Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Việt nam coi trọng và thực hiện tốt quan hệ giữa các tộc người thiểu số

 


Về cơ bản các tộc người ở Việt Nam đều đề cao tính cộng đồng tộc người, dòng họ và thân tộc. Quan hệ với các tộc người khác chỉ diễn ra một số lĩnh vực như sinh hoạt kinh tế và xã hội chung.

+ Quan hệ kinh tế

Với đặc điểm cư trú xen cài và nông nghiệp nặng tính tự cung tự cấp nên mối quan hệ kinh tế được thể hiện giữa các gia đình mang tính chất láng giềng, giữa bản làng này với cộng đồng cư trú liền kề khác. Quan hệ kinh tế giữa các tộc người hiện nay có phần được đẩy mạnh hơn trước do điều kiện cư trú xen kẽ ngày càng gia tăng, nhất là việc một bộ phận người Kinh di cư lên miền núi và vùng dân tộc thiểu số khác đã có tác động đẩy mạnh khai hoang phục hóa đất đai và thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa các hình thức sản xuất nông nghiệp và trao truyền các kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất cho đồng bào các dân tộc; đồng thời, người Kinh cũng phải học tập kinh nghiệm lâu đời của người dân tộc để sản xuất hiệu quả ở vùng đất mới...

Tuy nhiên, trong quá trình đó, cũng không tránh khỏi những bất đồng xảy ra liên quan đến lợi ích giữa các cộng đồng dân cư tại chỗ và bộ phận mới đến, nhất là quyền lợi trong các mối quan hệ đất đai. Các mối quan hệ này vừa mang tính trực tiếp vừa gián tiếp, biểu hiện rất đa dạng ở từng vùng, từng tộc người. Nếu như trong thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp, quan hệ kinh tế giữa các tộc người tại các địa phương diễn ra theo xu hướng ngày càng xích lại gần nhau, bởi tính chất cơ bản của nền kinh tế thời bấy giờ là cùng làm ăn chung theo mô hình hợp tác xã thì hiện nay một số địa phương đang diễn ra xu hướng và biểu hiện có phần ngược lại. Quan hệ này ngày càng trở nên bức xúc do xuất hiện thường xuyên hơn các mâu thuẫn liên quan đến tranh chấp đất đai.

Quan hệ kinh tế giữa các tộc người cho đến nay chủ yếu diễn ra các hoạt động nông nghiệp và trao đổi mua bán truyền thống, phần lớn mang tính tự phát giữa người dân với nhau, nhất là ở khu vực đa dân tộc sống xen cư xen canh, những gia đình có quan hệ hôn nhân, kết nghĩa anh em. Do đó, cn đẩy mạnh hơn nữa các mối quan hệ kinh tế khác, nhất là phải tăng cường sự định hướng, tổ chức của Nhà nước, chính quyền và đoàn thể địa phương.

+ Quan hệ chính trị xã hội:

Trong bối cảnh hiện nay, quan hệ giữa các tộc người còn liên quan mật thiết đến sự trỗi dậy ngày càng manh mẽ về ý thức tự giác của nhiều dân tộc, nhất là trong đội ngũ trí thức và cán bộ địa phương. Có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng chú ý là cùng với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế là việc tăng cường các chính sách ưu tiên đầu tư phát triển, Nhà nước hỗ trợ cho các tộc người có số dân ít, sinh sống ở các địa bàn khó khăn đã góp phần làm trỗi dậy ý thức tự giác tộc người tạo nên "điểm nóng" ở một số tộc người tại một số địa phương; tâm lý mong muốn có người của mình tham gia vào hệ thống chính trị các cấp; được hưởng đầy đủ các chính sách ưu tiên của Nhà nước như cử tuyển con em vào các trường đại học cao đẳng, gửi con em vào các trường nội trú ở địa phương... Tình trạng này dẫn đến việc một số nhóm tộc người muốn tách ra thành một dân tộc riêng, một số khác lại muốn đổi tên gọi (Người Pu Nà ở tỉnh Cao Bằng đòi được đổi tên là người Quý Châu, dân tộc Khơ Mú ở Nghệ An và người Hmông (trước đây) cũng đề nghị được xem xét thay đổi tên gọi... Tất cả những động thái này đã và đang làm ảnh hưởng tiêu cực không chỉ trong nội bộ tộc người, mà còn giữa các tộc người và khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới.

+ Quan hệ văn hóa: Mối quan hệ này phát triển tương đối toàn diện, các tộc người không chỉ học hỏi nhau cách thức ăn, mặc, ở và đi lại mà còn giao lưu, tiếp thu các yếu tố phù hợp trong đời sống tâm linh, thông qua việc tổ chức lễ hội và các thực hành tín ngưỡng, tạo nên những đặc trưng văn hóa mang đậm dấu ấn tộc người thể hiện nét văn hóa liên tộc người hay văn hóa vùng. Trong đó, đáng chú ý là việc một số tộc người sử dụng ngôn ngữ của các tộc người có dân số đông trong vùng đóng vai trò quan trọng, thể hiện nhu cầu phát triển các mối quan hệ giữa các tộc người. Chẳng hạn, ngoài tiếng Kinh thì đa số các dân tộc vùng Tây Bắc có thể sử dụng được tiếng Thái, ở vùng Đông Bắc là tiếng Tày, không chỉ để giao tiếp với người Thái, ngưòi Tày mà còn giao tiếp với nhau thông qua ngôn ngữ thứ ba.

Như vậy, để có thể phát triển mối quan hệ giữa các tộc người thông qua văn hóa, các dân tộc cần hiểu biết, tôn trọng tập quán, lối sống, hệ giá trị của các tộc người láng giềng, không ngừng nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống, tổ chức các sinh hoạt văn hóa chung bổ ích để tạo điều kiện cho các dân tộc có thêm nhiều cơ hội giao lưu, hòa hợp, xích lại gần nhau.

- Quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số

Mối quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số mang tính cơ bản, liên thông với các quan hệ khác và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

+ Quan hệ kinh tế: Ngoài yếu tố giao lưu, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong sản xuất, tạo ra được các quan hệ tích cực trong hoạt động kinh tế giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, trong đó người Việt giữ vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong việc truyền bá khoa học kỹ thuật và đẩy manh hệ thống thương mại, dịch vụ ờ vùng các tộc người thiểu số, thì mối quan hệ này đã nảy sinh một số mâu thuẫn trong làm ăn, buôn bán, nhất là ở các khu vực cửa khẩu hoặc vùng cỏ điều kiện phát triển kinh tế. Sự phân hoá xã hội, trong đó phân hoá giữa nhóm tộc người có khả năng phát triển nhanh với nhóm chậm phát triển dưới tác động của kinh tế thị trường, đang làm nảy sinh tâm lý so bì đố kỵ giữa các tộc người ờ một số nơi. Định kiến của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh do sự gia tăng những tiêu cực trong làm ăn, buôn bán của một bộ phận người Kinh đối với họ. Ngược lại, đó là sự kỳ thị của người Kinh với các dân tộc thiểu số, sự so bỉ của người Kinh, nhất là người Kinh di dân tái định cư theo kể hoạch ở vùng núi, với đồng bào các tộc thiểu sổ về các chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà nước đối với các tộc người thiểu số Đặc biệt, nảy sinh ngày càng nhiều và sâu sắc mâu thuẫn, tranh chấp đất đai giữa một bộ phận người dân tộc tại chỗ với bộ phận người Kinh mới nhập cư, nhất là di cư theo kế hoạch của Nhà nước. Mâu thuẫn về đất đai đôi khi căng thẳng tới mức đã gây ra xung đột cục bộ giữa một bộ phận người dân tại chỗ với người Việt mới nhập cư tại một số địa phương trong những năm gần đây, nhất là các tỉnh có mức độ di cư và tái định cư cao như vùng Tây Nguyên, Tây Bắc...

+ Quan hệ chính trị xã hội: Hoà hợp giữa các tộc người, nhất là giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số được thể hiện ở sự gia tăng về mức độ cư trú xen kẽ, sự tăng cường các mối quan hệ thuê mướn lao động, việc sử dụng song ngữ, hôn nhân hỗn hp giữa các tộc người, về cơ bản, quan hệ giữa các tộc người thiểu số và tộc người đa số ở nước ta vẫn đảm bảo bình đẳng, tôn trọng, hoà hợp và giúp đỡ lẫn nhau. Người Kinh vẫn đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và đảm bảo đoàn kết dân tộc, thể hiện rõ nét trên các lĩnh vực một đội ngũ cán bộ công chức đông đảo và trình độ chuyên môn cao của người Kinh đang phục vụ ở các vùng đồng bào dân tộc, đại đa số giáo viên, nhân viên y tế, khoa học kỹ thuật ở vùng miền là người Kinh; tỷ lệ kết hôn hỗn hợp giữa người Kinh với các tộc người thiểu số ở khắp mọi vùng miền ngày càng trở nên phổ biến.

Tuy vậy, ngoài những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển kinh tế, chính trị xã hội, an ninh, quc phòng và củng cố tình đoàn kết giữa nhân dân các tộc người, ở các địa phương ngày càng có nhiều người Kinh, kể cả cán bộ, viên chức Nhà nước có những hành vi tiêu cực, gây tổn hại  cho quan hệ lâu đời giữa các dân tộc. Cụ thể là sự xuất hiện ngày càng nhiều trường hợp người Kinh cho người dân tộc thiểu số vay nặng lãi, bán chịu giá cao, mua bán ép giá. Một số khác có chức, quyền đã dưa con em, họ hàng đến lập nghiệp, lấn chiếm những nơi thuận tiện giao thương, chủ yếu là các khu đt ven trụ sở ủy ban xã, trung tâm cụm xã, chợ, trường học, thị tứ, thị trấn, ven những con đường và công trình công cộng mới được xây dựng. Chưa kể một số doanh nghiệp người Kinh làm chủ đến vùng dân tộc thiểu số thực hiện các dự án, hoạt động du lịch, buôn bán, khai thác tài nguyên... ngoài việc lợi dụng tính thật thà của các tộc người thiểu sổ để khai thác tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của họ, mà còn tìm nhiều cách xâm hại đến hạnh phúc gia đình họ.

Những việc làm không tốt đẹp này đang diễn ra ngày càng nhiều, làm cho các tộc ngưòi thiểu số ở nơi này nơi kia có tâm lý ác cảm và quay lưng dần với người Việt. Đặc biệt, một số tộc người tại một số địa phương còn hình thành tâm lý và dư luận cho rằng người Kinh lên chiếm đất đai của cha ông để lại cho họ. vấn đề này càng bộc lộ rõ hơn trong thời gian gần đây khi chúng ta triển khai các khu tái định cư, giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình, dự án phát triển quốc gia. Lợi dụng vấn đè này, một số học giả phương Tây và các thế lực phản động đã xuyên tạc, bịa đặt hòng chi rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Như vậy, trong quan hệ chính trị - xã hội giữa các tộc người, giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu s đã xuất hiện tư tưởng ly khai, tự trị. Các biểu hiện này nếu không được giải quyết thỏa đáng sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng, khoét sâu bất đồng, mâu thuẫn, gây ra các “điểm nóng” về chính trị và xã hội.

+ Quan hệ văn hóa: Có thể nói ngày càng phổ biến xu hướng giao lưu, hợp tác về mọi mặt, trong đó có yếu tố văn hóa là xu hướng chủ đạo trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Chẳng hạn như tiếng Việt ngày càng đóng vai trò to lớn và là một trong những tiêu chí cơ bản nói lên xu hướng giao lưu hòa hợp này. Đến nay, hầu hết các tộc người thiểu số đều biết sử dụng tiếng và chữ viết của người Kinh ở những mức độ khác nhau để giao tiếp, học tập, làm ăn kinh tế.. Ngược lại ở rất nhiều nơi vùng cao biên giới, một bộ phận người Kinh đã tích cực học tiếng của các tộc người thiểu số trong vùng để giao tiếp và làm ăn, sống trong các ngôi nhà sàn, uống rượu cần, làm nương rẫy... như các tộc người thiểu số trong vùng.  

Để giữ vững và phát triển quan hệ tốt đẹp giữa các tộc người thiểu số và tộc người đa số cần kiên quyết chống tư tưởng dân tộc lớn, tránh sự áp đặt. Ngược lại, các tộc người thiểu sổ do trình độ phát triển còn nhiều hạn chế nên dễ có những tư tưởng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cục bộ địa phương. Do vậy, để đoàn kết giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu sổ cần phát triển sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, khắc phục tư tưởng dân tộc lớn, hẹp hòi, địa phương, bản vị và đẩy nhanh phát triển bền vững kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường vùng đồng bào dân tộc thiểu sổ.

Quyết liệt, thần tốc trong chống dịch COVID-19 ở Việt Nam

 


Trong những ngày vừa qua Việt Nam chúng ta lại có ca mắc mới dịch COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây có thể nói là vấn đề rất nghiêm trọng trong tình hình hiện nay.

Quyết liệt hơn, thần tốc hơn nữa trong phòng, chống dịch COVID-19 hiện nay. Đây là sự quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân Việt Nam trong chống dịch COVID- 19 hiện nay.

Từ một trường hợp có thức kém trong cách ly, hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ rất lớn bùng phát dịch trở lại nếu như không ngăn chặn kịp thời. Hiện nay các cấp, các ngành, các lực lượng ở thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác phải coi đây là một vấn đề rất nghiêm trọng, cần thực hiện nhanh, gọn và đồng bộ các giải pháp. Bởi vì nếu chần chừ chỉ một hai ngày tới việc lây nhiễm phi mã dịch COVID- 19 sẽ sảy ra. Cho nên hiện nay phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, đặc biệt là vấn đề truy quét dịch của chuyên môn bộ y tế và sự khai báo trung thực của người dân. Hiện nay nếu chúng ta thực hiện tốt được hai vấn đề này chắc chắn chúng ta sẽ kiểm soát được dịch

Việt Nam thực hiện tốt mối quan hệ trong nội bộ từng tộc người

 


Quan hệ này được thể hiện chủ yếu thông qua các mối quan hệ trong gia đình, giữa các gia đình trong dòng họ và cộng đồng (láng giềng), giữa các dòng họ, giữa các làng bản đồng tộc. Trong đó, các yếu tố nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng, quan hệ họ tộc, sinh kế vừa là các thành tố văn hoá tộc người, vừa là những nhân tố cố kết các thành viên và bảo vệ bản sắc văn hoá của tộc người.

 Quan hệ về nguồn gc lịch sử tộc người: Các thành viên trong một tộc người đều có chung nguồn gốc, có thể sinh sống lâu đời hay mới di cư đến, cư trú cùng nhau hoặc phải phân ly do quá trình tộc người và biến đổi lịch sử, có thể cùng kết hôn hay kết nghĩa và nhận con nuôi... nhưng hầu hết các thành viên đều có ý thức về cội nguồn dân tộc, từ đó lưu giữ mối quan hệ đồng tộc. Có thể nói, tất cả các tộc người đều có ý thức về cội nguồn của mình, tâm lý gắn kết các thành viên cùng tộc, nhất là cùng dòng họ rất cao. Chẳng hạn như người Hmông, dù ở đâu cũng luôn coi người cùng họ (không nhất thiết phải cùng huyết thống) là anh em ruột thịt có thể sống, chết trong nhà của nhau; quan hệ giữa các thành viên cùng tộc người, mặc dù không được chặt chẽ như cùng họ, nhưng cũng luôn bền chặt bởi tâm lý chung của người Hmông là hướng nội, ưu tiên các quan hệ trong nội bộ tộc người.

 Quan hệ kinh tế: Từ trước đến nay, các gia đình thành viên nội tộc người, nhất là xóm giềng thân thiết, họ hàng thân thích gặp khó khăn luôn hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong các hoạt động sinh kế, về nhân lực thì đổi công, giúp công; về vật lực thì giúp giống cây con, đất đai, công cụ sản xuất, lương thực, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và các sản vật khai thác từ tự nhiên. Những quan hệ kinh tế này thường được thực hiện một cách vô tư, nhất là trước đây khi một gia đình gặp phải khó khăn như neo đơn, ốm yếu, đói kém.. sẽ nhận được sự giúp đỡ mà không cần phải hoàn trả, cho vay tiền không phải trả lãi, đất đai có thể cho mượn sử dụng hoặc cho luôn... Đến nay, cùng với quá trình phát triển của xã hội và chủ yếu là tác động của nền kinh tế thị trường, trong các mối quan hệ kinh tế nội tộc người đã xuất hiện tình trạng phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội ngày càng rõ rệt; quan hệ kinh tế sòng phẳng có đi có lại, trong đó nổi lên hình thức thuê mướn nhân công ngày càng phổ biến. Ngoại trừ có quan hệ thân tộc, bạn bè thân thiết còn giữ được hình thức giúp đỡ vô tư như trước, nếu không phổ biến là vay mượn phải trả lãi xuất, thiếu đất đai và công cụ sản xuất thì phải mua hoặc thuê, giúp công thì phải trả công hoặc bằng tiền hay vật chất theo thỏa thuận...

 Quan hệ xã hội: Sự đổi mới cơ chế kinh tế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng các mối quan hệ xã hội giữa các đồng tộc sinh sống trên các địa bàn khác nhau. Nếu như trước đây, đa số các tộc người sinh sống tương đối tập trung tại những vùng nhất định, thì sau khi thực hiện di dân theo kế hoạch của Nhà nước (theo các dự án phát triển kinh tế, thủy điện, an ninh quốc phòng...) và sau đó là làn sóng di cư tự do của rất nhiều tộc người đã khiến cho bức tranh phân bố các tộc người thay đổi về cơ bản. Một trong những đặc điểm của các tộc người ở nước ta là dù di cư xa hay gn vẫn giữ mối liên hệ nhiều mặt với họ hàng, đồng tộc nơi quê cũ. Họ liên hệ với nhau không chỉ liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên, phụng dưỡng ông bà, bố mẹ già, mà còn giúp nhau trong quá trình di chuyển cư đến nơi mới hoặc khi trở về quê cũ. Chính các mối quan hệ này đã giúp các tộc người tiếp tục duy trì và củng cố ý thức cội nguồn lịch sử, tăng cường quan hệ giao lưu với mục đích cố kết lại với nhau cùng có lợi.

Tuy nhiên, tình trạng sinh sống phân tán và di cư đến nhiều vùng không có mối quan hệ về địa lý, thường cũng không tránh khỏi thực tế là quan hệ nội tộc người, thậm chí là họ hàng ngày càng lỏng lẻo, do mật độ cư trú xen kẽ và điều kiện giao lưu với các tộc người khác ngày thêm gia tăng, nhất là với các trường hợp hôn nhân hỗn hợp, vay mượn ngôn ngữ, tập quán xã hội, lối sống, chịu ảnh hưởng của đời sống chính trị, xã hội, giáo dục của địa phương nơi họ mới đến sinh sống, làm cho những cộng đồng này bị thu hẹp dần các mối quan hệ xã hội trong nội tộc người, và một bộ phận dân số không thể giữ được quan hệ đồng tộc chặt chẽ như trước đây.

 Quan hệ văn hóa. Các tộc người thiểu số ở Việt Nam tuy có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, nhất là trong đời sng tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán, lễ hội của cộng đồng, dòng họ và gia đình. Tuy nhiên, ở mỗi một tộc người lại có những sắc thái văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo riêng, như quan niệm và nghi lễ thờ cúng tổ tiên, dòng họ của người Hmông khác với thờ cúng Bàn vương của người Dao và cũng khác với nghi lễ thờ cúng ‘Phi’ của người Thái…Đây là các yếu tố quan trọng tạo ra và giữ vững bản sắc văn hóa tộc người, tăng cường tính cố kết cộng dồng, dòng họ và gia đình.

 Hiện nay, do cư trú phân tán ở nhiều vùng miền khác nhau và do tác động cùa nền kinh tế thị trường có nhiều chuyển đổi, sự cố kết xã hội của một bộ phận dân cư ngày càng lỏng lẻo, bản sắc văn hóa tộc người ngày càng mai một, nhất là trong sinh hoạt tín ngưỡng, tập quán và sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống. Đó là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để có biện pháp giải quyết. Những năm gần đây còn xuất hiện xu hướng phân chia, đối lập trong nội bộ một số tộc người do sự khác biệt về tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt là giữa bộ phận dân cư bảo lưu tín ngưỡng truyền thống và nhóm người cải đạo.

Việt nam thực hiện tốt quan hệ giữa các tộc người với quốc gia

 


Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng, Nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác xây dựng hệ thống chính trị, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Nhờ có chính sách đúng đắn này, đến nay nhiều địa phương các tỉnh miền núi đã xây dựng được đội ngũ cán bộ dân tộc đông đảo, chất lượng ngày càng được nâng cao, họ là nhân tố quan trọng và là cầu nối giữa người dân với Đảng và Nhà nước. Trong các cơ quan Trung ương, nhiều vị trí chủ chốt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành là người dân tộc thiểu số. Đại biểu Quốc hội là người dân tộc cũng chiếm tỷ lệ khá cao và liên tục tăng theo các khóa. Nhiều cơ quan xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc ở Trung ương và hệ thống chính trị các cấp đều do người dân tộc nắm giữ những trọng trách quan trọng. Tuy nhiên, do trình độ giáo dục có sự khác biệt giữa các tộc người, nên ở một số nơi tỷ lệ cán bộ cấp xã của từng dân tộc không tương xứng với số lượng dân số của dân tộc đó.

Như vậy, có thể thấy mức độ tham gia, đóng góp của các dân tộc trong toàn hệ thống chính trị ngày càng lớn, thể hiện tầm quan trọng và sự bình đẳng trong quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với hệ thống chính trị cả nước nói chung và với dân tộc đa số - người Kinh nói riêng ngày càng được đề cao. Rõ ràng, đây là cơ sở để xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tin tưởng giữa các dân tộc và của người dân với hệ thống chính trị các cấp.

 Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng và Nhà nước thông qua việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách dân tộc.

Chỉ tính từ khi thực hiện đổi mới đến nay, Chính phủ đã triển khai thực hiện khá nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá, nhất là đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới đặc biệt khó khăn như các chương trình, dự án 327, dự án 661, chương trình 135, chương trình 134 và nhiều chương trình, dự án kinh tế - xã hội khác. Các chính sách, chương trình, dự án này đã và đang tạo cơ sở thực tế cho việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng phát triển của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, chăm lo sức khỏe đối với đồng bào cả nước nói chung và đối với đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng. Các chính sách đó khá toàn diện, từ miễn, giảm học phí, mở rộng hệ thống trường dân tộc nội trú; cử tuyển vào các trường chuyên nghiệp; xây dựng hệ thống y tế địa phương, miễm giảm bảo hiểm y tế

Có thể nói, các chính sách đó rất phù hợp với nguyện vọng và điều kiện thực tiễn của các dân tộc, thực sự đi vào đời sống, góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao ở vùng miền núi và vùng dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hãy chủ động hơn nữa trong chống dịch COVID-19

