Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2020

 

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG XIII            

                Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch đang tăng cường các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng cho rằng, đây là “thời cơ vàng” để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng xã hội dân sự. Để thực hiện âm mưu này, chúng đã lợi dụng mạng xã hội, phát tán những tài liệu, bài viết có nội dung tuyên truyền nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đưa những thông tin sai sự thật để tuyên truyền, vu cáo, bôi nhọ hình ảnh các lãnh đạo của Đảng, Nhà nước… Nhằm gieo rắc sự hoài nghi, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội Việt Nam; chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, tiến tới là đòi thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam, đòi nhường quyền lãnh đạo dân tộc và xã hội cho một “lực lượng chính trị mới”.

          Để nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Đại hội XIII của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng và khả năng “miễn dịch”; chủ động đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch… Trong đó, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, góp phần ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các âm mưu, hoạt động chống phá từ khi mới phôi thai, là biện pháp cơ bản, mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa quyết định để làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; không mắc mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Luôn đề cao cảnh giác, kiên quyết chống sự cài cắm, móc nối của các thế lực thù địch với các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước. Quản lý chặt chẽ các mạng xã hội và thông tin, truyền thông, làm thất bại âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật; quy chế về kỷ luật phát ngôn, chống bệnh “công thần”, “cá nhân chủ nghĩa” của một số cán bộ, đảng viên do thiếu thông tin mà đưa ra các phát ngôn chủ quan làm tổn hại uy tín của Đảng, Nhà nước và lợi ích của quốc gia - dân tộc, rơi vào âm mưu phân hóa, chia rẽ nội bộ của các thế lực thù địch.

          Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trước thềm Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối của cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và là trách nhiệm của mọi cán bộ đảng viên trước Đảng, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng.

                                                                                                MH

 

Thủ tướng khen ngợi các lực lượng cứu hộ thuyền viên

 Thủ tướng Chính phủ vừa có công điện khen ngợi các lực lượng tham gia tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ các thuyền viên bị mất tích, mắc kẹt trên vùng biển Cửa Việt tỉnh Quảng Trị.

Công điện nêu rõ, trong những ngày vừa qua, do sóng to, gió lớn, một số thuyền viên bị mất tích và mắc kẹt trên tàu Vietship 01 tại vùng biển cảng Cửa Việt tỉnh Quảng Trị.

Ngay sau khi sự cố xảy ra, công tác tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ đã được tập trung chỉ đạo quyết liệt, với tinh thần, trách nhiệm rất cao của các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Quảng Trị, Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố Thiên tai và Tìm kiến cứu nạn, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải, Quân khu 4 và toàn thể các lực lượng tham gia tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ của các Bộ, ngành, cơ quan, đặc biệt là sự tham gia tích cực, hiệu quả của nhân dân dân địa phương.

Thủ tướng khen ngợi các lực lượng cứu hộ thuyền viên - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Lực lượng Đặc công nước và tổ bay trực thăng của Bộ Quốc phòng cứu hộ thuyền viên.

Trong điều kiện sóng to, gió lớn, công tác cứu hộ, cứu nạn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng các lực lượng và nhân dân đã không quản ngại nguy hiểm, tích cực, chủ động, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ, triển khai kịp thời các phương án tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ và đã cứu nạn thành công các thuyền viên bị nạn trên vùng biển cảng Cửa Việt. Đến sáng 11/10, các lực lượng Đặc công nước và tổ bay trực thăng của Bộ Quốc phòng đã cứu hộ thành công toàn bộ các thuyền viên vị kẹt trên tàu Vietship 01 đưa về bờ an toàn.

Thủ tướng Chính phủ biểu dương, khen ngợi tinh thần dũng cảm, không quản ngại hiểm nguy của các lực lượng tìm kiếm cứu nạn và nhân dân địa phương, bảo đảm an toàn tính mạng cho người dân khi gặp sự cố trên biển.

Hiện nay trên vùng biển cảng Cửa Việt vẫn còn 2 thuyền viên và một số người khác của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên đang bị mất tích trong đợt mưa lớn vừa qua. Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh và các Bộ, ngành liên quan tiếp tục chỉ đạo, tập trung lực lượng, phương tiện để tìm kiếm, cứu hộ kịp thời, có hiệu quả những trường hợp còn đang mất tích.

ST.


Thế nào là dân chủ đích thực?

Dân chủ đích thực là mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân: Nhân dân có quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Lịch sử đấu tranh chống thực dân, đế quốc hơn một thế kỷ qua của Nhân dân ta đã khẳng định: Dân chủ như vậy chỉ có thể có trong điều kiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thành tựu của mấy mươi năm đổi mới càng tô đậm hơn điều rất quan trọng này! Trong Hiến pháp 2013 tiếp tục thể hiện rõ: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân…”. Sự khẳng định này một lần nữa thể hiện bản chất nhân đạo, nhân văn cao cả của chế độ xã hội chủ nghĩa - chế độ do chính Nhân dân ta lựa chọn. Thực tiễn cho thấy, ở Việt Nam, mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, có sự tham gia ý kiến của Nhân dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau. Mọi người dân đều trực tiếp hay gián tiếp đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến của mình cho các cơ quan công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ với Nhân dân và chăm lo đến Nhân dân. So với các quốc gia có nền kinh tế tương đương, nền giáo dục nước ta phát triển cao hơn, quyền học hành của con người được bảo đảm và ngày càng được thực hiện tốt. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm ngày càng tốt. Hiện nay, có khoảng 70.000 chức sắc trong các tổ chức tôn giáo đang hoạt động tại hơn 24.000 cơ sở thờ tự, với hơn 20 triệu tín đồ. Tiêu biểu như Phật giáo với gần hai ngàn năm trải qua nhiều thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, song thời nào Phật giáo cũng lấy đức Từ bi để giáo hóa chúng sinh, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Phật giáo Việt Nam đã xây dựng truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc; xứng đáng là một tôn giáo “Hộ quốc - An dân”. Công giáo Việt Nam tại Đại hội lần I đã ra Thư chung 1980 với đường hướng mục vụ "sống phúc âm giữa lòng dân tộc". Đại hội lần III tiếp nối nội dung của Thư chung 1980 nhưng có những chỉ dẫn cụ thể hơn: "Trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta hãy ra sức đóng góp nhiều hơn nữa với sự nỗ lực của mỗi người, cụ thể trong hoàn cảnh đất nước hiện nay… Chúng ta vừa là người Công giáo, vừa là người công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hai phẩm tính đó không thể mâu thuẫn nhau, nếu chúng ta sống đạo đích thực và có lòng yêu nước chân thành"…Trong các cuộc sinh hoạt chính trị lớn, như bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Kết quả, tỷ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng cao, cả thế giới đều biết, việc thực hiện dân chủ luôn là mục tiêu không dễ dàng ngay cả ở những nước được coi là “có truyền thống dân chủ”!Đó là chưa kể ở đó, nhiều mâu thuẫn chính trị-xã hội bộc lộ ngày càng gay gắt và không có khả năng vượt qua. Riêng tại nước ta, Đảng đã nghiêm túc đánh giá quyền làm chủ của Nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, cùng với tệ quan liêu, tham nhũng, xa dân, xâm phạm quyền làm chủ của Nhân dân, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, là thách thức đối với mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng. Tuy nhiên, bằng những thành tựu đã đạt được, chúng ta tin tưởng mục tiêu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất ở nước ta nhất định thắng lợi.

Quản lý tốt tình huổng bất thưòng

 

 

 

 


Tình huống bất thường là một thuật ngữ chỉ một hiện tượng, một sự kiện, sự việc diễn ra trong đời sống xã hội có nguyên nhân từ khách quan hoặc chủ quan dẫn đến những hậu quả xã hội ở mức độ khác nhau.

Bất thường là những biến cố không hề mong muốn, ngoài nhận thức và không lường hết thiệt hại của nó đối với cá nhân và xã hội

Ở nước ta các tình huống bất thường nảy sinh do tự nhiên như: lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, sự cố môi trường... xảy ra trong thời gian qua đã gây thiệt hại rất lớn. Bên cạnh đó, những tình huống bất thường nảy sinh do tác động của các yếu tố xã hội cũng đang có những tác động tiêu cực không nhỏ đến đời sống mọi mặt của nhân dân.

Tình huống bất thường có thể diễn ra ở mức độ tác động giống nhau, nhưng khác nhau ở sự tiếp cận của con người. Nếu tiếp cận thụ động (không đủ khả năng nắm bắt) thì trở thành bất thường. Chúng làm cho hoạt động quản lý xã hội không lường trước được, năm ngoài dự kiến, vượt quá sự chuẩn bị đối phó, gây thiệt hại trầm trọng cho con người, để lại di hại không dễ khắc phục ngay được. Có loại tình huống bất thường không phải do tốc độ của diễn biến (đột ngột, tức thời), mà là sự mất niềm tin nghiêm trọng dưới con mắt của người dân và chế độ như sự phát sinh lợi ích nhóm trong xã hội, tình trạng tham nhũng thực sự đe dọa cơ chế và thể chế...Tính bất thường ở đây được nhận thức là mặt trái của xã hội mang hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Tình huống bất thường được xác định theo các đặc điểm như sau:

Thứ nhất, là những sự kiện có thực, đã diễn ra. Chính những diễn biến đã diễn ra, tác động ảnh hưởng, mang tới hậu quả xã hội ở một nơi, một thời điểm nhất định làm cơ sở nghiên cứu, phân tích, tìm ra các yếu tố mang tính quy luật hoặc ngẫu nhiên trong nhận thức khoa học và lý thuyết nhất định về chúng.

Thứ hai, mang yếu tố khách quan hoặc chủ quan. Yếu tố khách quan được phân ra bởi các tình huống diễn ra từ sự vận động của các yếu tố trong tự nhiên mang tính quy luật tương đối ổn định, ngoài ý muốn chủ quan của con người (cá nhân, cộng đồng hay tổ chức). Yếu tố chủ quan thuộc về những tình huống gắn liền với nhận thức của con người.

Thứ ba, tính chất tác động, ảnh hưởng của các tình huống bất thường tới sự biến đổi tiêu cực tới điều kiện sinh hoạt có thể từ những nguyên nhân tự nhiên khách quan hoặc xã hội, mức độ gây ra hậu quả và khả năng khắc phục.

Những tình huống bất thường có thể là các hiện tượng xã hội có các nguyên nhân khác nhau do con người, như: chiến tranh gây ra sự khủng hoảng kinh tế, suy kiệt tiềm năng phát triển, làm chết chóc, gây đau thương về tổn thất con người; từ nguyên nhân suy thoái kinh tế dẫn đến các chính sách cực đoan; do tai nạn giao thông, hỏa hoạn; sự cố ô nhiễm môi trường, ngộ độc thực phẩm, phá sản doanh nghiệp, vỡ hụi...Các tình huống bất thường có nguyên nhân từ tự nhiên, như: biến đổi khí hậu, thời tiết, sụt lún địa chất, hạn hán, núi lửa, sóng thần, ngập mặn, lũ lụt, dịch bệnh.. .Các nguỵên nhân nàý có thể nằm ngoài sự tác động của con người nhưng cũng có thể do chính hoạt động của con người tạo ra. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, khi xảy ra khủng hoảng tài chính, người dân thường đổ xô rút tiên hàng loạt, bán tháo cổ phiếu, gây sụp đổ cả hệ thống ngân hàng hoặc rung động thị trường chứng khoán. Thảm họa môi trường không chỉ đe dọa đến ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất mà cả điều kiện sinh kế lâu dài của cư dân. Khủng hoảng tài chính và thảm họa môi trường bao giờ gắn với hiệu ứng đám đông, gây nên các hê lụy xã hội nặng nề, nếu không có biện pháp xử lý sẽ gây nên các đảo lộn xã

Quản lý tình huống bất thường là quá trình chủ động và thực hiện hiệu quả các mục tiêu của các chủ thể quản lý xã hội: 1) Đương đâu với thực tê; 2) Bình tĩnh xây dựng kế hoạch, tìm biện pháp khả thi, thực hiện mọi cách để giản thiểu hậu quả và ngăn chặn không cho bất thường lan nhanh hay kéo dài: 3) Chia sẽ thông tin; 4) Phân tích sâu gốc rễ các vấn đề; 5) Săn sàng đón nhận hậu quả xấu; 6) Tranh thủ cơ hội tốt; 7) Ra quyết định kịp thời, hiệu quả; 8) ổn định và phát triển sau tình huống bất thường.

Việc nhận diện chính xác các tình huống bất thường trong thực tế, nghiên cứu các hệ lụy do chúng gây ra và đề xuất một số vấn đề về quản lý xã hội đối với các tình huống đó là điều hết sức cần thiết, đặc biệt trong tình hình hiện nay[1]. Việc ngăn ngừa tác hại của các tình huống bất thường phụ thuộc vào các yếu tố như tính cộng đồng, kinh nghiệm, năng lực tổ chức quản lý và tiềm năng vật chất, kỹ thuật cùa nhà nước.

Để chủ động, đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý tình huống bất thường cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là, cần có quan điểm rõ ràng để ngăn chặn các tình huống bất thường trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, từ đó làm cơ sở cho việc huy động mọi nguồn lực xã hội, trong nước và quốc tế nhằm chủ động phòng ngừa, quản lý hiệu quả tình huống bất thường.

Hai là, các khoa học có liên quan cần đưa tình huống bất thường trở thành đối tượng nghiên cứu của mình. Trong đó, khoa học quản lý xã hội cần xác định đối tượng nghiên cứu chính là các tình huống bất thường và kết quả nghiên cứu là nhằm phục vụ quản lý các tình huống bất thường ngày càng chủ động, hiệu quả. Việc tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ sẽ giúp chủ động, hiệu quả hơn trong dự báo, kiểm soát, phòng ngừa các tình huống bất thường trong tự nhiên và xã hội.

Ba là, thực hiện tốt việc phân loại các tình huống bất thường để chủ động quản lý. Bởi vì, các tình huống bất thường có chung một đặc điểm là gây thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội; nhưng có sự khác nhau ở nguyên nhân, diễn biên, khác nhau ờ môi trường, không gian xuất hiện...Do đó, cần thiết phải phân loại để có sự chủ động ứng phó dưới dạng nhận biết, chuẩn bị và đề ra các giải pháp ứng phó. Trên cơ sở đó, các chủ thể quản lý kịp thời thực hiện các biện pháp quản lý xã hội phù hợp, đạt hiệu quả cao.

Bốn là cần thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của các nhóm xã hội đề thích nghi với các tình huống bất thường. Chủ động thông tin và trung thực về thông tin trong tình huống bất thường là một yêu cầu quan trọng. Thông tin về tình huống bất thường cần được đưa ra kịp thời, không né tránh, không phỏng đoán và tránh những thông tin gây hiệu ứng tiêu cực. Khi các vụ việc bất thường xảy ra, đại diện các cơ quan chức năng trả lời truyên thông, báo chí cần lựa chọn các thông điệp khách quan, khoa học và trung tính.

Năm là, các chủ thể liên quan đến hoạt động quản lý xã hội phải có một tầm nhìn xa và hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về các tinh huống bất thường. Chủ thê quản lý xã hội, nhất là Nhà nước cần tăng cường các hoạt động truyền thông, nâng cao năng lực, kỹ năng cho người dân ứng phó với các tình huống bât thường. Thông qua đó tang cường sự hiểu biết, kỹ năng, thúc đẩy các nhóm xã hội/địa phương thoát khỏi tình huống bất thường.

Sáu là, cần nghiên cứu, ban hành và thực hiện một hệ thống pháp luật quy định vê trách nhiệm và năng lực quản lý tình huống bất thường chặt chẽ và hiệu quả. Căn cứ của hoạt động quản lý tình huống bất thường là nhà nước phải là khung thể chế thông qua hệ thống pháp luật. Hệ thống các quy phạm cần được đặt ra một cách đồng bộ, kịp thơi, bắt đầu tư khung thể chế trong Hiên pháp, luật và các văn bản quy phạm hành chính.

Bảy là, nghiên cứu xây dựng phát triển cơ quan, tổ chức chuyên trách và chuyên nghiệp có chức năng ứng phó với tình huống bất thường; đầu tư thỏa đáng các ngưôn lực, trang thiết bị công nghệ hiện đại cho hoạt động ứng phó với tình huông bât thường. Thường xuyên thực hiện nghiên cứu khoa học, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm từ các tình huống bất thường đã xảy ra.


 



[1] Nguyễn Văn Thâm (2014), tài liệu đã dẫn, tr 59.

Quản lý tốt những vấn đề sai lệch xã hội

 


Sai lệch xã hội là một khái niệm của xã hội học được định nghĩa là sự vi phạm có nhận thức các tiêu chuẩn hoặc kỳ vọng của một nhóm hay của xã hội.

Sai lệch xã hội là hành vi của các cá nhân hoặc nhóm người nào đó không phù hợp với những gì được coi là bình thường của cộng đồng,  đi chệch những gì mà số đông những người khác mong đợi ở họ trong những hoàn cảnh nhất định. Sự sai lệch xã hội là sự vi phạm các chuẩn mực hoặc các quy tắc đã được chấp nhận của một nhóm xã hội hay một xã hội nhất định[1].

Sai lệch xã hội, dù là về tư tưởng, thái độ hay trong hành vi, cũng đều chiu sự phán xử của hệ quy chiếu chính thống. Nó thường bị quy thành cái cá biệt, đáng bị chỉ trích, vì nó đụng chạm đến tâm thế xã hội, gây ra những hệ lụy khó kiểm soát. Có thể nhận thấy, những gì được coi là sai lệch, trên hết là một vấn đề được xác định về mặt xã hội bởi một cộng đồng xã hội hay một nhóm người bên trong cộng đồng đó.

Thực tế cũng cho thấy, sai lệch chịu sự chi phối bởi quyền lực, sự bất công trong xã hội. Chẳng hạn, có những hành vi giống nhau nhưng người không có quyền lực bị xem là lệch lạc và có thể chịu hình phạt, trong khi người có quyền lực thì không. Không những vậy một hành vi có được coi là lệch lạc hay không tùy thuộc vào quan niệm của xã hội, vào cách mà người khác nhận thức tình huống. Sai lệch xã hội chỉ tồn tại trong mối quan hệ với các tiêu chuẩn văn hóa, một hành vi được coi là lệch lạc trong mối quan hệ với những tiêu chuẩn văn hóa cụ thể. Những tiêu chuẩn văn hóa rất khác nhau giữa các nền văn hóa, trong mỗi nền văn hóa cũng khác nhau ở các tiêu văn hóa...; hơn nữa tiêu chuẩn văn hóa còn thay đổi theo thời gian nên quan niệm về sự lệch lạc cũng khác nhau và thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, chỉ những năm gần đây ở Việt Nam, hút thuốc lá ở nơi công cộng được coi là hành vi lệch lạc, trong khi trước đó nó là việc khá bình thường.

Có 4 yếu tố cấu thành sai lệch xã hội (nguyên nhân khách quan).

Một là, do những sai lệch trong hệ thống giá trị. Hệ thống giá trị trong xã hội được hình thành qua các thời kỳ lịch sử nhất định và do vậy nó mang tính lịch sử; nó sẽ mất đi khi không còn phù hợp với thực tiễn xã hội song nó lại được hình thành mới khi thực tiễn biến đổi. Hệ thống giá trị được chia thành các giá trị chung phổ quát (giá trị nhân loại) và các giá trị thuộc về một giai cấp hay tầng lớp nào đó. Bất kỳ một sự chệch hướng giá trị của xã hội hiện hành đều có thể bị coi là sai lệch xã hội.

Hai là, do sự biến đổi các chuẩn mực xã hội. Trong đời sống xã hội, chuẩn mực xã hội là những quy ước chung của cả cộng đồng hay một nhóm xã hội nhất định, quy định những hành vi cụ thể của mỗi cá nhân trong mỗi tình huống cụ thể nhất định. Sự xem nhẹ các chuẩn mực xã hội, không tuân thủ các chuẩn mực xã hội có thể dẫn tới những hành vi sai lệch xã hội. Tuy nhiên, cũng như bất kỳ hiện tượng xã hội nào, chuẩn mực xã hội cũng luôn biến đổi theo thòi gian. Chuẩn mực đã biến đổi hoặc bị bóp méo hoặc không được áp dụng đúng chỗ thì dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.

Ba là, do sự thay đổi các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người cùng nhau hoạt động sản xuất và tinh thần. Quan hệ sản xuất vật chất là quan hệ cơ bản, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội, là mối quan hệ cơ bản, chi phối mọi quan hệ khác. Sự vận động và phát triển của quan hệ sản xuất kéo theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội. Chuẩn mực, giá trị xã hội vừa phản ánh các quan hệ xã hội vừa điều chỉnh các quan hê xã hội. Các quan hệ xã hội thay đổi sẽ làm cho hệ thống giá trị, chuẩn mưc xã hội cũng biến đổi và dẫn đến các hành vi sai lệch xã hội.

Bổn là, do sự rối loạn các thiết chế xã hội. Các thiết chế xã hội có chức năng điều chỉnh, hướng dẫn và kiểm soát hành vi con người phù hợp với các chuẩn mực mà thiết chế xã hội tạo ra. Chúng được thiết lập trên các nhu cầu cơ bản của xã hội. Các thiết chế xã hội có vai trò kiểm soát và quàn lý xã hội. Tuy nhiên, trong không ít tình huống vì nhiều lý do khác nhau dẫn đến thiết chế xã hội không được vận hành một cách bình thường, thậm chí rối loan dẫn tới mất ổn định xã hội. Vì vậy, bất kỳ một sự rối loạn hay đổ vỡ thiết chế xã hội nào đều trở thành vấn đề xã hội nghiêm trọng, dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.

Các nhóm nguyên nhân (chủ quan) cơ bản dẫn đến sai lệch xã hội.

Một là, sự không hiểu biêt, hiểu biết không đúng, không chính xác các quy tắc, yểu cầu của chuẩn mực xã hội. Trong trường hợp đó, đa số các hành vi sai lệch xảy ra chủ yếu là do các cá nhân, tập thể thiếu thông tin, kiến thức, hiểu biết về các chuẩn mực xã hội, thiếu kinh nghiệm thực tế: do họ không hiểu hoặc hiểu không đúng quy tắc, yêu cầu của các chuẩn mực xã hội, do đó họ đã thực hiện hành vi sai lệch nhất định.

Hai là, tư duy diễn dịch không đủng, sự suy diễn các chuẩn mực xã hội thiếu căn cứ logic và sử dụng các phán đoán phi logic. Điều đó có nghĩa là, khi tham gia vào các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội, do thói quen suy diễn sai lầm, sử dụng các phán đoán thiếu căn cứ logic nên một số cá nhân, nhóm xã hội thường nhầm lẫn hoặc cố ý áp dụng các chuẩn mực ở lĩnh vực này vào trong lĩnh vực khác, do vậy đã vi phạm một số chuẩn mực xã hội nào đó, tức là đã thực hiện hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội.

Ba là, cuất phát từ quan niệm sai lệch tới việc thực hiện hành vi sai lệch xã hội. Trong quá trình vận động và phát triển của xã hội có những quan niệm chỉ có ý nghĩa thực tế, được coi là đúng trong xã hội cũ trước đây. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay nó đã tỏ ra không phù họp và lỗi thời, bị coi là sai lệch chuẩn mực về cả hình thức, nội dung và tính chất. Mặc dù vậy, vẫn có những cá nhân, nhóm xã hội làm theo các các quan niệm sai lệch đó nên đã dẫn tới sai lệch xã hội.

Bốn là, các khuyết tật về tâm sinh lý dẫn tới hành vi sai lệch xã hội. Trong xã hội có những cá nhân nào đó, do dị tật bẩm sinh hoặc do tai nạn mắc phải khiến họ mang trên mình những khuyết tật nhất định về tâm sinh lý, thể chất, như: bị mù, câm, điếc, trí lực, thần kinh, rối loạn, hoang tưởng...Những khuyết tật đó làm cho các cá nhân mang khuyết tật bị mất đi một phần hoặc toàn bộ khả năng cảm nhận, nhận biết về các quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực xã hội nói chung khiến họ thực hiện các hành vi sai lệch mà không biết.

Năm là, cơ chế về mối liên hệ nhân - quả giữa các hành vi sai lệch xã hội. Có thể thấy, quan hệ nhân quả đi từ việc thực hiện một hành vi sai lệch này tới việc thực hiện một hành vi sai lệch khác mà chủ thể không biết, hoặc biêt những vẫn cứ thực hiện là một trong những nguyên nhân đẫn đến hành vi sai lệch. Hành vi sai lệch thứ nhất được coi là nguyên nhân dẫn tới kết quả là hành vi sai lệch thứ hai. Khi xem xét môi quan hệ nhân-quả của sai lệch xã hội, chúng ta cần phải cãn cứ vào một sổ yếu tố sau: 1) Tính chất, khuynh hướng và sự phổ biến tương đối của hành vi sai lệch xã hội đó; 2) Điều kiện lịch sử, hoàn cảnh xã hội, thời gian địa điêm xảy ra sai lệch xã hội.

Hệ quả của sai lệch xã hội được nhìn nhận trên các phương diện:

Thử nhát, có thể mang nội dung, tính chất tích cực, tiến bộ, cách tân nêu như nó vi phạm, phá vỡ hiệu lực, sự chi phối của các chuẩn mực xã hôi đã lạc hậu, lỗi thời, phản động, đang kìm hãm sự phát triển của cá nhân và xã hội. Khi đó hành vi sai lệch có thể góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

Thử hai, hệ quả của sai lệch có thể mang nội dung và tính chất tiêu cực ảnh hường xấu hoặc nguy hiểm cho xã hội nếu như nó vi phạm, phá vỡ tính ổn định, sự tác động của những chuẩn mực xã hội phù hợp, tiên bộ, đang phổ biến, thịnh hành và được thừa nhận rộng rãi. Trong trường hợp này, sai lệch xã hội bị dư luận xã hội phê phán, lên án hoặc đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp trừng phạt theo nguyên tắc, quy định của pháp luật.

Thứ ba, sai lệch xã hội được xác định là tích cực hay tiêu cực cần phải được xem xét từ quan điểm lịch sử- cụ thể để xác định những cách thức ứng xử hợp lý. Chẳng hạn, có những điều hôm nay là chân lý, là chuân mực, giá trị, ngày mai có thể trờ thành cái cá biệt, cái cản trở sự phát triển Ngược lại, cái hôm nay bị quy kết là lệch lạc, cá biệt, ngày mai có thê trở thành chuân mực, chân lý, được thừa nhận. Đôi khi cái bị quy là “sai lệch xã hội” phải đến cả trăm năm sau mới được thừa nhận[2].

Về quản lý sai lệch xã hội        

Kiểm soát xã hội là sự kiểm soát của hệ thống thiết chế xã hội đối với những nhận thức tình cảm, thái độ và hành vi của con người. Chức năng của kiểm soát xã hội là tạo ra những điều kiện cho sự bền vững, ổn định và trật tự xã hội, mặt khác tạo ra những thay đổi mang tính hợp lý và tích cực (thay đổi trong khuôn khổ được phép, không ảnh hưởng đến độ bền vững và tính ổn định cùa hệ thống xã hội). Thực tế đặt ra yêu cầu kiểm soát xã hội cần phải có tính mềm dẻo, linh hoạt, như vậy mới có thể nhận biết được ý nghĩa của sai lệch xã hội. Chẳng hạn, phân biệt được sự khác nhau giữa những sai lệch tiêu cực, đe dọa phá hoại sự ổn định và trật tự xã hội và những sai lệch là mầm mong cho sự tiến bộ, phát triển. Nếu như kiểm soát xã hội không đáp ứng được yêu cầu này, nó sẽ triệt tiêu mọi nhân tố tích cực của sự phát triển xã hội. Do vậy, thực hiện kiểm soát, quản lý sai lệch xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng nhăm giữ gìn và bảo vệ trật tự, kỷ cương, an toàn; cũng như sự phát triển xã hội. Quá trình kiểm soát xã hội bao gồm: tự kiểm soát và bị kiểm soát.

Tự kiểm soát là việc tuân thủ các chuẩn mực đã được cá nhân hóa chính là cơ sở của quá trình tự kiểm soát, hay kiểm soát từ bên trong. Các chuẩn mực được cá nhân hóa chính là hệ chuẩn mực của cộng đồng xã hội hoặc nhóm xã hội mà cá nhân là thành viên. Thực tế cho thấy, tự kiểm soát là công cụ hữu hiệu nhất trong kiểm soát xã hội, bởi vì nó cần ít sự giám sát và ít nỗ lực nhất để có thể trừng phạt những kẻ vi phạm. Quá trình tự kiểm soát nói lên sụ tuân thu bơi vì họ muon làm như vậy, chứ không phải là bởi vì họ sợ bị trừng phạt. Như vậy, quá trình tự kiểm soát là sự tự giác của các cá nhân trong tuân thủ các chuân mực. Cá nhân hình thành được khả năng tự kiểm soát thông qua việc tiêp nhận các phong tục tập quán, truyền thống, niềm tin, chuẩn mực và giá trị của xã hội Cá nhân có được khả năng tự kiểm soát xã hội do quá trình học tập và rèn luyện của bản thân.

Bị kiểm soát là quá trình xã hội tạo ra những biện pháp kiểm soát xã hội từ bên ngoài đôi với cá nhân, nhóm xã hội. Các biện pháp này có thể là chính thức hoặc phi chính thức. Kiểm soát xã hội phi chính thức bao gồm những dạng áp lực khác nhau được tạo ra trong các bối cảnh giao tiếp trực tiếp giữa các cá nhân nhằm đảm bảo sự tuân thủ các chuẩn mực chung. Thông qua đó, các cá nhân thể hiện sự không đồng tình và từ đó tạo áp lực khiến người khác điều chỉnh hành vi của họ. Kiểm soát xã hội chính thức là những biện pháp kiểm soát được nêu trong văn bản chính thức của xã hội và được thực thi bởi các cơ quan chức năng của nhà nước. Trong các xã hội công nghiệp và biển đổi phức tạp, kiểm soát xã hội chính thức trở nên đặc biệt quan trọng bởi không có đù các biện pháp kiểm soát phi chính thức.

Các giải pháp tăng cường kiểm soát, quản lý sai lệch xã hội:

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục và tiếp cận thông tin hướng tới việc cung câp, trang bị, hướng dân, giải đáp các thông tin vê chuân mực xã hội, có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao tầm nhận thức, hiểu biết của con người, trong chừng mực nhất định họ biết được những việc nên làm, những điều nên tránh trong hành vi của mình.

Hai là, tăng cường các hoạt động can thiệp trị liệu về tâm lý, y - sinh học: nhằm tìm hiểu, phát hiện ở họ những khuyết tật về thể chất (mù, câm, điếc..); những khuyết tật về trí lực (bệnh hoang tưởng, bệnh tâm thân...) hoặc trạng thái say rượu, nghiện ma túy...

Ba là, chú trọng biện pháp kiểm soát, quản lý dựa trên nền tảng phát triển kinh tế - xã hội của xã hội; tức là hướng đên mục tiêu phòng ngừa, kiểm soát tận gốc rễ các sai lệch xã hội, loại bỏ những nguyên nhân là nảy sinh các sai lệch. Hướng đến các giải pháp ngăn chặn sự hình thành sai lệch xã hội gắn với “bi kịch của sự phát triển”, nảy sinh từ các quan hệ của cơ chế thị trường, hội nhập. Bổn là, tập trung kiểm soát, quản lý sai lệch hướng vào việc xây dựng các giá trị, chuẩn mực xã hội và định hướng, thúc đẩy các hành vi theo giá trị xã hội, chuẩn mực xã hội. Như, phát huy và kế thừa giá trị truyền thống cao đẹp của nhân loại; củng cố vai trò điều chỉnh của luật pháp, tăng cường các biện pháp giáo dục tuân thủ các chuẩn mực mới.

Năm là, nhấn mạnh biện pháp kiểm soát, quản lý thông qua áp dụng sự lên án và trừng phạt của xã hội đôi với những cá nhân, nhóm xã hội có hành vi sai lệch gây nhiều hệ quả tiêu cực cho xã hội, có xu hướng lặp lại, lan rộng.

Sáu là, tập trung biện pháp pháp hướng sự chủ động và trực tiếp vào việc tấn công các sai lệch xã hội, xây dựng một hệ thống tổ chức điều hành và quản lý có hiệu lực. Ở đây, căn cứ vào từng loại hành vi sai lệch; từng nhóm xã hội để phân tích và tìm ra những giải pháp tương ứng.

Bảy là, thực hiện giải pháp tiếp cận tổng hợp và kế hoạch hóa xã hội: giáo dục các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thông, xây dựng và phổ biến lối sống lành mạnh, tiến bộ; mở rộng các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh, tiến bộ; Hướng vào mục tiêu kiểm soát, quản lý và khắc phục sai lệch xã hội, chúng ta cần phải có được một quan điểm mang tính hệ thống..

Tùy vào điều kiện xã hội cụ thể mà có biện pháp kiểm soát, quản lý sai lệch xã hội phù hợp, nhưng mục tiêu cơ bản của nó không bao giờ thay đổi. Đó là sự định hướng vào những bản chất tốt đẹp của con người; bản chất tôt đẹp và nhân đạo của chế độ xã hội



[1] Nguyễn Đình Tấn (2005), Xã hội học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr 245.

[2] Đặng Cnh Khanh (2007), Khắc phục đầy đủ và toàn diện các sai lệch xã hội Tạp chí cộng sàn điện tử http://www.tapchicongsan.org.vn/

Phát huy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong xây dựng đất nước hiện nay

 


Qua phòng, chống COVID- 19 chúng ta càng tự hào có Đảng, có Bác Hồ kính yêu, có Nhà nước pháp quyền XHCN; và càng tư hào hơn khi nhân dân ta các dân tộc (từ dân tộc Kinh đến các dân tộc thiểu số), các tầng lớp, lực lượng, các nhóm xã hội… luôn đoàn kết, gắn bó, quyết tâm cao trong phòng, chống dịch.

Dịch COVID-19 là loại dịch bệnh lây lan từ người sang người với tốc độ rất nhanh. Để chống dịch tốt, đòi hỏi mỗi người phải thực hiện tốt việc đeo khẩu trang và cách ly xã hội. Nếu trong xã hội chỉ một vài người chấp hành không nghiêm các quy định thì không thể khống chế được. Thực tế, hiện nay ở nhiều nước có những quy định trong cách ly xã hội rất nghiêm; trình độ y học rất tốt, nhưng tỷ lệ nhiễm vi rút COVID- 19 rất lớn, bởi vì do ý thức trách nhiệm của người dân không tốt. Với Việt Nam, lòng yêu nước đã phát huy tốt trong chống dịch CIVID-19, chúng ta hãy phát huy hơn nữa chủ nghĩa yêu nước Việt nam trong thực hiện các nhiệm vụ kép hiện nay. Đây là lời hiệu triệu nhưng cũng đầy tự hào bởi truyền thống, khí phách Việt nam.

THỦ ĐOẠN MỚI TRONG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình ở Việt Nam, các thế lực thù địch luôn coi việc phá hoại tư tưởng là mũi nhọn, là con đường ngẵn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng với chế độ xã hội chủ nghĩa. Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam, đó là:

Chúng chúng tìm mọi cách đẩy nhanh quá trình “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. So sánh các chế độ, chính sách liên quan đến đời sống nhân dân ta với các nước phương Tây; vấn đề tự do, dân chủ, hòng làm cho người dân thấy như “ xã hội Việt Nam đang có vấn đề” dẫn đến hoài nghi, mơ tưởng về một “xã hội khác tốt đẹp hơn”. Nếu cán bộ, đảng viên chúng ta không vững vàng về tư tưởng, dễ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thay đổi quan điểm, tư tưởng, đạo đức, lối sống.

Điều chỉnh thủ đoạn chống phá từ công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng đối lập, đòi bỏ điều 4. Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do không đem lại kết quả. Thủ đoạn mới của chúng là tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Từ đó tác động làm tha hóa từng cán bộ, đảng viên, nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại từ bên trong, thức đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Chúng sử dụng các hình thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng:

Đới với cán bộ, đảng viên, chúng thổi phồng khuyết điểm yếu kém của một số địa phương và một số cá nhân đảng viên, đánh đồng giữa tập thể, cá nhân tốt với tập thể cá nhân có khuyết điểm, sai phạm hòng làm cho nhân dân mất niểm tin vào cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đối với tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng chống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trước thủ đoạn mới của các thế lực thù địch chống phá đất nước ta, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, giữ vững lập trường, tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chủ động phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

                Thanh Bình



Không ngừng nâng cao chất lượng trong quản lý các vấn đề xã hội ở Việt Nam

 


Các vấn đề xã hội nảy sinh từ những hệ quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội quá nhanh chóng, mất cân bằng, thiếu bền vững, có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của con người và xã hội. Do vậy, giải quyết vấn đề xã hội là nhằm bảo đảm sự ổn định cho quá trình chuyển hóa tăng trưởng kinh tế thành phát triển bền vững theo hướng tiến bộ và công bằng xã hội.

Tăng trưởng kinh tế, dù mạnh mẽ đến đâu cũng không thể tự động và trực tiếp giải quyết được các vấn đê xã hội. Do đó, tập trung quản lý, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội là một trong những nét đặc trưng của con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó là con đường phát triển dựa vào con người và hướng đến con người. Nó cũng là một đặc điểm bảo đảm sự điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Các vấn đề xã hội là hệ quả song hành với quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, và thường là những hiện tượng xã hội rẩt phức tạp, nan giải mà bất kỳ một quốc gia dân tộc nào dù phát triển hoặc chưa phát triển cũng có thể phải đối mặt. Thực tế cho thấy, các vấn đề xã hội cũ đang có xu hướng trỗi dậy và gia tăng. Đồng thời, các vấn đề xã hội mới ngày càng xuất hiện. Sự gia tăng tác động tiêu cực của các vấn đề xã hội đang là những thách thức cản tr việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, làm chậm lại quá trình phát triển của xã hội. Chính vì vậy, quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội phải trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, nhà nước và xã hội Việt Nam. Song để đạt mục tiêu này, một yều cầu đặt ra là cần phải được dự báo các vấn đề xã hội một cách kịp thời, chính xác và đưa ra chương trình nghị sự chung của quốc gia. Muốn vậy, vấn đề xã hội cần được đặt vào đúng vị trí của chúng trong chương trình nghị sự của Đảng và Nhà nước[1]. Để đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực trong quản lý các vấn đề xã hội đòi hỏi cần phải xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ, kịp thời, thích hợp và khả thi. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016) đã nhấn mạnh mục tiêu: Phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết tốt vấn đề xã hội; giải quỵết tốt các vấn đề xã hội là tạo ra động lực cho sự phát triển xã hội hài hòa, bển vững[2].

Để tăng cường công tác quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội một cách chủ động, hiệu quả hơn, cần thực hiện tốt những giải pháp sau:

Một là, về mặt quan điểm, nhận thức cần phải chấp nhận “vấn đề xã hội” sẽ còn tồn tại với xã hội trong quá trình phát triển. Đồng thời, thực tế cho thấy các nguyên nhân tạo ra chúng ngày một tinh vi, phức tạp thêm. Không thể có một xã hội mà không có vấn đề xã hội, nhưng cần phải xây dựng một xã hội có đủ năng lực giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Do vậy, Việt Nam cần phải hướng đến mục tiêu là kiểm soát, giảm thiểu tác động tiêu cực của vấn đề xã hội. Trên cơ sở tiếp cận giải quyết các vấn đề xã hội trong mối tương quan giữa sự vận động, tái cấu trúc nền kinh tế với sự vận động, tái cấu trúc xã hội.

Hai là, cần thúc đẩy quá trình xây dựng hoặc cập nhật, vận dụng sáng tạo những quan điểm mới, lý thuyết mới cho hệ thống lý luận của Đảng và Nhà nước trong giải quyết vấn đề xã hội. Thực tiễn cho thấy đã đến lúc chúng ta phải dũng cảm thay thế những quan điểm lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp, không thể sử dụng để giải thích và giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước trong điều kiện hiện nay. Đặc biệt, cần phải chủ động tiếp cận các tri thức khoa học hiện đại nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi của đội ngũ cán bộ và các giai tầng xã hội đối với các vấn đề xã hội.

Ba là, tiếp tục kiện toàn và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng tinh gọn về bộ máy; thống nhất, đồng bộ về nguồn lực, mục tiêu; chia sẻ về dữ liệu thông tin nhằm giải quyết kịp thời, chính xác và hiệu quả hom các vấn đề xã hội.

Bốn là, tăng cường lượng hoá tiêu chí, áp dụng các công nghệ quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng từng bước hội nhập với thế giới. Các tiêu chí và công nghệ tiếp cận phải bám sát nhũng yêu cầu của chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, việc đổi mới xây dựng chỉ tiêu liên quan đến các vấn đề xã hội cần thực hin một cách có chọn lọc, phù hp với bối cảnh điều kiện của Việt Nam. Việc lượng hoá các tiêu chí, áp dụng công nghệ quản lý giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng từng bước tiếp cận với thế giới là tiền để cần thiết; tạo cơ sở khoa học cho việc đổi mới nhận thức và phương pháp hoạch định, triển khai quản lý giải quyết các vấn đề xã hội ngày càng chủ động, hiệu lực và hiệu quả hơn.

Năm là, xác lập mối liên hệ giữa phương thức quản lý xã hội bằng pháp luật với nắm bắt quy luật kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội, hướng tới phát trin bền vững là sự lựa chọn duy lý và mang tính tổng tích hợp. Do đó, đẩy mạnh việc thể chế hoá hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý các vấn đề xã hội. Hơn nữa, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền thì vấn đề thể chế hóa các văn bản sẽ thúc đẩy công tác quản lý các vấn đề xã hội bằng pháp luật cần phải được đẩy manh

Sáu là, tiếp tục xây dựng phát triển các nguồn lực cho việc quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội. Trước tiên phải tăng cường đầu tư các nguồn lực của Nhà nước và cần phải được xem xét là sự đầu tư cho mục tiêu phát triển bền vững. Đồng thời, mở rộng hp tác quốc tế để thu hút các nguồn lực từ bên ngoài. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các nguồn lực thông qua việc thực hiện xã hội hóa quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội. Nhà nước giữ vai trò định hướng, “đặt hàng” các doanh nghiệp, tổ chức xã hội thực hiện một số lĩnh vực thay các cơ quan hành chính Nhà nước hiện vẫn đang điều hành, quản lý và chịu trách nhiệm. Đó cũng là một hướng đột phá trong việc triển khai thực hiện có hiệu quả đổi với việc quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội.

Bảy là, trong chương trình nghiên cứu và đào tạo của các trường Đai học và Viện nghiên cứu có liên quan cần phải thể hiện tư duy “mở”, đa dạng hóa quan điểm tiêp cận khoa học và hành động can thiệp, vấn đề đặt ra là cần phát triển các chuyên ngành khoa học xã hội, trong đó có xã hội học để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần ổn định cuộc sống, bảo vệ con người trước những cú sốc của một xã hội đang ngày càng biến đổi nhanh và phức tạp. Do vậy, các kết quả nghiên cứu khoa học phải đáp ứng được nhu cầu nâng cao nhận thức, thay đôi thái độ và hành vi can thiệp về vấn đề xã hội. cần phải tăng cường các phương pháp tiếp cận khoa học, phương pháp dự báo vấn đề xã hội gắn liền với quy luật vận động, hệ quả của quá trình phát triển kinh tế- xã hội[3].

Những vấn đề xã hội ở Việt Nam có xu hướng ngày càng gia tăng phức tạp hơn, phạm vi lan tỏa rộng hơn, tác nhân tham gia đa dạng hơn, hệ quả xã hội lớn hơn. Vì vậy các vấn đề xã hội cần được chú ý nhận diện và xử lý giải quyết trên quan điểm của tư duy hệ thống, trong xu hướng vận động, biến đổi và phát triển không ngừng của xã hội. Và do đó, đòi hỏi phải phối hợp nhiều lực lượng tham gia, cũng như phải khoa học hơn, nhiều nguồn lực và vì con người hơn mới có khả năng ngăn ngừa và ứng phó có hiệu quả. Những biểu hiện của các vấn đề xã hội đòi hỏi hoạt động quản lý xã hội phải có khả năng định hình phương thức ứng phó và quản lý mới, kịp thời, phù hp và hiệu quả.



[1] Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2013), tài liệu đă dẫn.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). sđd.

[3] Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2013), tài liệu đã dẫn.

Quản lý các vấn đề xã hội ở Việt Nam ngày càng hiệu quả

 


Vấn đề xã hội là những hiện tượng xã hội nảy sinh từ điều kiện và hệ quả của quá trình phát trin kinh tế - xã hội; ảnh hưởng xấu đến sự phát trin của cộng đồng, giai tầng xã hội hoặc toàn bộ xã hội. Vấn đề xã hội là những hiện tượng được công luận hay một số bộ phận của công luận đòi hỏi như là một tất yếu cần được thay đổi/giải quyết thông qua hệ thống chính sách kinh tế - xã hội. Như vậy, các vấn đề xuất hiện từ các quan hệ xã hội có tác động, ảnh hưởng hoặc đe doạ đến sự phát triển bình thường của xã hội, đòi hỏi xã hội phải có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết kịp thời, hiệu quả.

