Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

KHÔNG THỂ SO BÌ TIỀN LƯƠNG CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VỚI CÁC NGÀNH KHÁC


Vừa qua trên một số diễn đàn và mạng xã hội đang xuất hiện một số ý kiến so bì tiền lương của ngành công an, quân đội với các ngành khác hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Xuất phát từ việc không nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam và về tính chất, đặc thù hoạt động quân sự gắn với tình hình đất nước và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc ngày càng cao, những ý kiến đó đưa ra lập luận, so sánh mức lương của sĩ quan quân đội và các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực quân sự với thu nhập của cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị nói chung. Đáng buồn là từ những ý kiến chưa toàn diện ấy, một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin nên đã “a dua”, “cổ xúy”, “thêu dệt”… thông qua các trang mạng xã hội và tin đồn xã hội, tạo nên những luồng thông tin khó phân biệt đúng sai, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tâm lý xã hội. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm của những người đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Thực tế cho thấy, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, dù trong điều kiện thời bình nhưng vẫn có không ít cán bộ, chiến sĩ quân đội anh dũng hy sinh vì chủ quyền Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân, trở thành những tấm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng giai đoạn mới, được xã hội và quần chúng tôn vinh, trân quý. Tại Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ X vừa diễn ra thành công tốt đẹp, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đã vinh danh hàng trăm điển hình tiên tiến, những tập thể, cá nhân ngày đêm cần mẫn hy sinh cho lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đó là hình ảnh, những con người hành quân vào vùng bão lũ cứu dân; đi ngược dòng người “tránh” đại dịch CoVid-19, đến với biên cương chốt chặn, đẩy lùi dịch bệnh. Đó là những cán bộ, chiến sĩ chắc tay súng, ngày đêm bảo vệ vùng biển, vùng trời; những người phải chịu thương tật, thậm chí hy sinh khi đấu tranh với tội phạm, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân và nền hòa bình cho đất nước, khu vực. Như vậy, “đánh đồng” tính chất hoạt động quân sự với hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ, công chức trên lĩnh vực dân sự là một cách tư duy hoàn toàn không đúng với thực tế, cần phải được khắc phục triệt để. Thay vào đó, cần phải thống nhất nhận thức từ Trung ương đến địa phương, từ cán bộ đến quần chúng về đặc thù hoạt động quân sự; cần thấu hiểu, chia sẻ và sớm có thêm những chủ trương, giải pháp mới, đồng bộ, cùng với những hành động thiết thực của toàn xã hội nhằm giúp đỡ, hỗ trợ tốt hơn cho cán bộ, chiến sĩ đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; kịp thời động viên, quan tâm hơn nữa đến tư tưởng, tình cảm, đời sống vật chất của cán bộ, chiến sĩ.
Ngay tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, Đại biểu Thành phố Đà Nẵng cũng đã phản ánh kiến nghị của cử tri, về vấn đề chế độ tiền lương của ngành công an, quân đội có sự chênh lệch khá lớn so với các ngành khác hưởng lương từ ngân sách; trong khi tuổi nghỉ hưu ở 2 ngành này sớm hơn các ngành khác 5 năm và cho rằng, chênh lệch lương quá lớn không đảm bảo sự công bằng, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ thâm hụt quỹ bảo hiểm xã hội. Do đó, cử tri Thành phố Đà Nẵng đề nghị Chính phủ nghiên cứu lại vấn đề này. Phản ứng lại ý kiến này, ngay trên nghị trường Quốc hội, nhiều đại biểu đã phân tích rõ đặc thù hoạt động 24/24 giờ của cán bộ, chiến sĩ quân đội; với tính chất, cường độ ác liệt, khó khăn, thử thách con người trên nhiều phương diện; đòi hỏi sự đánh đổi không chỉ bằng mồ hôi mà còn bằng máu của cán bộ, chiến sĩ. Các ý kiến đều thống nhất cho rằng, lương của sĩ quan quân đội chỉ là nguồn thu nhập duy nhất và mức lương ấy cũng còn quá thấp so với lương sĩ quan quân đội các nước trên thế giới, chỉ bảo đảm mức sống trung bình so với đời sống xã hội Việt Nam hiện tại.
Trả lời kiến nghị trên của cử tri Thành phố Đà Nẵng, Bộ Nội vụ cho biết, lực lượng vũ trang (quân đội, công an) là ngành lao động đặc biệt, yêu cầu phải thường xuyên tập trung làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, cứu hộ, cứu nạn, thảm họa thiên tai và cho rằng, mức lương lực lượng vũ trang được hưởng là phù hợp với điều kiện làm việc. Đây là lực lượng phải đóng quân trên các địa bàn khó khăn, phần lớn xa gia đình, sống và sinh hoạt tập thể trong doanh trại. Lực lượng vũ trang phải tiếp xúc với môi trường độc hại, vũ khí, khí tài quân sự, đối diện hiểm nguy. Lực lượng vũ trang cũng phải “tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên”. Trong những trường hợp cần thiết, mệnh lệnh cấp trên chính là mệnh lệnh của quốc gia, dân tộc; mọi quân nhân, công an nhân dân có nghĩa vụ thực thi với trách nhiệm cao nhất, không kể ngày đêm, kể cả hy sinh tính mạng. Bộ Nội vụ dẫn kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia,...) cho biết, tiền lương của lực lượng vũ trang được thiết kế riêng và cao hơn công chức có cùng trình độ đào tạo, để phù hợp với chế độ làm việc, điều kiện lao động và tính sẵn sàng chiến đấu, hy sinh. Theo đó, bảng lương hiện hành của lực lượng vũ trang ở nước ta được thiết kế riêng và cao hơn công chức là phù hợp với đặc điểm lao động của quân đội nhân dân, công an nhân dân, và cũng phù hợp với xu hướng của nhiều nước trên thế giới. Về tuổi nghỉ hưu, luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và luật Công an nhân dân Việt Nam quy định hạn tuổi phục vụ của quân nhân và hạ sĩ quan, sĩ quan công an nhân dân phù hợp với đặc điểm lao động của lực lượng vũ trang. Theo Bộ Nội vụ, tại khoản 3, mục 2, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21.5.2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về “cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp” cũng đã xác định: xây dựng, ban hành hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, để thay thế hệ thống bảng lương hiện hành; chuyển xếp lương cũ sang lương mới, bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng. Nghị quyết này cũng vẫn giữ tương quan tiền lương của lực lượng vũ trang so với công chức hành chính như hiện nay./.
 

Thời điểm đại hội cận kề, các thế lực thù địch càng tăng cường các hoạt động chống phá, tung ra luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm làm suy giảm niềm tin, phá hoại Đại hội XIII của Đảng.

Gia tăng “chiến dịch” tuyên truyền, xuyên tạc
Dịp này, các thế lực thù địch tung ra nhiều bài viết, video clip với lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin hòng làm lung lay, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng. Để phủ định học thuyết Mác-Lênin, trên đài BBC, RFA, VOA, các trang phản động, mạng xã hội Facebook, YouTube…; không ít ý kiến cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin là phản dân chủ, việc kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin là một sai lầm từ lý luận đến thực tiễn.
Lợi dụng thời điểm Đảng lấy ý kiến góp ý toàn dân vào dự thảo Báo cáo Chính trị, họ đưa ra các kiến nghị bằng nhiều hình thức, như “trao đổi”,“gửi thư”,“góp ý cho Đại hội XIII”… rằng, Đại hội XIII là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng “xã hội dân sự”.
Lợi dụng những hiện tượng tiêu cực, hạn chế trong đời sống xã hội như sự cố môi trường biển miền Trung, tình hình phức tạp trên Biển Đông, một số dự án chậm tiến độ, sự việc Đồng Tâm, vụ án hình sự Hồ Duy Hải…, họ xuyên tạc vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, quy kết “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tạo khủng hoảng toàn diện”, “đất nước lâm nguy”, “tình thế hiểm nghèo”, dẫn đến “Sự thất bại nghiêm trọng xây dựng CNXH, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”… 
Từ đó dùng các lời lẽ “khẩn thiết”, “thiết tha” kiến nghị, rằng: Chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc tài, độc đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được; ở Việt Nam muốn phát triển, muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng, dân chủ như nước ngoài.
Xét về bản chất, đây là những quan điểm sai trái, phi lịch sử, phản khoa học. Họ chống phá Đại hội XIII, tấn công trên nhiều lĩnh vực, phương diện khác nhau, song chung quy lại, mục đích mà họ hướng tới: Hướng lái đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.  
Ngụy biện đổi mới chính trị là thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam
Trong mấy chục năm qua, công cuộc đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thay đổi một cách căn bản, toàn diện bộ mặt của đời sống, xã hội đất nước ta. 
Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển; từ đó đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại. 
Cũng như đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế luôn đứng trước thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn, có lúc khó khăn, thách thức còn lớn hơn cả thuận lợi, thời cơ. 
Nhưng rồi bằng sự phấn đấu quyết liệt của Đảng, Nhà nước và nhân dân, kinh tế vĩ mô được ổn định, nhịp độ tăng trưởng đạt mức cao, đời sống được nâng lên; dịch bệnh COVID-19 đặt thế giới vào khủng hoảng nghiêm trọng, đất nước ta đã phát huy được tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng; tính ưu việt của chế độ, vai trò Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và sự làm chủ của nhân dân tạo ra sức mạnh để vượt qua đại dịch. 
Vẫn biết khó khăn, thách thức còn nhiều, nhưng không thể vì thế mà nói kinh tế đất nước đang chìm trong “khủng hoảng trầm trọng”, “đất nước lâm nguy”, “tình thế hiểm nghèo”… như các đối tượng rêu rao.
Cũng trong mấy chục năm qua, ở Việt Nam, đổi mới chính trị luôn gắn liền với đổi mới kinh tế, hơn thế nữa còn giữ vai trò dẫn dắt, chỉ đường cho đổi mới kinh tế. 
Đổi mới chính trị, Đảng, Nhà nước và nhân dân đã có nhiều cố gắng đạt được kết quả đáng ghi nhận trong xây dựng nền dân chủ XHCN, khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu… 
Đổi mới chính trị là đổi mới, tập trung vào những nội dung cụ thể như vậy chứ không thể đổi mới chính trị là thay đổi thể chế chính trị, mục tiêu, con đường đi lên CNXH, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
Mục tiêu, con đường cách mạng vô sản, thể chế chính trị là sự lựa chọn của lịch sử, dân tộc và nhân dân. Vai trò lãnh đạo của Đảng là bài học xuyên suốt chiều dài lịch sử, là nhân tố tổ chức và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là bài học lịch sử được đúc kết từ thực tiễn cách mạng dân tộc. 
Đa nguyên chính trị, đa đảng không phải là giá trị phổ quát của nhân loại, đồng thời không phải là thực tế hiện hữu trong tất cả mọi thời kỳ của một quốc gia dân tộc. Nó có thể đúng và phù hợp với quốc gia – dân tộc này, nhưng cũng có thể không đúng và không phù hợp với quốc gia – dân tộc khác. 
Sự lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được. Đây là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài của toàn Đảng. Đảng đã tập hợp và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đứng lên giành chính quyền, lập nên chế độ chính trị mới, vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà mục tiêu là chủ nghĩa cộng sản.

Vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác xít là yêu cầu hàng đầu trong đấu tranh làm thất bại các thủ đoạn chống phá của địch



Sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, thì "dàn đồng ca” chống chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đông hơn, đa dạng hơn gấp nhiều lần. Chủ nghĩa đế quốc, bọn cơ hội, xét lại dựa vào nguyên nhân của những sai lầm, duy ý chí trong vận dụng, thực hiện lý luận Mác xít để thổi phồng hạn chế, xuyên tạc, phủ nhận tính đúng khắn, khoa học, cách mạng của lý luận mác xít đối với sự phát triển của nhân loại. Tình hình này đòi hỏi những người cộng sản chân chính phải biết vận dụng, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin một cách khoa học, phù hợp thực tiễn. Chỉ trên cơ sở đó, chúng ta mới bảo vệ được chủ nghĩa Mác – Lênin.
Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta thấy, thực tiễn đa dạng luôn vận động, biến đổi, phát triển, vì thế, nhận thức của con người nói chung, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng cũng luôn phải được vận dụng, bổ sung, phát triển cho phù hợp. Từ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, kẻ thù của lý luận mác xít rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời và chỉ cùng lắm phù hợp với cơ sở kinh tế, xã hội… thế kỷ XIX, XX, không còn phù hợp với thời đại hiện nay. Họ không hiểu rằng, những người cộng sản đã trung thành, vận dụng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng để có những nhận thức đúng đắn về thời đại hiện nay; đó là thời đại có nhiều biến động sâu sắc, thế giới có nhiều diễn biến phức tạp; xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn; các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên trong quan hệ quốc tế. Những vấn đề an ninh phi truyền thống có nhiều diễn biến phức tạp. Cộng đồng quốc tế ngày càng phải đối phó với các thách thức an ninh mạng. Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á tiếp tục diễn ra phức tạp,v.v.. Tất cả những vấn đề nêu trên đều là nhận thức từ sự tác động mạnh mẽ đến cục diện thế giới và phong trào công nhân. Nhận định đó được tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới thừa nhận đúng và đều có phương pháp để tiếp cận làm biến đổi thực tiễn, phục vụ cho sự phát triển, hòa bình của nhân loại. Điều đó càng minh chứng sự đúng đắn, khoa học, cách mạng  của thế giới quan, phương pháp luận Mác xít, đồng thời đập tan những mưu đồ của các thế lự thù địch chống phá lý luận Mác – Lênin. (Còn nữa)