Thứ Tư, 2 tháng 12, 2020

Không để cho các thế lực bóp méo sự thật

 

             Khi thế giới hết lời khâm phục Việt Nam, thì những luận điệu xảo trá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm xuyên tạc, bôi đen, bóp méo sự thật, muốn phủ nhận sạch trơn thành quả chống "giặc dịch" của chúng ta.

Chúng cho rằng: Việt Nam chống được dịch Covid-19 là vì Việt Nam đàn áp nhân dân. Chúng gọi những thôn, xã, phường cách ly là những "nhà tù" không hơn không kém. Việt Nam không minh bạch thông tin, bóp nghẹt tự do ngôn luận để che giấu tổn thất do dịch. Trắng trợn hơn, chúng còn cao giọng nói rằng Việt Nam chống được dịch là vì thể chế “độc đảng”… Rõ ràng những luận điệu ấy còn nguy hại hơn cả dịch. trong số những người lên giọng phủ nhận ấy có người lại đang sống trên chính đất nước mình. Khi cả đất nước chống chọi với "giặc Covid-19", những con người ấy cũng được chứng kiến và thụ hưởng thành quả chống dịch, được cả guồng máy xã hội bảo vệ mạng sống…

            Thành quả chống dịch của chúng ta, trong suốt thời gian quan, không ai có thể phủ nhận được. Cả nước chúng sức, chung lòng vượt qua cái chết bằng trí và lực của chính mình, ý chí quyết tâm từ Trung ương xuống các địa phương để ổn định tình hình, kịp thời phát hiện và ngăn chặn dịch lây lan trong cộng đồng, duy trì kết quả ngăn chặn và dập dịch hiệu quả.

            Vậy nên, chúng ta hết sức tỉnh táo, cần kiên trì vạch mặt, không để cho các thế lực thù địch bóp méo, bôi nhọ sự thật và thành tựu của đất nước ta.

 

 Khát vọng phát triển đất nước và đổi mới sáng tạo - Điểm nhấn của Đại hội lần thứ XIII của Đảng

GS, TS. PHÙNG HỮU PHÚ
Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương

TCCS - Trong bài viết “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Tạo bước chuyển căn bản nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo… Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam; hoàn thiện và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với phát huy ý chí, khát vọng phát triển và sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới”(1).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp Đoàn học sinh, sinh viên tiêu biểu, xuất sắc _Ảnh: TTXVN

Nhiều điểm mới và dấu ấn nổi bật

1- Dự thảo Văn kiện chuẩn bị trình Đại hội XIII của Đảng có nhiều điểm mới. Xuất phát từ nhu cầu khách quan cấp thiết của thực tiễn đất nước và thế giới với nhiều thời cơ, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi chúng ta phải vươn lên mạnh mẽ hơn, đổi mới đồng bộ, toàn diện hơn, ở trình độ cao hơn. Mới là do khả năng thực tế của đất nước sau gần 35 năm đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ quá trình lao động, sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; do đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tích cực hội nhập quốc tế thành công nên đã cho phép chúng ta tiến cùng thời đại, nắm bắt, dự báo, tiếp cận được những xu thế phát triển và những giá trị phổ quát của nhân loại - những nhân tố đó tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam có thể phát triển nhanh, bền vững hơn ở tầm mức mới. Như vậy, những điểm mới của Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng phản ánh sự tương thích giữa nhu cầu phát triển khách quan của đất nước trong bối cảnh mới và năng lực tiếp tục đổi mới của Đảng và nhân dân ta.

Những điểm mới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không phải chỉ mới về câu chữ, mà mới từ cách tiếp cận, tầm bao quát, từ những tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu phấn đấu và những định hướng phát triển đất nước trên cơ sở tổng kết nghiêm túc thực tiễn đổi mới đầy sáng tạo của nhân dân ta qua 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), trọng tâm là 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; từ sự phân tích, dự báo xu thế phát triển của thế giới; nghiên cứu, tiếp thu các thành quả phát triển lý luận.

2- Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, mỗi kỳ đại hội Đảng đều có một số điểm nhấn tạo ấn tượng sâu đậm trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự thống nhất, đồng thuận, tin tưởng trong Đảng, trong xã hội. Điểm nhấn của Đại hội VI là Đại hội đổi mới; Đại hội VII là Đại hội đề ra Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đại hội VIII là Đại hội đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Đại hội IX là Đại hội xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đại hội X là Đại hội tổng kết 20 năm đổi mới, xác định mục tiêu đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng nước kém phát triển; Đại hội XI là Đại hội bổ sung, phát triển Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và quyết định đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, hội nhập quốc tế; Đại hội XII là Đại hội chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế... Vậy điểm nhấn của Đại hội XIII là gì?

Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng có những điểm nhấn, trong đó có hai thành tố mới được đề cập và nhấn mạnh nhiều lần, từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược. Đó là khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới sáng tạo. Đây có thể được xem là điểm nhấn trong Dự thảo Văn kiện và của Đại hội XIII, phản ánh nhận thức mới của Đảng về sức mạnh nội sinh và phương thức phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là nguồn lực nội sinh, là năng lượng tiềm tàng tạo thành sức mạnh vĩ đại của dân tộc trong thời kỳ mới

1- Khát vọng, theo cách hiểu phổ quát, là một trạng thái tinh thần, phản ánh sự ước ao, “mong muốn, đòi hỏi với một sự thôi thúc mạnh mẽ”(2). Kết Đ. Ha-reo (Keith D. Harrell) - thuyết trình gia nổi tiếng nước Mỹ, trong nhiều tác phẩm(3) đã trình bày sâu sắc, sinh động ý nghĩa của khát vọng như là một dạng thức tích cực của thái độ con người đối với cuộc sống. Từ triết lý “thái độ là tất cả”, Kết Đ. Ha-reo đã phân tích ý nghĩa lớn lao của khát vọng. Theo ông, khát vọng chính là nguồn động lực có sức mạnh vô biên trong mỗi con người, được thể hiện qua những hoạt động không ngơi nghỉ để con người không bao giờ từ bỏ ước mơ, không bao giờ khuất phục trước hoàn cảnh.

Khát vọng phát triển của một dân tộc là sự cộng hưởng những khát vọng vươn lên của cộng đồng, của con người cùng quốc gia - dân tộc, tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai(4). Đối với Việt Nam, một dân tộc có truyền thống đoàn kết, văn hiến, anh hùng, khát vọng phát triển đất nước thật sự là một sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những kỳ tích trong suốt tiến trình hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước.

2- Thời trung đại, Việt Nam đánh thắng tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc, giữ vững nền độc lập dân tộc, sáng tạo nên nền văn minh Đại Việt rực rỡ không phải chủ yếu bằng tiềm năng quân sự, bằng sức mạnh vật chất, mà trước hết và chủ yếu bằng sức mạnh quật khởi vĩ đại bắt nguồn từ khát vọng về chủ quyền quốc gia: “Sông núi nước Nam vua Nam ở” (Lý Thường Kiệt), về một quốc gia Đại Việt “Vốn xây nền văn hiến đã lâu; núi sông, bờ cõi đã chia, phong tục Bắc, Nam cũng khác” (Nguyễn Trãi) và khát vọng về một đất nước phú cường “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).       

Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã đập tan gông xiềng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến, xây dựng và bảo vệ Nhà nước cách mạng; đánh thắng các thế lực xâm lược hùng mạnh, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những chiến công oanh liệt đó được tạo nên bằng sức mạnh vô địch của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng khởi nguồn từ khát vọng mãnh liệt được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(5); “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(6); Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”(7).

Sau khi đất nước thống nhất, tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, với khát vọng chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, nhân dân đồng lòng tin theo Đảng tiến hành sự nghiệp đổi mới. Khát vọng ấm no, hạnh phúc đã chuyển hóa thành sức mạnh to lớn đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng trong những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX; vượt qua cuộc chấn động chính trị toàn cầu khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xô viết và Đông Âu sụp đổ, cùng những thử thách khắc nghiệt do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khu vực những năm 1997 - 1998 và cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu những năm 2008 - 2009, đưa đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; vượt lên, kiềm chế thành công đại dịch Covid-19, hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất do dịch bệnh gây ra, ổn định kinh tế - xã hội, bảo đảm đời sống nhân dân, khôi phục, duy trì tăng trưởng. Khát vọng vươn lên của dân tộc được phản ánh cụ thể và vô cùng sinh động qua khát vọng chiến thắng của Đội bóng U23 Việt Nam trong năm 2018, 2019 trên đấu trường khu vực và châu lục. Một đội ngũ cầu thủ được đào tạo bài bản; được tổ chức chặt chẽ, hợp lý; được dẫn dắt bởi một đấu pháp khoa học và, đặc biệt với khát vọng Việt Nam chiến thắng, Việt Nam vô địch đã tạo nên kỳ tích trên sân cỏ của Đội U23, thổi bùng lên khát vọng vươn lên mãnh liệt của cả dân tộc. Đây chính là thước đo và cũng là minh chứng cho sức mạnh kỳ diệu của khát vọng vươn lên của toàn dân tộc.

Khát vọng Việt Nam chiến thắng, Việt Nam vô địch đã tạo nên kỳ tích trên sân cỏ của Đội U23, thổi bùng lên khát vọng vươn lên mãnh liệt của cả dân tộc _Ảnh: Tư liệu

3- Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, trong Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII, Đảng chủ trương khơi dậy ở một tầm cao mới khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không phải là một huyễn tưởng xuất phát từ ngẫu hứng chủ quan, duy ý chí, mà là một khát vọng bắt nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước sau gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; vào bản lĩnh và những kinh nghiệm dày dạn mà Đảng, nhân dân ta đã kiểm nghiệm, đúc kết trong thực tiễn lao động, sáng tạo suốt mấy chục năm qua. Đó cũng không phải là khát vọng giản đơn, xuôi chiều, mà là khát vọng được bồi đắp trên cơ sở phân tích, dự báo, lường đoán kỹ lưỡng những thời cơ, thuận lợi có thể nắm bắt, phát huy; đồng thời, tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong cần phải kiên quyết khắc phục, thích ứng, vượt qua với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nhạy bén chớp thời cơ, chủ động ứng phó với nguy cơ, chuyển hóa nguy cơ thành vận hội phát triển.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không chỉ là mơ ước mà là khát vọng mang sức sống hiện thực, được hình thành, bồi đắp trên một cơ tầng khoa học về lộ trình hướng đích với những bước đi được dự liệu rõ ràng. Kế thừa, hoàn thiện những mục tiêu đã được xác định từ những đại hội Đảng trước đây; căn cứ vào điều kiện, khả năng thực tế của đất nước và xu thế phát triển của thế giới, Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII xác định các mục tiêu cụ thể: Phấn đấu đến năm 2025, nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc gắn liền với quá trình xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và giá trị chuẩn mực, cùng sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới(8),  gắn liền với phát huy đồng bộ hệ động lực phát triển: dân chủ xã hội chủ nghĩa; đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo...(9).

Đổi mới sáng tạo - động lực thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ

1- Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo. Đổi mới là một quá trình tạo ra những biến đổi có tính cách mạng. Đổi mới và sáng tạo là hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau trong một quá trình phát triển. Trong đổi mới có sáng tạo; sáng tạo gắn liền với đổi mới. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo từ năm 1986 đến nay là một công trình sáng tạo vĩ đại của toàn Đảng, toàn dân ta. Đó là một quá trình sáng tạo liên tục nhằm xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới từ gốc đến ngọn, tạo ra cả lực lượng sản xuất mới lẫn quan hệ sản xuất mới, cả cơ sở kinh tế lẫn thượng tầng kiến trúc mới, cả đời sống vật chất mới lẫn đời sống tinh thần mới(10).

Đổi mới mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn trên nền tảng sáng tạo và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ để tạo ra chất lượng mới, những giá trị mới trong phát triển kinh tế - xã hội _Ảnh: TTXVN

Sự nghiệp đổi mới kết tinh thành quả sáng tạo của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên các lĩnh vực của đời sống đất nước, trên mọi địa bàn với những cấp độ, trình độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ bộ phận đến tổng thể, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh, phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Đổi mới bắt đầu từ sự tổng kết thực tiễn, đúc rút những kinh nghiệm thành công và chưa thành công, trên cơ sở đó tìm tòi, sáng tạo cách nghĩ, cách làm mới. Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới chính là bắt đầu từ những bài học vô cùng sâu sắc được đúc kết từ thực tiễn những năm trước đổi mới và sự tổng kết những mô hình mới, những cách làm sáng tạo của nhân dân. Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sáng tạo được nâng lên tầm mức mới, dựa trên sự cải tiến, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào lãnh đạo, quản lý, sản xuất, kinh doanh, tạo ra sự phát triển trên các lĩnh vực, các khu vực, các địa bàn... Trình độ sáng tạo trong giai đoạn này có bước tiến mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước trong gần 35 năm qua gắn liền với quá trình đổi mới, sáng tạo bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân. Tuy nhiên, do trình độ khoa học, công nghệ và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước còn thấp nên cấp độ, hiệu quả sáng tạo ở nước ta còn hạn chế, chưa đủ sức tạo ra những bước phát triển đột phá.

2- Hiện nay, thế giới đang bước vào một thời kỳ phát triển mới. Cuộc cách mạng công nghệ mới, được gọi là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đang diễn ra với quy mô lớn, tốc độ rất nhanh chưa từng có tiền lệ, với những đột phá về công nghệ, nhất là trên các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ người máy, in-tơ-nét kết nối vạn vật, công nghệ na-nô, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu... Những đột phá từ sự tương tác, thúc đẩy nhau của công nghệ đang tạo ra một thế giới số hóa, tự động hóa, mọi hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, thông minh hơn. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, tạo ra cả thời cơ và thách thức với nhiều đột biến trong quản lý, quốc phòng, an ninh, sản xuất, kinh doanh, môi trường, sinh hoạt và đời sống xã hội, con người(11).

Các nước đều chú trọng xây dựng, thực thi chiến lược tận dụng thành tựu và ứng phó với những thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư -  yếu tố quyết định sự phát triển bứt phá hay chậm trễ, tụt hậu của một quốc gia. Đổi mới sáng tạo là tư duy mới trong chiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia và trở thành ngôn ngữ chung có ý nghĩa toàn cầu, thể hiện một cấp độ mới, trình độ mới của sáng tạo, đổi mới, phát triển - đổi mới mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn trên nền tảng sáng tạo và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ để tạo ra chất lượng mới, những giá trị mới trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong sản phẩm hàng hóa nói riêng. Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, nâng cao chỉ số đổi mới sáng tạo là công việc đang thu hút sự nỗ lực của các nước, các cộng đồng lao động sáng tạo trên toàn thế giới.

3- Với tư duy nhạy bén, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nghiên cứu nắm bắt, nâng cao năng lực tiếp cận và và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đặc biệt, ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Nghị quyết nêu 4 quan điểm chỉ đạo, trong đó nhấn mạnh: “Chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội..., coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơ hội dể Việt Nam bứt phá trong phát tiển kinh tế - xã hội”; “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp. Cần có cách tiếp cận mở, sáng tạo, cho thí điểm những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, tạo mọi thuận lợi cho đổi mới sáng tạo”(12).

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp (Trong ảnh: Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh tỉnh Thừa Thiên Huế - mô hình trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh cấp tỉnh đầu tiên ở Việt Nam) _Ảnh: Tư liệu

Tư duy nhạy bén và tinh thần của Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị được khẳng định, nâng tầm trong Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII, và đổi mới sáng tạo có thể được xem là một điểm nhấn của Đại hội.

4- Cần hiểu đúng về đổi mới sáng tạo để thống nhất nhận thức, hành động trong toàn Đảng, toàn xã hội.

Đổi mới sáng tạo với triết lý không có gì là không thể là thuộc tính quan trọng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phản ánh tư duy và phương thức phát triển mới mang tính phổ biến của toàn nhân loại. Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng trực tiếp, sâu rộng, do đó chúng ta cần tiếp cận, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, những giá trị trí tuệ mới, những kinh nghiệm thành công của thế giới để tiến cùng thời đại. Hơn nữa, đổi mới sáng tạo chính là sự phát triển hợp quy luật ở tầm vóc mới, trình độ mới của quá trình đổi mới vốn có của Đảng, nhân dân ta trong hơn ba thập niên qua; là động lực để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đáp ứng yêu cầu dựng xây đất nước trong thời kỳ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của đổi mới, sáng tạo. Sinh thời, Người căn dặn: Thế giới ngày ngày đổi mới, xã hội ngày một phát triển, nhân dân ngày càng tiến bộ, do vậy cán bộ, đảng viên không thể “giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi”(13), mà tư tưởng, hành động cũng phải phát triển.

Đổi mới sáng tạo phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ cả về tư duy và hành động, phải “đổi mới cách nghĩ, cách làm, đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách làm việc, đổi mới tổ chức và cán bộ”(14).

Công cuộc đổi mới ở nước ta được bắt đầu từ sự đổi mới tư duy của Đảng, trước hết là tư duy kinh tế, theo nguyên tắc tôn trọng và làm theo quy luật khách quan. Bối cảnh của thế giới ngày nay đang xuất hiện rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mới mẻ, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, nâng tầm trí tuệ, dẫn dắt đất nước tiến kịp và tiến cùng thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực, ngời sáng về phong cách tư duy đổi mới: nhạy bén nắm bắt diễn biến lịch sử, chủ động tranh thủ thời cơ, giữ vững nguyên tắc và mạnh dạn sáng tạo, kịp thời đổi mới, gắn liền lý luận với thực tiễn(15)Đổi mới sáng tạo về tư duy cần nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa “kiên định và đổi mới, vận dụng sáng tạo” theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định phải gắn liền với sáng tạo và sáng tạo phải trên cơ sở kiên định, phù hợp với thực tiễn, với yêu cầu đổi mới, hội nhập, phát triển đất nước. Kiên định một cách máy móc thì dễ dẫn đến giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ, trì trệ, nhưng nếu không kiên định, mà đổi mới sáng tạo một cách vô nguyên tắc cũng rất dễ rơi vào chủ nghĩa xét lại, chệch hướng, “đổi màu”(16).

Trong hoạt động thực tiễn, đổi mới sáng tạo phải được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực với nhiều giải pháp đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, với lộ trình, bước đi được tính toán kỹ lưỡng, khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế đất nước, tránh nôn nóng, duy ý chí dẫn đến phiêu lưu, mạo hiểm hoặc bàng quan, do dự, ngại khó, ngại khổ, chậm trễ, bỏ lỡ thời cơ phát triển. Cần chú trọng xây dựng môi trường thể chế thuận lợi; tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ; thúc đẩy phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông..., tạo những tiền đề thiết yếu để thực hiện đổi mới sáng tạo có kết quả. Ưu tiên thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong phát triển công nghệ số, thực hiện chuyển đổi số trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản trị..., từng bước hình thành kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, tạo ra những giá trị mới và sức mạnh tổng hợp mới của đất nước. Thước đo tính hợp lý của đổi mới sáng tạo là hiệu quả phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân theo chân lý Hồ Chí Minh: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với  lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”(17).

Đổi mới sáng tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trong đó đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, phải đi tiên phong, nêu gương sáng, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì sự nghiệp chung; đội ngũ trí thức, doanh nhân đóng vai trò nòng cốt trong khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo doanh nghiệp; động viên, phát huy vai trò chủ thể và sức sáng tạo vĩ đại của nhân dân; và qua đó, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam.

Với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc được thúc đẩy bằng động lực đổi mới sáng tạo, nhất định đất nước ta sẽ “bước  tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu”(18) trong thế kỷ XXI, như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và mong ước cháy bỏng của toàn dân tộc ta./.

 

Thủ tướng: Xử lý nghiêm các vi phạm dẫn đến lây nhiễm COVID-19 ra cộng đồng

Chiều 1/12, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì cuộc họp của Chính phủ về các biện pháp phòng, chống COVID-19.

Thủ tướng yêu cầu kiểm điểm trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc không tuân thủ quy định về cách ly, phòng chống dịch, dẫn đến xuất hiện các ca lây nhiễm trong cộng đồng thời gian vừa qua.  

 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Theo báo cáo của lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 28/11 đến nay, trên địa bàn thành phố xuất hiện 4 trường hợp mắc COVID-19. Bắt đầu từ ca bệnh 1342 là nam tiếp viên của Hãng Hàng không quốc gia Vietnam Airlines. Tiếp viên này bay từ nước ngoài về, các hành khách trên chuyến bay sau này đều có kết quả xét nghiệm âm tính với SARS-Cov-2. Tuy nhiên, trong quá trình cách ly tại khu cách ly của Vietnam Airlines, bệnh nhân 1342 đã tiếp xúc với một người khác mà người này sau đó được xác định mắc COVID-19. 

Sau khi xét nghiệm 2 lần cho kết quả âm tính (ngày 15 và 18/11), bệnh nhân 1342 được cho về cách ly tại nhà trọ (P305, lầu 3 (tầng 4), số 50 Bạch Đằng, Phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh). Trong quá trình cách ly tiếp viên này có tiếp xúc trực tiếp với 3 người, gồm: mẹ đẻ và hai người bạn (một nam, một nữ).

Khi tiếp viên hàng không được kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính với SARS-CoV-2 thì người bạn nam tiếp xúc với bệnh nhân này cũng được lấy mẫu xét nghiệm và kết quả cho thấy anh này dương tính với SARS-CoV-2. Đây chính là bệnh nhân 1347. Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân 1342, bệnh nhân 1347 vẫn tiếp tục đi dạy học, tiếp xúc với nhiều người, làm cho 2 người khác mắc COVID-19.

 Ban Chỉ đạo phòng, chống COVID-19 Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Một trường hợp lây nhiễm từ bệnh nhân 1347 là bệnh nhi nam, 1 tuổi, trú ở Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Bệnh nhi có tiền sử tiếp xúc gần với BN1347 vào các ngày 22, 23, 25, 27/11 (bố mẹ bệnh nhi nhờ bệnh nhân 1347 trông hộ bé). Ngày 30/11, sau khi biết thông tin bệnh nhân 1347 dương tính với COVID-19, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật TPHCM đã truy vết và đưa bé cùng mẹ bé đi cách ly tập trung tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Hồ Chí Minh, bố bé và các thành viên trong gia đình được cách ly tại nhà. Bé được lấy mẫu, xét nghiệm và có kết quả dương tính với SARS-CoV-2 vào đêm 30/11.

Tổng số các ca có tiếp xúc với các bệnh nhân COVID-19 là 513 người theo kết quả truy vết ban đầu, trong đó tiếp xúc gần (F1) là 99 người. Những trường hợp này đã được đã cách ly, lấy mẫu xét nghiệm toàn bộ, trong đó có 81 trường hợp âm tính, 18 trường hợp đang chờ kết quả. Có 414 trường hợp tiếp xúc với người tiếp xúc gần (F2) là, được cách ly tại nhà, trong đó 337 trường hợp đã được lấy mẫu xét nghiệm cho kết quả 123 trường hợp âm tính với SARS-CoV-2, số còn lại đang chờ kết quả xét nghiệm.

Đến 6h00 ngày 1/12/2020, số trường hợp mắc COVID-19 được xác định liên quan đến bệnh nhân 1347 là 2 ca, 204 trường hợp tiếp xúc có kết quả âm tính với SARS-CoV-2. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM tiếp tục điều tra, lấy mẫu xét nghiệm, cách ly 506 trường hợp, trong đó cách ly tập trung 111 trường hợp, cách ly tại nhà 395 trường hợp; đồng thời phong tỏa các địa điểm mà 2 bệnh nhân từng đến.

 Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Báo cáo tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, việc điều tra dịch tễ xác định, Vietnam Airlines và bệnh nhân 1342, tức tiếp viên hàng không của hãng này, đều đã vi phạm nghiêm trọng quy định về cách ly. Cụ thể, kết quả xác minh cho thấy, bệnh nhân 1342 lây trong cơ sở cách ly tập trung từ bệnh nhân 1325 do không tuân thủ quy định cách ly, tiếp xúc với người khác trong cơ sở cách ly tập trung. Trường hợp bệnh nhân 1347 bị lây nhiễm do bệnh nhân 1342 không tuân thủ các quy định cách ly tại nhà.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long, xác định trách nhiệm cá nhân, tổ chức liên quan, căn cứ Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm, các văn bản  hướng dẫn thi hành luật, văn bản phòng, chống COVID-19 thì có thể khẳng định, bệnh nhân 1342 đã vi phạm nghiêm trọng quy định về phòng, chống COVID-19 và quy định cách ly tại khu cách ly tập trung của tổ bay và cách ly tổ bay tại nhà. Có 2 hành vi vi phạm nghiêm trọng, là ngay trong khu cách ly tập trung đã vi phạm tiếp xúc với bệnh nhân khác và lây; đồng thời trong thời gian cách ly tại nhà bệnh nhân này vẫn lại tiếp xúc với người khác.

Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long, khu cách ly do Vietnam Airlines quản lý cũng không tuân thủ các quy định về cách ly y tế, phòng, chống COVID-19 tại cơ sở cách ly tập trung. Theo quy định của Bộ Y tế, khi phát hiện bệnh nhân dương tính với SARS-CoV-2 thì ngay lập tức phải đưa các đối tượng tiếp xúc cách ly tập trung 14 ngày, nhưng trên thực tế đối tượng lại được về cách ly tại nhà.  Cùng với đó, khu quản lý nhà trọ ở Phường 2, quận Tân Bình cũng không thực hiện đúng quy định về các biện pháp cách ly tại nhà.   

Chỉ đạo tại phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định phòng, chống dịch, đồng thời chỉ đạo phải xử lý nghiêm cả tổ chức và cá nhân vi phạm theo quy định để làm gương.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, trước diễn biến mới về tình hình dịch bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng yêu cầu cần bình tĩnh, nêu cao tinh thần cảnh giác, thực hiện nghiêm túc biện pháp 5K; trước hết là 2K gồm: đeo khẩu trang và khử khuẩn. Thủ tướng nêu rõ, đây là biện pháp đơn giản, dễ làm nhưng hết sức hiệu quả, bởi một số nước thất bại chính là do không tuân thủ đeo khẩu trang. Thủ tướng cũng lưu ý rằng ở nước ta, nhiều trường học, bệnh viện, siêu thị chưa làm tốt các biện pháp này. Các thành phố phố lớn, đô thị như Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng và các nơi có nguy cơ dịch bệnh đều phải thực hiện tốt biện pháp này. 


Từ kinh nghiệm của hai đợt dịch trước, Thủ tướng nhấn mạnh, cần tiếp tục thực hiện  kiểm soát chặt chẽ dịch COVID-19 từ bên ngoài, khoanh vùng dập dịch từ bên trong và chữa trị kịp thời, nhanh chóng cho người bệnh. Nhất là hiện nay, nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ bên ngoài vào trong nước là rất cao bởi có số lượng lớn người Việt Nam về nước.

Thủ tướng yêu cầu Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện cấp bách, thần tốc việc điều tra truy vết, cách ly mọi đối tượng F1, F2, không để vòng tuần hoàn thứ 3 lây nhiễm dịch ra cộng đồng. Thành phố Hồ Chí Minh không bị coi là ổ dịch mà là nơi lây nhiễm từ bên ngoài.

Để làm rõ trách nhiệm để xảy ra lây nhiễm mang về thành phố, Thủ tướng yêu cầu Bộ Giao thông Vận tải chủ trì, chỉ đạo làm rõ trách nhiệm và xác định đây là vi phạm nghiêm trọng cần xử lý nghiêm tổ chức cá nhân liên quan, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Bộ Y tế, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát việc này, không thể không xử lý để răn đen, giáo dục chung, nhất là tại các khu y tế tập trung.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo, các địa phương không được lơ là, chủ quan, bởi dịch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Theo đó, Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải kiểm tra, đôn đốc quyết liệt thực hiện; tránh tâm lý chủ quan. Sự việc vừa qua là bài học cần rút kinh nghiệm sâu sắc, nhất là ngành y tế. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khi tiếp khách nước ngoài hoặc người từ nước ngoài về thì phải hỏi ý kiến của Bộ Y tế.

 Thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 tham dự cuộc họp. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Tại cuộc họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đồng ý tạm dừng các chuyến bay thương mại, chỉ thực hiện các chuyến bay đưa người Việt Nam về nước đối với các trường hợp đủ điều kiện. Các hãng hàng không của Việt Nam khi có chuyến bay về nước phải thực hiện nghiêm túc các quy định về cách ly đối với tổ bay.

Thủ tướng cũng chỉ đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý chặt chẽ biên giới và hoạt động xuất nhập cảnh. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục dừng các hoạt động đông người không cần thiết. Các chương trình đông người nếu diễn ra phải thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định. Cần thực hiện giãn cách xã hội với các khu vực có nguy cơ cao và có chủ trương khoanh vùng hợp lý.

Thủ tướng yêu cầu các cơ quan truyền thông, tiếp tục tuyên truyền để thấy rằng đại dịch COVID-19 vẫn rất nghiêm trọng, không được chủ quan. Cần tiếp tục hướng dẫn người dân hiểu và phòng, chống dịch bệnh hiệu quả. Cần ngăn chặn với các thông tin xuyên tạc, bịa đặt về dịch bệnh gây hoang mang dư luận.  

Thủ tướng cũng yêu cầu ngành y tế cần sớm hợp tác với nước ngoài để sản xuất vắc xin, khi cần thiết thì có thể tính toán mua vắc xin phục vụ nhu cầu trong nước. Bộ Y tế cần có phương án cụ về vấn đề này để báo cáo Thường trực Chính phủ cho ý kiến.

Thủ tướng cũng cho biết, sau cuộc họp này, Thủ tướng sẽ ban hành công điện hoặc Chỉ thị về phòng, chống COVID-19 để các bộ, ngành, địa phương và nhân dân thực hiện.

Theo Quang Vũ (TTXVN

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2020

TP.HCM mở rộng xét nghiệm COVID-19 đến Tết Nguyên đán

 Đây là thông tin được ông Nguyễn Tấn Bình, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM đưa ra tại cuộc họp báo thông tin về các ca mắc COVID-19 chiều tối 1/12.

CÁN BỘ KIỂM TRA "BAO CÔNG" THỜI ĐẠI MỚI

 Tổng Bí thư yêu cầu tập trung hoàn hiện cơ chế kiểm tra, giám sát đối với công tác cán bộ; chống tham nhũng, lãng phí, chống tư tưởng quyền anh, quyền tôi, "cua cậy càng, cá cậy vây". Công tác kiểm tra Đảng, theo Tổng Bí thư, phải là việc làm thường xuyên, có tính phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm của cán bộ, Đảng viên với mục đích "trị bệnh cứu người", giữ được cán bộ. Từ kết quả xử lý nhiều tổ chức, Đảng viên vi phạm, góp phần quan trọng đấu tranh chống tham nhũng, Tổng Bí thư muốn, thời gian tới ngành chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ có biểu hiện tham nhũng; bị nhiều phản ánh, tố cáo tham nhũng; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong công tác cán bộ. Khắc phục cho được tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong công tác kiểm tra, giám sát. Tôi đề nghị Ủy ban Kiểm tra Trung ương tăng cường chỉ đạo ủy ban kiểm tra cấp dưới trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; tránh tình trạng "trông chờ, nghe ngóng", "nhẹ trên, nặng dưới" hoặc bao che sai phạm của các địa phương, cơ quan, đơn vị. Cơ quan kiểm tra cần thật sự là "thanh bảo kiếm" sắc bén, có phẩm chất đạo đức trong sáng, trong sạch, chí công vô tư, có dũng khí đấu tranh ngăn chặn những việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân. "Cán bộ kiểm tra phải là chiến sĩ kiên cường, có bản lĩnh, đặc biệt phải có dũng khí đấu tranh, chính trực và hơn ai hết phải liêm, phải sạch. Không liêm, không sạch thì không nói được ai, không kiểm tra, giám sát, không kỷ luật được người khác. Phải chống tiêu cực ngay trong các cơ quan và cá nhân những người làm công tác chống tiêu cực. Phải là những "Bao Công" trong thời đại mới" - Tổng Bí thư nói. Chia sẻ nhiệm vụ của ngành tới đây hết sức nặng nề, cán bộ kiểm tra luôn phải đối mặt, đấu tranh với những sai phạm, tiêu cực của đồng chí, đồng đội và cả những người thân; luôn phải đấu tranh với chính mình để không phạm phải những cám dỗ đời thường… là những thách thức không nhỏ, Tổng Bí thư nhận định, vị trí, vai trò, uy tín của UB Kiểm tra Trung ương đang được đề cao, quyền hạn được mở rộng, cần ra quân mạnh mẽ hơn nữa để nhiệm kỳ tới của Đảng công tác kiểm tra sẽ có bước tiến mới, mạnh mẽ, quyết liệt hơn, đạt kết quả cao hơn.

Nguồn: Dân trí.

CÁCH MẠNG THÁNG 10 NGA VỚI CUỘC ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

 Hơn một thế kỷ trước, trong lúc cách mạng nước ta đang rơi vào bế tắc như “không có đường ra” thì tại nước Nga, dưới sự lãnh đạo thiên tài của lãnh tụ V. I. Lê-nin và Đảng Bolshevik, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã đứng lên lật đổ chế độ Nga hoàng, lập nên nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, mở ra thời đại mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Thắng lợi vĩ đại ấy không chỉ “làm rung chuyển” cả thế giới đương đại mà còn tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam từ đó về sau.

V.I. Lê-nin đọc diễn văn tại Quảng trường Đỏ ở Moskva trong Lễ kỷ niệm một năm ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, ngày 7-11-1918_Ảnh: Tư liệu TTXVN

1. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống chống giặc ngoại xâm và yêu nước nồng nàn nên kể từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa của các sĩ phu yêu nước với nhiều xu hướng diễn ra. Tiêu biểu là: Phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa nông dân ở Yên Thế, Phong trào Đông Du, Phong trào Duy Tân… Mặc dù diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ nhưng các phong trào này đã không giành được thắng lợi do lãnh tụ của các phong trào còn hạn chế về nhận thức lịch sử và lập trường giai cấp, chưa có đường lối cứu nước đúng đắn, chưa tập hợp được quần chúng nhân dân để đấu tranh.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, chứng kiến bao nỗi đắng cay, khổ cực của nhân dân, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã nung nấu quyết tâm tìm một con đường mới để cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc. Song, không giống như cụ Phan Bội Châu, dù đã “Nam bôn, Bắc tẩu, dấu chân in gần khắp nửa châu Á” mà “tự xét thấy chẳng việc gì nên”, để đến khi sức tàn, lực kiệt vẫn ôm mối hận mà than rằng “cuộc đời tôi trăm thất bại chẳng một lần thành công”, Nguyễn Tất Thành không tìm đường cứu nước ở phương Đông lạc hậu, Người quyết định sang Pháp, hướng đến các nước phương Tây để trước hết là tìm hiểu cho rõ những gì đang ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”; xem vì sao các nước phương Tây lại trở nên phú cường, rồi sau đó sẽ trở về giúp đồng bào.

Với cách suy nghĩ táo bạo ấy, Người đã lựa chọn con đường cứu nước theo hướng mới, “hoàn toàn khác” so với các vị tiền bối. Ngày 5-6-1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với hai bàn tay trắng đã lên tàu Latouche - Tréville rời Tổ quốc thân yêu, vượt trùng dương đi tìm chân lý cách mạng. Cuộc hành trình trong sáu năm từ châu Á sang châu Âu, châu Phi, Mỹ rồi lại trở về châu Âu năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức và khám phá ra nhiều điều mới mẻ. Tìm hiểu các cuộc cách mạng ở Pháp, Anh, Mỹ, Người cho rằng, đó là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng chưa đến nơi: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(1), nên: Muốn dân tộc được độc lập, muốn nhân dân lao động thoát khỏi thân phận người nô lệ, thì phải làm cách mạng một cách triệt để. Không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, không thể thiết lập mô hình nhà nước cộng hòa tư sản, nơi chính quyền chủ yếu thuộc về giai cấp hữu sản. Người chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(2).

Khi Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi (ngày 7-11-1917), mặc dù chưa biết nhiều về cuộc cách mạng ấy, nhưng “về cảm tính” Nguyễn Ái Quốc nhận thấy mình “có mối tình đoàn kết với cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy”. Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô trực tiếp nghiên cứu về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Xô viết; được tận mắt chứng kiến những thành tựu vĩ đại do Cách mạng Tháng Mười Nga mang lại trên quê hương Xô viết. Bằng sự trải nghiệm thực tiễn, Người đã rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”(3). Bởi vậy muốn cách mạng thành công thì phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga.

Dù thời gian không dài, song những kiến thức trong những năm tháng ở nước Nga đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức sâu sắc hơn về V. I. Lê-nin và học thuyết cách mạng của Người; về Cách mạng Tháng Mười Nga và những bài học kinh nghiệm quý báu của Nhà nước Nga Xô viết, để từ đó tìm đường trở về Tổ quốc, hoạch định một lộ trình cho công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản, bằng sự độc lập, tự chủ và với những cách thức truyền bá hết sức phong phú và đa dạng, dễ gần, dễ hiểu, Nguyễn Ái Quốc đã làm tất cả những gì có thể để truyền bá lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Sản phẩm của quá trình chuẩn bị công phu đó chính là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu tháng 2-1930. Đảng mới ra đời nhưng đã có ngay một Cương lĩnh chính trị đúng đắn, phác thảo những vấn đề cơ bản về chiến lược của cách mạng Việt Nam, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước, mở ra thời đại mới cho cách mạng Việt Nam.

2. Xác định đúng đường lối chiến lược giải phóng dân tộc trong bối cảnh lịch sử phức tạp thời đó đã là khó, làm thế nào để đưa tư tưởng của đường lối vào thực tiễn, biến mục tiêu lý tưởng thành hiện thực lại càng khó hơn. Thực tế lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của Đảng và nhân dân ta từ năm 1930 đến năm 1975 không phải lúc nào cũng bằng phẳng, chỉ có thuận lợi và thành công; trái lại, đó là sự nghiệp đầy cam go, thử thách, thậm chí có cả những thời điểm phong trào cách mạng bị địch khủng bố và tàn sát dã man, tình cảnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, vận mệnh của Đảng và dân tộc rơi vào tình thế hiểm nghèo tưởng chừng như không thể vượt qua.

Sẽ là không đầy đủ nếu đề cập đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc, bảo vệ và thống nhất Tổ quốc mà lại không nhắc đến giá trị của những bài học kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Mười Nga được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng và thể hiện thành công ở Việt Nam. Đó là bài học về chuẩn bị lực lượng cách mạng, liên minh công nông; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng; bài học về nghệ thuật tạo và chớp thời cơ; về xây dựng Đảng và chăm lo củng cố chính quyền cách mạng…

Đặc biệt, có một sự tương đồng giữa cách mạng Việt Nam và Cách mạng Tháng Mười Nga. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Xô viết đã làm cho các nước đế quốc hết sức lo lắng. Ngay từ cuối tháng 11-1917, các nước đế quốc đã họp bàn tại Thủ đô Paris (Pháp), âm mưu tiến hành “cuộc thập tự chinh chống cộng” nhằm bóp chết nước Cộng hòa Xô viết non trẻ. Để rồi chính quyền Xô viết trẻ tuổi ấy vừa phải đương đầu với cuộc nội chiến do các thế lực phản động trong nước, vừa phải chiến đấu chống cuộc can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc bên ngoài tiến hành, kéo dài trong ba năm kể từ đầu năm 1918 đến cuối năm 1920. Trong cùng một thời điểm phải đương đầu với “thù trong, giặc ngoài” khiến cho mục tiêu giữ vững chính quyền Xô viết trở nên hết sức gay go và khó khăn.

Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng non trẻ đã bị các thế lực đế quốc, phản động bao vây, tấn công. Ở miền Bắc, hai mươi vạn quân Tưởng dưới danh nghĩa quân Đồng minh kéo vào để tước vũ khí quân Nhật, nhưng thực chất là để phá hoại cách mạng Việt Nam, đã gây cho ta nhiều khó khăn. Ở miền Nam, cũng với danh nghĩa lực lượng Đồng minh, hơn một vạn quân đội Anh vào tước vũ khí quân Nhật, nhưng trên thực tế, đế quốc Anh đã giúp thực dân Pháp trở lại chiếm Việt Nam và cả Đông Dương. Quân Nhật đã đầu hàng đồng minh nhưng vẫn còn sáu vạn quân trên đất nước ta. Các thế lực phản động như Việt Quốc, Việt Cách, các lực lượng phản động đội lốt tôn giáo dựa vào thế lực bên ngoài chống phá cách mạng nước ta rất quyết liệt. Trên đất nước ta chưa bao giờ cùng một lúc có nhiều kẻ thù đến như vậy, tuy có những ý đồ riêng và hành động cụ thể khác nhau, song mục tiêu chung của chúng là tiêu diệt chính quyền nhà nước Việt Nam non trẻ. Tình hình kinh tế - xã hội khó khăn, nền kinh tế vốn đã nghèo nàn lạc hậu lại bị Pháp, Nhật phá hoại, hậu quả chiến tranh nặng nề, đời sống nhân dân khó khăn đặt cách mạng nước ta trong tình thế “Tổ quốc lâm nguy! Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc”. Chính ở những thời điểm đầy cam go, thử thách ấy, ánh sáng và những bài học sâu sắc về củng cố và giữ vững chính quyền Xô viết của Cách mạng Tháng Mười Nga đã rọi chiếu, thức tỉnh, trở thành nguồn cổ vũ lớn lao để Đảng và nhân dân ta vững bước tiến lên, vượt qua mọi gian lao, thử thách, giành những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Cuộc mít tinh phát động khởi nghĩa giành chính quyền do Mặt trận Việt Minh tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 19-8-1945 (ảnh trái); ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ảnh phải)_Ảnh: Tư liệu TTXVN

3. Hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cũng giống như tình cảnh của nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười, trong khi chúng ta đang rất cần một môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước, hàn gắn những vết thương nghiêm trọng do hai cuộc chiến tranh tàn khốc và kéo dài gây ra thì chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại ra sức chống phá hòng thủ tiêu thành quả cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã phải tốn bao công sức và xương máu mới giành được. Bắt đầu từ việc Mỹ và các nước phương Tây thực hiện bao vây, cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị đối với Việt Nam, đến cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam rồi biên giới phía Bắc bùng nổ…

Trên thực tế, từ năm 1975 đến năm 1991, chưa một ngày nào chúng ta được sống trong hòa bình thực sự để xây dựng và phát triển đất nước. Những khó khăn do khách quan mang lại, cùng với những sai lầm chủ quan trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước đã làm cho tình hình kinh tế - xã hội của nước ta lâm vào khủng hoảng, bắt đầu từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX và kéo dài trong nhiều năm sau đó. Thực tiễn lịch sử đòi hỏi chúng ta phải đổi mới, vì liên quan tới vận mệnh đất nước, sự tồn vong của chế độ. Nhưng đổi mới thế nào để vừa sửa chữa được những sai lầm, khuyết điểm, vừa bảo đảm chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trụ vững và phát triển. Vấn đề càng trở nên phức tạp khi mà công cuộc đổi mới do Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) vừa bắt đầu chưa được bao lâu thì phải chịu những chấn động dữ dội từ sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, Liên Xô - thành trì của cách mạng thế giới, quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga. Trong bối cảnh đó, xuất hiện không ít những luồng tư tưởng hoài nghi sự phát triển của cách mạng Việt Nam, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Thậm chí có những người từng vào sinh ra tử trong hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, cống hiến gần trọn cuộc đời cho lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân thì nay lại hoang mang, dao động, chạy sang hàng ngũ kẻ thù, tiếp tay cho các thế lực thù địch chống Đảng, chống chế độ.

Trong bối cảnh hết sức phức tạp ấy, lý tưởng về một xã hội do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; con người được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân… từ lý luận Mác - Lê-nin, được hiện thực hóa trên đất nước Xô viết sau Cách mạng Tháng Mười Nga, lại tiếp thêm sức mạnh, trở thành nguồn cổ vũ lớn lao để Đảng và nhân dân ta tiếp tục sự nghiệp đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đổi mới nhưng không thay đổi mục tiêu con đường đã chọn. Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa đổi mới ở Việt Nam với nhiều nước xã hội chủ nghĩa cùng thời. Để tháo gỡ những khó khăn, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiếp tục phát triển theo mục tiêu con đường đã chọn, Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo lý luận đó, nhất là Chính sách kinh tế mới (NEP) của V. I. Lê-nin; kế thừa và vận dụng có hiệu quả vào điều kiện cụ thể của Việt Nam những bài học thành công của Đảng và nhân dân Liên Xô trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, cũng như trong sự nghiệp dựng xây đất nước, về đổi mới, chỉnh đốn Đảng; mở rộng thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội; dựa vào dân, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân; kết hợp chặt chẽ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa… Nhờ đó, công cuộc đổi mới ở Việt Nam mặc dù diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn, phức tạp nhưng vẫn giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Đất nước phát triển mạnh mẽ sau gần 35 năm đổi mới_Ảnh: Tư liệu

Hơn một trăm năm đã trôi qua kể từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi. Khoảng thời gian ấy không dài so với lịch sử nhân loại, nhưng đủ để chúng ta nhìn nhận, đánh giá khách quan giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga. Điểm lại những nốt thăng trầm của lịch sử Việt Nam trước và sau Cách mạng Tháng Mười Nga, nghĩ về những trang sử chói ngời của đất nước Xô viết qua hai phần ba thế kỷ, chứng kiến những đổi thay của thế giới đương đại và sự điều chỉnh, thích nghi tạm thời nhưng đầy những mâu thuẫn bản chất không thể hóa giải được, báo trước sự tất yếu cáo chung của chủ nghĩa tư bản, chúng ta càng thấm thía những giá trị đích thực mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã mang lại cho nhân loại. Cách mạng Tháng Mười Nga mãi mãi không chỉ là biểu tượng của khát vọng và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, mà những bài học từ cuộc cách mạng ấy vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay./.

Nguồn: Tuyên giáo

NHẬN DIỆN NHỮNG PHƯƠNG THỨC, THỦ ĐOẠN, BIỂU HIỆN CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY.


Mục đích chống phá Đảng ta của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở các thời kỳ không có gì thay đổi. Nhưng do những đặc điểm mới của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại hiện nay, nên các phương thức, thủ đoạn, biểu hiện chống phá của chúng có nhiều thay đổi, tinh vi hơn, phức tạp hơn khiến nhiều cán bộ, đảng viên không dễ dàng nhận biết để đấu tranh ngăn chặn, bác bỏ kịp thời, có hiệu quả.