 


Hiện nay dịch bùng phát trở lại tại thành phố Hồ Chí Minh, nếu chúng ta không ngăn chặn kịp thời dịch sẽ bùng phát trở lại trên toàn quốc. Đây là vấn đề rất hệ trọng và cấp bách hiện nay đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Chúng ta đã thấy việc chống dịch COVID-19 khó khăn đến mức nào, khi lần này là lần thứ ba chúng ta phải đương đầu với bệnh dịch này, cho dù chúng ta đã có nhiều biện pháp quyết liệt. Tuy nhiên gây bệnh lần này lại không ở vấn đề đeo khẩu trang cùng những biện pháp phòng, chống dịch, mà ở đây nguyên nhân gây bệnh lại là một nguyên nhân khác đó là trách nhiệm trong tuân thủ khi cách ly xã hội. Như vậy, nguyên nhân gây bệnh dịch COVID-19 có thể nói là rất đa dạng và tiềm ẩn, có thể lây bệnh bất cứ lúc nào với bất cứ nguyên nhân gì. Do vậy, từ bài học thành phố Hồ Chí Minh, ở các địa phương khác cần chủ động hơn nữa trong phòng, chống dịch COVID-19.

Việt Nam thực hiện tốt quan hệ giữa các dân tộc

 


Quan hệ dân tộc được hiểu là các mối quan hệ, giao lưu, hợp tác gắn bó và tác động lẫn nhau giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc người và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, quan hệ dân tộc được đề cập trên hai phương diện: quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia dân tộc.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, thuật ngữ quan hệ dân tộc thường được hiểu/đồng nhất là quan hệ tộc người. Quan hệ tộc người được hiểu là các mối liên hệ, giao lưu, hợp tác, liên kết, phân ly giữa các cá nhân hay các tổ chức khác nhau trong các cộng đồng của một tộc người hoặc giữa các tộc người. Do đó, khái niệm “quan hệ dân tộc” ở Việt Nam cần phải được hiểu là quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc người và quan hệ đồng tộc xuyên biên giói. Trên thực tế, quan hệ dân tộc diễn ra ờ mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi trong đời sống của tất cả các tộc người và giữa các tộc người nên rất đa dạng và phức tạp, gồm nhiều chiều, nhiều hình thức, nhiều cấp độ và không gian khác nhau.

Nếu xét theo không gian, các mối quan hệ dân tộc ở Việt Nam diễn ra cả trong vùng nội biênxuyên biên giới. Xuất phát từ đặc điểm cấu trúc dân tộc ở Việt Nam có một tộc ngưòi đa số (người Kinh) và 53 tộc người còn lại là thiểu số (hơn 300 nhóm địa phương), cùng với sự khác biệt về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ phát triển kinh tế„ văn hóa, xã hội, quan hệ dân tộc cần được phân biệt/xác định theo các trục quan hệ cơ bản như sau: (1) Quan hệ giữa các tộc người với quốc gia - Dân tộc {nation); (2) Quan hệ giữa tộc người đa số (người Kinh) với các tộc người thiểu số; (3) Quan hệ giữa các tộc người thiểu số và trong nội bộ từng tộc người thiểu số; (4) Quan hệ tộc người xuyên biên giới.

Các mối quan hệ này tuy có vị trí và mức độ ảnh hường khác nhau, nhưng đều có mối liên quan chặt chẽ. Với xu thế cùng cộng cư, hôn nhân hỗn hợp, quan hệ làm ăn và nhiều yếu tổ khác, nhất là dưới tác động của đường lối, chính sách dân tộc tiến bộ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đang dần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc. Vì vậy, phạm vi của các mối quan hệ tộc người ở Việt Nam hiện nay không chỉ diễn ra giữa các thành viên trong cùng một tộc người mà cả với các tộc người khác. Trong đó, mối quan hệ giữa người Kinh - tộc người đa số với các tộc người thiểu số được xem là trục quan hệ quan trọng, nhất là sự có mặt của người Kinh ở vùng dân tộc và miền núi hiện nay với số lượng ngày càng gia tăng và có ảnh hường quan trọng đến phát triển bền vững. Bên canh đó, mối quan hệ của từng tộc người với quốc gia dân tộc cũng là nội dung quan trọng cần được nghiên cứu bi nó phản ánh nhận thức, vị thế và sự tham gia của từng tộc người trong sự phát triển chung của quốc gia dân tộc.

Quan hệ dân tộc ở Việt Nam dù trên phạm vi hay lĩnh vực nào cũng luôn hướng tới một hoặc nhiều mục đích: trao đổi kinh tế (bao gồm buôn bán, làm thuê, hợp tác kinh doanh...); duy trì sự gắn kết họ hàng, đồng tộc; chia sẻ các giá trị lịch sử, văn hóa tộc người và các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng; và có thể vì mục tiêu hay lý do chính trị khác...

Thời gian qua, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam, quan hệ dân tộc ở Việt nam mang bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy các dân tộc đã giải quyết tốt các mối quan hệ với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.

Nhận diện thủ đoạn chống phá lực lượng CAND thời gian gần đây

 

Nhận diện thủ đoạn chống phá lực lượng CAND thời gian gần đây

Bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện âm mưu và các hoạt động “phi chính trị hóa” lực lượng CAND, tìm mọi cách làm cho cán bộ, chiến sỹ Công an suy yếu về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, từ đó thúc đẩy các hoạt động “tự diễn biến”, phá vỡ bức tường thép quan trọng trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân. Do vậy, cần nhận diện thủ đoạn, hoạt động mà các đối tượng thường sử dụng trong thời gian qua như sau:

Thứ nhất, các đối tượng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc về bản chất cách mạng, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức lực lượng CAND, cho rằng “Công an là công cụ đàn áp của Đảng Cộng sản”, hay rêu rao rằng “Bộ Công an lấn quyền và tạo hình ảnh bất khả xâm phạm”; tìm mọi cách chia rẽ Công an với nhân dân, với Quân đội và các lực lượng khác trong hệ thống chính trị ở nước ta.

Thứ hai, lợi dụng việc một số tin báo điện tử trong nước đăng tin bài, hình ảnh phản ánh sai phạm của lực lượng Công an địa phương trong điều tra một số vụ án và hành vi tiêu cực của CSGT để thổi phồng các vụ việc, lấy sai phạm của một số cá nhân để quy kết, xuyên tạc, vu cáo, bóp méo sự thật nhằm bôi đen, làm mất uy tín lực lượng Công an, kích động quần chúng chống cán bộ Công an thi hành công vụ.

Thứ ba, cố ý bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh cán bộ, chiến sĩ CAND, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm các đồng chí lãnh đạo Bộ Công an.

Thứ tư, đối với một số vụ việc gây rối trật tự công cộng, có tính chấy nguy hiểm đối với xã hội, phải sử dụng lực lượng Cảnh sát cơ động, đặc nhiệm để giải quyết, các đối tượng cho rằng lực lượng CAND ngày nay không còn là của nhân dân, bảo vệ nhân dân, mà là công cụ để bảo vệ quyền lợi của một nhóm người có chức, có quyền, qua đó nhằm đối trọng nhân dân với lực lượng Công an.

Thứ năm, lợi dụng không gian mạng như: Youtube, Blog, Facebook…, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tạo lập hàng trăm tài khoản ảo, cắt ghép một số hình ảnh, video liên quan đến lực lượng Công an để đưa ra những bình luận ác ý, tung tin sai sự thật, bịa đặt nhằm công kích vào tâm lý người dân, gây sự hoài nghi, làm giảm sút lòng tin đối với chế độ.

Những âm mưu, thủ đoạn trên cần có cách nhìn khách quan, toàn diện,  cụ thể như sau:

Trước hết, cần khẳng định rằng, trong bất kỳ một xã hội có giai cấp nào thì điều tất yếu đó là phải tổ chức ra lực lượng bảo vệ chế độ, nhà nước đó.

Đối với nước ta, lực lượng CAND ra đời trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc, luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân, dân tộc sâu sắc.

Khi đề cập đến đặc điểm công tác, chiến đấu của CAND và công tác Công an, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, lực lượng CAND phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với QĐND và các ngành, các đoàn thể quần chúng trong công tác giữ gìn an ninh, trật tự.

Theo Người: “Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc”; vì vậy, Công an phải thường xuyên thực hiện tốt quan hệ hợp đồng tác chiến vì mục tiêu chung bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ và nhân dân. Tại lễ thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), tháng 3-1959, Hồ Chủ tịch khẳng định: “Công an và Quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng”.

Thực hiện chỉ dạy của Bác, CAND đã phối hợp chặt chẽ với QĐND và các tổ chức trong hệ thống chính trị; tập trung xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận lòng dân vững chắc, tạo thành sức mạnh tổng hợp, thế trận liên hoàn trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự.

Hai là, ở Việt Nam, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của lực lượng CAND được quy định trong Luật CAND (sửa đổi) đã được Quốc hội Khoá XIV thông qua ngày 20/11/2018, tại Kỳ họp thứ 6. Luật CAND (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019 quy định rõ:

Vị trí CAND: Là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Chức năng: CAND có chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, Luật cũng xác định những nhiệm vụ, quyền hạn của CAND.

Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của CAND:

1. Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an.

2. Được tổ chức tập trung, thống nhất, chuyên sâu, tinh gọn và theo cấp hành chính từ Trung ương đến cơ sở.

3. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; cấp dưới phục tùng cấp trên; dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Ba là, thực tiễn đã chứng minh CAND Việt Nam thực sự là đội quân tiên phong, nòng cốt trong đấu tranh chống phản cách mạng, chống gián điệp, phản động, phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ Đảng, chế độ, chính quyền cách mạng và bảo vệ nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ Công an từ trong quá khứ, hiện tại và tương lai luôn cố gắng rèn luyện, phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng, hệ thống tổ chức đảng trong CAND không ngừng được củng cố và phát triển lãnh đạo mọi mặt công tác công an. Lực lượng Công an được tôi luyện qua các thời kỳ cách mạng đã trở thành đội ngũ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, “chỉ biết còn Đảng thì còn mình”, trung thành vô hạn với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của CAND đã được pháp luật quy định và trong thực tế không có chuyện Công an là công cụ đàn áp của Đảng Cộng sản Việt Nam, hay Công an lấn quyền như những điều bịa đặt, vu khống mà họ tạo ra.

Với sự chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, đoàn thể, sự tin yêu, giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân, lực lượng CAND không ngừng trưởng thành, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, vững về pháp luật, sắc bén về nghiệp vụ và đã có những đóng góp đặc biệt quan trọng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng.

Thứ năm, đất nước ổn định, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, những kết quả đạt được trong công tác phòng chống dịch COVID-19, những nỗ lực không biết mệt mỏi trong phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai ở miền Trung vừa qua là sự quyết tâm đồng lòng của cả nước, đó là sự thống nhất ý chí và hành động của toàn dân và hệ thống chính trị, trong đó có những đóng góp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ CAND; sự cống hiến, hy sinh của lực lượng CAND trong thời chiến cũng như thời bình là điều không thể phủ nhận, chối bỏ như cách mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã làm trong thời gian qua.

Mặt khác, chúng ta không thể lấy những sai phạm, thiếu sót của một vài cá nhân để quy kết đó là sai phạm của cả tổ chức, lực lượng. Mọi sai phạm dù đó là ai đi chăng nữa đều phải xử lý theo pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ sai phạm.

Âm mưu, thủ đoạn và những việc làm của các thế lực thù địch là rõ ràng, càng chứng minh tính chất phản động, phản cách mạng của họ, thay vì có những đóng góp cho việc giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội thì họ lại cố ý phá vỡ tính ổn định đó bằng những luận điệu phi lý, lố bịch.

Chu Thắng

 

Đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội

 

Đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung, nhiệm vụ quan trọng của công tác tư tưởng hiện nay. Theo đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Chỉ thị 823-CT/QUTW, ngày 10-9-2017 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội”.

Kiện toàn tổ chức, phát huy tốt vai trò của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 trong chủ động đấu tranh, phản bác, vạch rõ thực chất của những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; làm cho cán bộ, chiến sĩ có sức đề kháng tốt, không nghe, không theo những thông tin xấu độc, trái chiều. Qua đó, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao về tư tưởng trong Quân đội, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội với Nhân dân của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ tốt trận địa tư tưởng của Đảng trong xã hội và trong Quân đội.

Giáo dục nâng cao cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo, bộ phận chuyên sâu, tổ thư ký, cơ quan giúp việc cấp ủy các cấp và lực lượng nòng cốt đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Các cơ quan báo chí, xuất bản, các học viện, nhà trường, trực tiếp là đội ngũ cán bộ cơ quan chiến lược, cán bộ nghiên cứu khoa học, phóng viên, biên tập viên trong toàn quân tiếp tục nêu cao trách nhiệm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Chủ động phản bác những quan điểm, tư tưởng sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và những phần tử phản động, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, duy trì nghiêm quy định về bảo mật thông tin, quy chế người phát ngôn, cucng cấp thông tin…, quy chế tuyển chọn, bố trí cán bộ, nhân viên, nhất là đối với các cơ quan cơ mật, trọng yếu; không để sơ hở, thiếu sót, vi phạm để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Trong “xây”, cần chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm; đẩy mạnh tuyên truyền gương “người tốt, việc tốt”, nhân rộng điển hình, những cái hay, cái đẹp, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong từng đơn vị và toàn quân; giáo dục ý thức chấp hành nghiêm quy định về phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí, sử dụng intetnet, tham gia mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ. Trong “chống”, cần chủ động, nhạy bén và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, phương tiện, nhất là lực lượng nòng cốt trong các đơn vị, các cơ quan báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật; đồng thời, tích cực ứng dụng khoa học - công nghệ, triển khai các giải pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng./.