Một xã hội lành mạnh sẽ có sức đề kháng tốt đối với các “vấn đề xã hội”. Kinh nghiệm thực tiễn và khoa học đã chứng minh, khi kinh tế đi xuống, có thể chỉ cần vài năm để hồi phục, song một khi những vấn đề xã hội gia tăng đến mức không thể kiểm soát, hệ quả xã hội rất khôn lường và sẽ mất nhiều thập kỷ để khôi phục. Về mặt lý thuyết có thể đưa ra 7 tiêu chí để nhận diện vấn đề xã hội (phân biệt với vấn đề cá nhân), bao gồm: 1) có liên quan và tác động tới nhiều nhóm trong xã hội; 2) Có liên quan và ảnh hưởng đến nhiều thiết chế, lĩnh vực xã hội khác nhau; 3) Mang tính chất quốc tế, quốc gia; 4) Trở thành một chủ đề bàn bạc nhiều trong các chương trình nghị sự; 5) nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội; 6) Khó giải quyết tận gốc và triêt để; 7) Các vấn đề xã hội mới ngày càng xuất hiện, khó tiên lượng.

Năm 2000, Liên Họp quốc đã xác định 8 vấn đề xã hội- Mục tiêu thiên niên kỷ, bao gồm: 1) Xóa bỏ nghèo cùng cực & đói; 2) Phổ cập giáo dục tiểu học; 3)Tăng cường bình đẳng giới ;4) Giảm tỷ lệ từ vong ở trẻ em; 5).Tăng cường sức khỏe cho bà mẹ; 6) Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét, dịch bệnh; 7) Bảo đảm bền vững về môi trường; 8) Thiết lập quan hệ toàn cầu vì phát triển.

Ở Việt Nam, các vấn đề xã hội bao gồm: 1) Lạm phát; 2) Thất nghiệp; 3) Bất bình đẳng xã hội; 4) Chất lượng giáo đục; 5) Thiên tai, biến đổi khí hậu; 6) Tham nhũng, buôn lậu; 7) ách tc giao thông; 8) Vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường; 9) Chất lượng khám chữa bệnh; 10) Dịch bệnh; 11) vấn đề khác[1]...

Từ những phân tích như vừa nêu có thể thấy, khái niệm và thực tiễn của vấn đề xã hội được hiểu và nhìn nhận khá đa dạng. Vì thế, việc tiếp cận và giải quyết vấn đề xã hội luôn là một thách thức trong nhận thức và hành động của Việt Nam hiện nay. Có thể khẳng định, các vấn đề xã hội ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Việt Nam. Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều đề cập khá rõ nhiều vấn đề xã hội nổi cộm như: tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; suy giảm niềm tin, tệ nạn xã hội như ma túy và mại dâm; tai nạn giao thông và thương tích; chất lượng nền giáo dục và đào tạo; chất lượng hệ thống khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay, tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải quyết các vấn đề xã hội đã có những bước phát triển mới: Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ việc giải quyết vấn đề xã hội sang nhấn mạnh việc phát huy quá trình xã hội hóa trong giải quyết vấn đề xã hội. Từ chỗ không chấp nhận vấn đề xã hội trong quá trình xây dựng đất nước sang chấp nhận các vấn đề xã hội như là hệ quả không mong muốn, song hành với sự phát triển kinh tế- xã hội. Từ chỗ coi việc giải quyết vấn đề xã hội là vấn đề thuần túy có tính chất chi phí nguồn lực sang vấn đề đầu tư cho phát triển bền vững. Từ chỗ giải quyết vẩn đề xã hội mang tính bị động/đối phó sang phương châm: dự báo, chủ động, tích cực hơn. Đặc biệt, trong việc giải quyết vấn đề xã hội đã từng bước lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực trong hoạch định và thực thi hệ thống chính sách an sinh xã hội nhằm giải quyết tốt, hiệu quả vấn đề xã hội2. Những thành tựu trên đây chính là hệ quả của tính ưu việt  chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng.



[1] ĐỒ Văn Quân (2015), Các vắn đề xã hội ờ Việt Nam hiện nay: nhận thứchành động, Tạp chí Thông tin khoa học lý luận chính trị, số 11.

Qua chống dịch COVID-19 chúng ta càng tự hào về Đảng và Bác Hồ kính yêu

 


Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời (năm 1930), luôn không ngừng đổi mới về nhận thức, trách nhiệm, hành động, làm sao ngày càng có đủ năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, toàn dân có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, mọi người bình đẳng, tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

 Tuy là một đất nước không lớn, nhưng với tầm nhìn sâu rộng, Đảng và Bác Hồ kính yêu đã nhanh chóng tiếp cận những tư tưởng khoa học, tiến bộ của chủ nghĩa Mác- Lênin- tư tưởng tiến bộ của thời đại- tư tưởng mang đậm tính nhân văn của ước nguyện bao đời của loài người, để từ đó xây dựng nên một chế độ xã hội chủ nghĩa với nền dân chủ thực sự: của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam. Thời gian qua với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, thế và lực của Việt Nam ngày càng nâng cao. Đặc biệt qua phòng, chống dịch COVID- 19 từ tháng 1 đến tháng 9 vừa qua, trong khi toàn thế giới với tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong rất cao, nhưng ở Việt Nam với số người nhiễm và tử vong rất thấp (có hơn 30 người tử vong). Đây có thể nói nó thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ dân chủ XHCN coi trọng con người trong chống dịch. Điều này được minh chứng rất rõ tính ưu việt của cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, đó là mọi sự lãnh đạo của Đảng, mọi công việc của Nhà nước đều vì nhân dân. Biểu hiện rất rõ là, khi xảy ra dịch bệnh, dẫu biết sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế, nhưng Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện rất tốt việc cách ly xã hội và các biện pháp khác để chống dịch (chúng ta luôn coi tính mạng con người lên trên hết). Từ quan điểm trên, bằng những quy định rất cụ thể, cùng với ý thức tự giác thực hiện của người dân, chúng ta đã nhanh chóng khống chế được dịch bệnh qua hai giai đoạn dịch bùng phát. Đây có thể nói là năng lực  lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của đất nước rất tốt. Qua chống dịch COVID- 19 chúng ta càng tự hào vì có Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại.