêng, từ đó lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực.

Để làm sáng tỏ tính chân lý trong quan điểm chỉ đạo, phương châm chỉ đạo của Đảng và phản bác những luận điệu sai trái này, cần dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thứ nhất, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” là sự kế thừa kinh nghiệm quý báu trong truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trước hiểm họa ngoại xâm, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm khẳng định “chủ quyền bất khả xâm phạm”, hình thành tư tưởng “dựng nước đi đôi với giữ nước”, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Chân lý đó đã trở thành một trong những truyền thống quý báu của dân tộc, đồng thời là một quy luật nội tại của quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong mọi điều kiện hoàn cảnh, các triều đại tiến bộ luôn hướng đến mục tiêu “Quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”, xây dựng đất nước giàu về kinh tế, mạnh về quân sự, giữ mối quan hệ bang giao hòa hảo và bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc. Để thực hiện được mục tiêu đó, các vương triều đã ban hành nhiều chính sách hợp lòng dân như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, “tận dân vi binh”, “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân”, “bách tính giai vi binh”... kết hợp các đối sách ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt, không chấp nhận những điều kiện bất lợi cho quốc gia, dân tộc.

Thực tiễn lịch sử dân tộc đã chứng minh, thời đại, triều đại nào biết chăm lo cho dân, yên dân, vua tôi đồng lòng, luôn chủ động phòng bị giữ nước thì quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, kẻ thù ngoại bang không dám nhòm ngó, xâm phạm; ngược lại, nội bộ mất đoàn kết, lòng dân ly tán, chủ quan, lơ là việc giữ nước từ lúc chưa nguy, thì giang sơn xã tắc sẽ rơi vào loạn lạc, dân chúng nghèo đói, nguy cơ bị ngoại bang thôn tính, xâm lược trở nên hiện hữu.

Thứ hai, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” là sự kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta.

Các nhà kinh điển mác xít, đặc biệt là V.I.Lênin-lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, đã đặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi, Lênin nhấn mạnh: Giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền càng khó hơn, vì giai cấp bóc lột, các lực lượng thù địch với giai cấp công nhân không bao giờ tự nguyện rút khỏi vũ đài lịch sử; chúng sẽ tìm mọi cách, điên cuồng phản kích để khôi phục lại “thiên đường” đã bị mất. Vì vậy, Lênin yêu cầu cấp thiết: “Một khi chúng ta bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết thì chúng ta phải đem hết sức mình để tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời, hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của chúng ta như chăm lo con ngươi của mắt mình”.

Thấm nhuần quan điểm của Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được”, “sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”; đồng thời, Người khẳng định quyết tâm: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.

Quán triệt, vận dụng sáng tạo truyền thống giữ nước của dân tộc và quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã từng bước hình thành, bổ sung, phát triển lý luận về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa phù hợp với tình hình thực tiễn trong từng giai đoạn lịch sử.

Thứ ba, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” xuất phát từ vị trí địa chính trị của nước ta và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Việt Nam là quốc gia nằm ở vị trí địa lý quan trọng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương; là cầu nối trên đất liền giữa phần lớn nhất của lục địa Á-Âu với khu vực Đông Nam Á. Điều kiện địa lý tự nhiên đã khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có vị trí địa chính trị quan trọng bậc nhất trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng chính là một trong những đáp án để lý giải vì sao lịch sử dân tộc Việt Nam được ví như những "trang binh sử", luôn phải đối đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của nhiều nước sừng sỏ trên thế giới; lý giải vì sao Việt Nam luôn là tâm điểm tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc và các tổ chức liên minh lớn trên thế giới.

Trong khi đó, nhiều thập kỷ qua và hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kết hợp bạo loạn lật đổ và tạo cớ để sẵn sàng phát động chiến tranh xâm lược. Âm mưu, thủ đoạn của chúng đối với Việt Nam là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo khác.

Để kịp thời đối phó với sự thay đổi trong chiến lược, phương thức chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch đòi hỏi Đảng ta phải thường xuyên đổi mới tư duy về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” phù hợp với từng giai đoạn và phải được thực hiện một cách chủ động, tích cực nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu, hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh.

Thứ tư, “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” xuất phát từ thực tiễn cách mạng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, ngay trong Chánh cương vắn tắt-Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định rõ mục tiêu của cách mạng: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”; chủ động đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận định: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch”. Đúng như dự báo, tiếp sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã tích cực, chủ động chuẩn bị để chiến đấu và giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và sau đó là bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, từ Đại hội VI đến Đại hội XIV, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng luôn xác định phải nâng cao cảnh giác. Trong Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về Chiến lược quốc phòng Việt Nam, lần đầu tiên cụm từ “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” chính thức được sử dụng. Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới tiếp tục xác định: “Bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; chủ động phòng ngừa; ngăn chặn nguy cơ xung đột, chiến tranh, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

Từ những cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn nêu trên, có thể thấy luận điệu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền” thực chất là sự hướng lái những người hiểu biết hạn chế, thiếu bản lĩnh chính trị, nhẹ dạ cả tin nên đã ngộ nhận, ảo tưởng, chủ quan, không thấy được những nguy cơ, thách thức đe dọa đến vận mệnh của Tổ quốc, sự tồn vong của chế độ; không nhận diện rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là bác bỏ nội dung quan trọng trong nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong kỷ nguyên mới, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó cần tập trung nâng cao chất lượng công tác xây dựng, bảo vệ Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội kết hợp chặt chẽ với tăng cường quốc phòng, an ninh, giải quyết tốt các vấn đề xã hội; củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao; triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy sức mạnh tổng hợp cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Quán triệt và thực hiện hiệu quả quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” của Đảng ta sẽ trực tiếp góp phần tạo thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước để ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải nguy cơ, xử lý thắng lợi các tình huống, luôn bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
QV-ST!