        Mục đích cao nhất, có tính chiến lược của các thế lực thù địch chống phá Đảng ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là nhằm làm cho Đảng và nhân dân ta xa rời, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xa rời, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tức là làm cho cán bộ, đảng viên ta từ bỏ nền tảng tư tưởng vũ khí tinh thần, từ bỏ thế giới quan, phương pháp luận khoa học, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Thực hiện mục đích đó, chúng dùng mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức tinh vi, xảo quyệt thích ứng với mọi tình hình, mọi đối tượng, mọi thời điểm, hoàn cảnh khác nhau. Công tác đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận của Đảng và Nhà nước ta vì thế cũng vô cùng phức tạp, đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải có tư duy mới và hành động thiết thực hiệu quả hơn. Trong thực tế thật khó có thể tách bạch âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch về tư tưởng, lý luận đối với Đảng và nhân dân ta hiện nay. Chúng được tiến hành đan xen, ẩn hiện rất tinh vi, khó xác định dưới nhiều màu sắc, cấp độ khác nhau, lẫn lộn thật - giả, đúng - sai... khiến chúng ta khó phân biệt, dễ lầm lẫn, khó đấu tranh. Tuy nhiên chúng ta có thể nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng ở những biểu hiện chính như sau:

  Một là, phủ nhận, chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

       Trên phương diện tư tưởng, lý luận, chúng luôn luôn tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tung ra những luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo là “mất dân chủ”, là “chuyên chế”, “đặc quyền, đặc lợi”, là “bóp nghẹt dân chủ”; rằng phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ” trong Đảng và trong đời sống xã hội. Chúng đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phủ nhận quyền lãnh đạo của Đảng. Đây là mục tiêu không mới nhưng chúng kiên trì với thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu” bằng những chiêu trò mới, hòng thực hiện đến cùng việc chống phá Đảng ta.Từ tuyên truyền theo kiểu lô-gíc hình thức rằng, “có nhiều đảng cạnh tranh mới là dân chủ” chúng lờ đi mục đích của Đảng ta là kiên trì đấu tranh xóa bỏ mọi bất công, mang lại quyền bình đẳng, thực hiện dân chủ, quyền làm chủ thực sự cho nhân dân. Âm mưu chống phá vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng với nhiều “lý sự” trắng trợn hòng lôi kéo những người thiếu hiểu biết, bất mãn ngộ nhận tin theo, đòi “đa nguyên, đa đảng” dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Chúng tỏ ra “khách quan”, “bảo vệ quyền lợi chính đáng” của người dân, “bênh vực dân” nên làm cho không ít người ngộ nhận tin theo chúng. Âm mưu rất thâm độc, có tính chiến lược này của chúng được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn mới, kết hợp cả tư tưởng, lý luận, chính trị, kinh tế để chống phá ta từ bên trong kết hợp với bên ngoài, làm một bộ phận cán bộ, đảng viên tha hóa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

       Hai là, chống phá đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta.

Các thế lực thù địch luôn coi đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta là mục tiêu chống phá. Thực hiện mục tiêu ấy, chúng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bác bỏ, chống phá. Mặc dù “lý lẽ” đã cũ rích, nhưng chúng vẫn không từ bỏ, luôn rêu rao rằng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin “đã sai lầm”, “lỗi thời”, “lạc hậu”, thể hiện ở sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Chúng dẫn ra các hiện tượng, hình thức, trái với bản chất để mị dân, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, như “lý sự” rằng: “đã kinh tế thị trường thì đâu còn là chủ nghĩa xã hội”; “chủ nghĩa xã hội không phải là cái đích của loài người đi tới”; “chủ nghĩa tư bản là trường cửu”; Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam “bảo thủ” duy trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là “trái với quy luật”, “không phù hợp với thời đại mới”. Chúng cố lờ đi những cơ sở khoa học, tính khách quan của quy luật phát triển xã hội là chỉ có kết hợp giải phóng giai cấp với giải phóng dân tộc và giải phóng con người thì cách mạng mới đạt được kết quả trọn vẹn. Chúng không thấy con đường đổi mới, hội nhập quốc tế, độc lập, tự chủ là sự sáng tạo của Đảng và nhân dân ta để đưa đất nước ngày càng phát triển, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chúng gây nên hoài nghi vào quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc những đặc điểm, đặc trưng, mô hình xã hội mà chúng ta xây dựng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; phủ nhận giá trị những thành tựu đạt được trong hơn 30 năm đổi mới của đất nước. Chúng cố tình quên đi những biện pháp, con đường, hình thức, bước đi, nhiệm vụ trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội đầy sáng tạo của nhân dân ta. Tất cả những điều đó với âm mưu của chúng nhằm đẩy người nghe rơi vào tâm trạng hoài nghi, thất vọng, suy giảm niềm tin, rồi đi đến xa rời, từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng gieo rắc tâm lý trông chờ, dựa dẫm, cầu mong sự giúp đỡ của nước ngoài, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì giàu nhanh hơn, sung sướng hơn một cách ảo tưởng, hoài vọng.

         Ba là, chia rẽ khối đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân.

        Các thế lực thù địch luôn tấn công hòng phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, khối đồng thuận xã hội, gây nên sự ly tán, chia rẽ, suy giảm sức mạnh của Đảng, của nhân dân. Chúng chia rẽ nội bộ Đảng, giữa cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, bịa đặt về sự hình thành “phe này”, “phái nọ” để gây hoang mang trong nhân dân. Chúng lợi dụng việc thực hiện công khai, minh bạch của Đảng trong đấu tranh chống tham nhũng và xử lý nghiêm minh một số cán bộ, đảng viên vi phạm để chia rẽ nội bộ. Chúng xuyên tạc rằng “đây chỉ là sự thanh trừ phe này, phe nọ”, không thấy đây chính là quá trình làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng có tính quy luật trên đường phát triển, là việc làm phù hợp với lòng dân, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình ủng hộ. Chúng ra sức kích động chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo; giữa cán bộ và nhân dân; giữa đảng viên và quần chúng... Chúng thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên rồi đi đến khái quát một cách hàm hồ, nói xấu Đảng, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Chúng ra sức lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động gây bất ổn chính trị - xã hội; lợi dụng các bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời để kích động tụ tập đông người gây mất trật tự, an ninh, xung đột xã hội, làm cho nhân dân không tin cán bộ, đảng viên, dẫn đến không tin Đảng, tìm “con đường khác”, “cách sống khác” do chúng vẽ ra. Đây là âm mưu, thủ đoạn phá hoại ta từ bên trong, từ trong nội bộ, từ trong lòng dân, từ trong tư tưởng, tình cảm của con người trong xã hội.

BIỆN PHÁY ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

 

 

     Để đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú lan tỏa cho được nhiều đối tượng, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp thông tin cho phù hợp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời  chỉ huy các cấp luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp thuộc quyền, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm liên quan đến tổ chức, cá nhân, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện trọng đại mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, tin rác, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không làm theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng hiện nay.