Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Việt Nam thực hiện tốt mối quan hệ trong nội bộ từng tộc người

 


Quan hệ này được thể hiện chủ yếu thông qua các mối quan hệ trong gia đình, giữa các gia đình trong dòng họ và cộng đồng (láng giềng), giữa các dòng họ, giữa các làng bản đồng tộc. Trong đó, các yếu tố nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng, quan hệ họ tộc, sinh kế vừa là các thành tố văn hoá tộc người, vừa là những nhân tố cố kết các thành viên và bảo vệ bản sắc văn hoá của tộc người.

 Quan hệ về nguồn gc lịch sử tộc người: Các thành viên trong một tộc người đều có chung nguồn gốc, có thể sinh sống lâu đời hay mới di cư đến, cư trú cùng nhau hoặc phải phân ly do quá trình tộc người và biến đổi lịch sử, có thể cùng kết hôn hay kết nghĩa và nhận con nuôi... nhưng hầu hết các thành viên đều có ý thức về cội nguồn dân tộc, từ đó lưu giữ mối quan hệ đồng tộc. Có thể nói, tất cả các tộc người đều có ý thức về cội nguồn của mình, tâm lý gắn kết các thành viên cùng tộc, nhất là cùng dòng họ rất cao. Chẳng hạn như người Hmông, dù ở đâu cũng luôn coi người cùng họ (không nhất thiết phải cùng huyết thống) là anh em ruột thịt có thể sống, chết trong nhà của nhau; quan hệ giữa các thành viên cùng tộc người, mặc dù không được chặt chẽ như cùng họ, nhưng cũng luôn bền chặt bởi tâm lý chung của người Hmông là hướng nội, ưu tiên các quan hệ trong nội bộ tộc người.

 Quan hệ kinh tế: Từ trước đến nay, các gia đình thành viên nội tộc người, nhất là xóm giềng thân thiết, họ hàng thân thích gặp khó khăn luôn hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong các hoạt động sinh kế, về nhân lực thì đổi công, giúp công; về vật lực thì giúp giống cây con, đất đai, công cụ sản xuất, lương thực, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và các sản vật khai thác từ tự nhiên. Những quan hệ kinh tế này thường được thực hiện một cách vô tư, nhất là trước đây khi một gia đình gặp phải khó khăn như neo đơn, ốm yếu, đói kém.. sẽ nhận được sự giúp đỡ mà không cần phải hoàn trả, cho vay tiền không phải trả lãi, đất đai có thể cho mượn sử dụng hoặc cho luôn... Đến nay, cùng với quá trình phát triển của xã hội và chủ yếu là tác động của nền kinh tế thị trường, trong các mối quan hệ kinh tế nội tộc người đã xuất hiện tình trạng phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội ngày càng rõ rệt; quan hệ kinh tế sòng phẳng có đi có lại, trong đó nổi lên hình thức thuê mướn nhân công ngày càng phổ biến. Ngoại trừ có quan hệ thân tộc, bạn bè thân thiết còn giữ được hình thức giúp đỡ vô tư như trước, nếu không phổ biến là vay mượn phải trả lãi xuất, thiếu đất đai và công cụ sản xuất thì phải mua hoặc thuê, giúp công thì phải trả công hoặc bằng tiền hay vật chất theo thỏa thuận...

 Quan hệ xã hội: Sự đổi mới cơ chế kinh tế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng các mối quan hệ xã hội giữa các đồng tộc sinh sống trên các địa bàn khác nhau. Nếu như trước đây, đa số các tộc người sinh sống tương đối tập trung tại những vùng nhất định, thì sau khi thực hiện di dân theo kế hoạch của Nhà nước (theo các dự án phát triển kinh tế, thủy điện, an ninh quốc phòng...) và sau đó là làn sóng di cư tự do của rất nhiều tộc người đã khiến cho bức tranh phân bố các tộc người thay đổi về cơ bản. Một trong những đặc điểm của các tộc người ở nước ta là dù di cư xa hay gn vẫn giữ mối liên hệ nhiều mặt với họ hàng, đồng tộc nơi quê cũ. Họ liên hệ với nhau không chỉ liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên, phụng dưỡng ông bà, bố mẹ già, mà còn giúp nhau trong quá trình di chuyển cư đến nơi mới hoặc khi trở về quê cũ. Chính các mối quan hệ này đã giúp các tộc người tiếp tục duy trì và củng cố ý thức cội nguồn lịch sử, tăng cường quan hệ giao lưu với mục đích cố kết lại với nhau cùng có lợi.

Tuy nhiên, tình trạng sinh sống phân tán và di cư đến nhiều vùng không có mối quan hệ về địa lý, thường cũng không tránh khỏi thực tế là quan hệ nội tộc người, thậm chí là họ hàng ngày càng lỏng lẻo, do mật độ cư trú xen kẽ và điều kiện giao lưu với các tộc người khác ngày thêm gia tăng, nhất là với các trường hợp hôn nhân hỗn hợp, vay mượn ngôn ngữ, tập quán xã hội, lối sống, chịu ảnh hưởng của đời sống chính trị, xã hội, giáo dục của địa phương nơi họ mới đến sinh sống, làm cho những cộng đồng này bị thu hẹp dần các mối quan hệ xã hội trong nội tộc người, và một bộ phận dân số không thể giữ được quan hệ đồng tộc chặt chẽ như trước đây.

 Quan hệ văn hóa. Các tộc người thiểu số ở Việt Nam tuy có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, nhất là trong đời sng tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán, lễ hội của cộng đồng, dòng họ và gia đình. Tuy nhiên, ở mỗi một tộc người lại có những sắc thái văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo riêng, như quan niệm và nghi lễ thờ cúng tổ tiên, dòng họ của người Hmông khác với thờ cúng Bàn vương của người Dao và cũng khác với nghi lễ thờ cúng ‘Phi’ của người Thái…Đây là các yếu tố quan trọng tạo ra và giữ vững bản sắc văn hóa tộc người, tăng cường tính cố kết cộng dồng, dòng họ và gia đình.

 Hiện nay, do cư trú phân tán ở nhiều vùng miền khác nhau và do tác động cùa nền kinh tế thị trường có nhiều chuyển đổi, sự cố kết xã hội của một bộ phận dân cư ngày càng lỏng lẻo, bản sắc văn hóa tộc người ngày càng mai một, nhất là trong sinh hoạt tín ngưỡng, tập quán và sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống. Đó là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để có biện pháp giải quyết. Những năm gần đây còn xuất hiện xu hướng phân chia, đối lập trong nội bộ một số tộc người do sự khác biệt về tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt là giữa bộ phận dân cư bảo lưu tín ngưỡng truyền thống và nhóm người cải đạo.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét