Quan hệ dân tộc được
hiểu là các mối quan hệ, giao lưu, hợp tác gắn bó và tác động lẫn nhau giữa các
tộc người trong một quốc gia đa tộc người và giữa các quốc gia dân tộc với nhau
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, quan hệ dân tộc được đề cập
trên hai phương diện: quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và quan hệ
giữa các quốc gia dân tộc.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, thuật ngữ quan hệ dân tộc thường được hiểu/đồng nhất là quan hệ tộc người. Quan hệ tộc người được hiểu là các mối liên
hệ, giao lưu, hợp tác, liên kết, phân ly giữa các cá nhân hay các tổ chức khác
nhau trong các cộng đồng của một tộc người hoặc giữa các tộc người. Do đó, khái
niệm “quan hệ dân tộc” ở Việt
Nam cần phải được hiểu là quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia đa tộc
người và quan hệ đồng tộc xuyên biên giói. Trên thực tế, quan hệ dân tộc diễn
ra ờ mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi trong đời sống của tất cả các tộc người và
giữa các tộc người nên rất đa dạng và phức tạp, gồm nhiều chiều, nhiều hình
thức, nhiều cấp độ và không gian khác nhau.
Nếu xét theo không gian, các mối
quan hệ dân tộc ở Việt Nam diễn ra cả trong vùng nội biên và xuyên biên giới. Xuất phát từ đặc điểm cấu trúc dân tộc ở
Việt Nam có một tộc ngưòi đa số (người Kinh) và 53 tộc người còn lại là thiểu
số (hơn 300 nhóm địa phương), cùng với sự khác biệt về nguồn gốc lịch sử, ngôn
ngữ, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ phát triển
kinh tế„ văn hóa, xã hội, quan hệ dân tộc cần được phân biệt/xác định theo các trục quan hệ cơ bản như sau: (1) Quan hệ giữa các tộc người với quốc gia - Dân tộc {nation); (2) Quan hệ giữa tộc người đa số
(người Kinh) với các tộc người thiểu số; (3) Quan hệ giữa các tộc người thiểu số và trong nội bộ từng tộc người
thiểu số; (4) Quan hệ
tộc người xuyên biên giới.
Các mối quan hệ này tuy có vị trí
và mức độ ảnh hường khác nhau, nhưng đều có mối liên quan chặt chẽ. Với xu thế cùng cộng cư, hôn nhân hỗn hợp, quan hệ làm ăn và nhiều yếu tổ
khác, nhất là dưới tác động của đường
lối, chính sách dân tộc tiến bộ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đang dần
thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc. Vì vậy, phạm vi của các mối quan hệ tộc người ở Việt Nam hiện nay không chỉ diễn ra giữa các thành
viên trong cùng một tộc người mà cả với các tộc người khác. Trong đó, mối quan
hệ giữa người Kinh - tộc người đa số với các tộc người thiểu số được xem là
trục quan hệ quan trọng, nhất là sự có mặt của người Kinh ở vùng dân tộc và
miền núi hiện nay với số lượng ngày càng gia tăng và có ảnh hường quan trọng
đến phát triển bền vững. Bên canh đó, mối quan hệ của từng tộc người với quốc
gia dân tộc cũng là nội dung quan trọng cần được nghiên cứu bởi nó phản ánh
nhận thức, vị thế và sự tham gia của từng tộc người trong sự phát triển chung
của quốc gia dân tộc.
Quan hệ dân tộc ở Việt Nam dù
trên phạm vi hay lĩnh vực nào cũng luôn hướng tới một hoặc nhiều mục đích: trao
đổi kinh tế (bao gồm buôn bán, làm thuê, hợp tác kinh doanh...); duy trì sự gắn
kết họ hàng, đồng tộc; chia sẻ các giá trị lịch sử, văn hóa tộc người và các
sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng; và có thể vì mục tiêu hay lý do chính trị
khác...
Thời gian qua, với mục tiêu xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam, quan hệ dân tộc ở Việt nam mang bản chất nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy các dân tộc đã giải quyết tốt các mối quan hệ
với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét