Về cơ bản các tộc người
ở Việt Nam đều đề cao tính cộng đồng tộc người, dòng họ và thân tộc. Quan hệ
với các tộc người khác chỉ diễn
ra một số lĩnh vực
như sinh hoạt kinh tế và xã hội chung.
+ Quan
hệ kinh tế
Với đặc điểm cư trú xen
cài và nông nghiệp nặng tính tự cung tự cấp nên mối quan hệ kinh tế được thể
hiện giữa các gia đình mang tính chất láng giềng, giữa bản làng này với cộng
đồng cư trú liền kề khác. Quan hệ kinh tế giữa các tộc người hiện nay có phần
được đẩy mạnh hơn trước do điều kiện
cư trú xen kẽ ngày càng gia tăng, nhất là việc một bộ phận người Kinh di cư lên miền núi và vùng dân tộc thiểu số khác đã có
tác động đẩy mạnh khai hoang phục hóa đất đai và thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa
các hình thức sản xuất nông nghiệp và trao truyền các kỹ thuật tiến bộ trong
sản xuất cho đồng bào các dân tộc; đồng thời, người Kinh cũng phải học tập kinh
nghiệm lâu đời của người dân tộc để sản xuất hiệu quả ở vùng đất mới...
Tuy nhiên, trong quá
trình đó, cũng không tránh khỏi những bất đồng xảy ra liên quan đến lợi ích
giữa các cộng đồng dân cư tại chỗ và bộ phận mới đến, nhất là quyền lợi trong
các mối quan hệ đất đai. Các mối quan hệ này vừa mang tính trực tiếp vừa gián
tiếp, biểu hiện rất đa dạng ở từng vùng, từng tộc người. Nếu như trong thời kỳ
hợp tác xã nông nghiệp, quan hệ kinh tế giữa các tộc người tại các địa phương
diễn ra theo xu hướng ngày càng xích lại gần nhau, bởi tính chất cơ bản của nền
kinh tế thời bấy giờ là cùng làm ăn chung theo mô hình hợp tác xã thì hiện nay
một số địa phương đang diễn ra xu hướng và biểu hiện có phần ngược lại. Quan hệ
này ngày càng trở nên bức xúc do xuất hiện thường xuyên hơn các mâu thuẫn liên
quan đến tranh chấp đất đai.
Quan hệ kinh tế giữa các
tộc người cho đến nay chủ yếu diễn ra các hoạt động nông nghiệp và trao đổi mua bán truyền
thống, phần lớn mang tính tự phát giữa người dân
với nhau, nhất là ở khu vực đa dân tộc sống xen cư xen canh, những
gia đình có quan hệ hôn nhân, kết nghĩa anh em. Do đó, cần đẩy mạnh hơn nữa
các mối quan hệ kinh tế khác, nhất là phải tăng cường sự định hướng, tổ chức
của Nhà nước, chính quyền và đoàn thể địa phương.
+ Quan
hệ chính trị xã hội:
Trong bối cảnh hiện nay,
quan hệ giữa các tộc người còn liên quan mật thiết đến sự trỗi dậy ngày càng
manh mẽ về ý thức tự giác của nhiều dân tộc, nhất là trong đội ngũ trí thức và
cán bộ địa phương. Có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng chú ý là cùng với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế
là việc tăng cường các chính sách ưu tiên
đầu tư phát triển, Nhà nước hỗ trợ cho các tộc người có số dân ít, sinh sống ở
các địa bàn khó khăn đã góp phần làm trỗi dậy
ý thức tự giác tộc người tạo nên "điểm nóng" ở một số tộc người tại
một số địa phương; tâm lý mong muốn có người của mình tham gia vào hệ thống
chính trị các cấp; được hưởng đầy đủ các chính sách ưu tiên của Nhà nước như cử
tuyển con em vào các trường đại học cao đẳng, gửi con em vào các trường nội trú
ở địa phương... Tình trạng này dẫn đến việc một số nhóm tộc người muốn tách ra thành một dân tộc riêng, một số
khác lại muốn đổi tên gọi (Người Pu Nà ở tỉnh Cao Bằng đòi được đổi tên là
người Quý Châu, dân tộc Khơ Mú ở Nghệ An và người Hmông (trước đây) cũng đề
nghị được xem xét thay đổi tên gọi... Tất cả những động thái này đã và đang làm
ảnh hưởng tiêu cực không chỉ trong nội bộ tộc người, mà còn giữa các tộc người
và khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới.
+ Quan
hệ văn hóa: Mối quan hệ này phát triển tương đối toàn diện, các
tộc người không chỉ học hỏi nhau cách thức ăn, mặc, ở và đi lại mà còn giao
lưu, tiếp thu các yếu tố phù hợp trong đời sống tâm linh, thông qua việc tổ
chức lễ hội và các thực hành tín ngưỡng, tạo nên những đặc trưng văn hóa mang
đậm dấu ấn tộc người thể hiện nét văn hóa liên tộc người hay văn hóa vùng.
Trong đó, đáng chú ý là việc một số tộc người sử dụng ngôn ngữ của các tộc
người có dân số đông trong vùng đóng vai trò quan trọng, thể hiện nhu cầu phát
triển các mối quan hệ giữa các tộc người. Chẳng hạn, ngoài tiếng Kinh thì đa số
các dân tộc vùng Tây Bắc có thể sử dụng được tiếng Thái, ở vùng Đông Bắc là
tiếng Tày, không chỉ để giao tiếp với người Thái, ngưòi Tày mà còn giao tiếp
với nhau thông qua ngôn ngữ thứ ba.
Như vậy, để có thể phát
triển mối quan hệ giữa các tộc người thông qua văn hóa, các dân tộc cần hiểu
biết, tôn trọng tập quán, lối sống, hệ giá trị của các tộc người láng giềng, không ngừng nâng cao
trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống, tổ chức các sinh hoạt văn hóa chung bổ ích để tạo điều
kiện cho các dân tộc có thêm nhiều cơ hội giao lưu, hòa hợp, xích lại gần nhau.
- Quan hệ giữa tộc người đa số với
các tộc người thiểu số
Mối quan hệ giữa tộc
người đa số với các tộc người thiểu số mang tính cơ bản, liên thông với các
quan hệ khác và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
+ Quan hệ kinh tế: Ngoài yếu tố giao lưu, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong sản xuất, tạo ra được
các quan hệ tích cực trong hoạt động
kinh tế giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, trong đó người Việt giữ vai
trò thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội, nhất là trong việc truyền bá khoa học kỹ thuật và đẩy manh hệ thống thương mại, dịch vụ ờ vùng các tộc người thiểu số, thì
mối quan hệ này đã nảy sinh một số mâu thuẫn trong làm ăn, buôn bán, nhất là ở
các khu vực cửa khẩu hoặc vùng cỏ điều kiện phát triển kinh tế. Sự phân hoá xã
hội, trong đó phân hoá giữa nhóm tộc người có khả năng phát triển nhanh với
nhóm chậm phát triển dưới tác động của kinh tế thị trường, đang làm nảy sinh
tâm lý so bì đố kỵ giữa các tộc người ờ một số nơi. Định kiến của một bộ phận
đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh do sự gia tăng những tiêu cực trong
làm ăn, buôn bán của một bộ phận người Kinh đối với họ. Ngược lại, đó là sự kỳ
thị của người Kinh với các dân tộc thiểu số, sự so bỉ của người Kinh, nhất là
người Kinh di dân tái định cư theo kể hoạch ở vùng núi, với đồng bào các tộc
thiểu sổ về các chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà nước đối với các tộc người
thiểu sốẻ Đặc biệt, nảy sinh ngày càng nhiều và sâu sắc mâu thuẫn,
tranh chấp đất đai giữa một bộ phận người dân tộc tại chỗ với bộ phận người
Kinh mới nhập cư, nhất là di cư theo kế hoạch của Nhà nước. Mâu thuẫn về đất
đai đôi khi căng thẳng tới mức đã gây ra xung đột cục bộ giữa một bộ phận người
dân tại chỗ với người Việt mới nhập cư tại một số địa phương trong những năm
gần đây, nhất là các tỉnh có mức độ di cư và tái định cư cao như vùng Tây
Nguyên, Tây Bắc...
+ Quan hệ chính trị xã hội: Hoà hợp giữa các tộc người, nhất là giữa dân tộc đa
số và các dân tộc thiểu số được thể hiện ở sự gia tăng về mức độ cư trú xen kẽ,
sự tăng cường các mối quan hệ thuê mướn lao động, việc sử dụng song ngữ, hôn
nhân hỗn hợp giữa các tộc người, về cơ bản, quan hệ giữa các tộc người thiểu số và tộc
người đa số ở nước ta vẫn đảm bảo bình đẳng, tôn trọng, hoà hợp và giúp đỡ lẫn
nhau. Người Kinh vẫn đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và đảm bảo đoàn kết
dân tộc, thể hiện rõ nét trên các lĩnh vực một đội ngũ cán bộ công chức đông
đảo và trình độ chuyên môn cao của người Kinh đang phục vụ ở
các vùng đồng bào dân tộc, đại đa số giáo viên, nhân viên y tế, khoa học kỹ thuật
ở vùng miền là người Kinh; tỷ lệ kết hôn hỗn hợp giữa người Kinh với các tộc
người thiểu số ở khắp mọi vùng miền ngày càng trở nên phổ biến.
Tuy vậy, ngoài
những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển kinh tế, chính trị xã hội, an ninh, quốc phòng và củng cố tình đoàn kết giữa nhân dân các tộc người, ở các địa phương ngày càng có nhiều người Kinh, kể cả cán bộ, viên chức
Nhà nước có những hành vi tiêu cực,
gây tổn hại cho quan hệ lâu đời giữa các
dân tộc. Cụ thể là sự xuất hiện
ngày càng nhiều trường hợp người Kinh cho người dân tộc thiểu số vay nặng lãi, bán chịu giá cao, mua bán ép giá. Một số khác có
chức, quyền đã dưa con em, họ hàng đến lập nghiệp,
lấn chiếm những nơi thuận tiện giao thương, chủ yếu là các khu đất ven trụ sở ủy ban xã, trung tâm cụm xã, chợ, trường
học, thị tứ, thị trấn, ven những con
đường và công trình công cộng mới được xây dựng. Chưa kể một số doanh nghiệp
người Kinh làm chủ đến vùng dân tộc thiểu số thực hiện các dự án, hoạt động du lịch, buôn bán, khai thác tài nguyên... ngoài
việc lợi dụng tính thật thà của các tộc người thiểu sổ để khai thác tài nguyên
thiên nhiên và sức lao động của họ, mà còn tìm nhiều cách xâm hại đến hạnh phúc
gia đình họ.
Những việc làm không tốt đẹp này đang diễn ra ngày càng nhiều, làm
cho các tộc ngưòi thiểu số ở nơi này nơi kia có tâm lý ác cảm và quay lưng dần
với người Việt. Đặc biệt, một số tộc người tại một số địa phương còn hình thành
tâm lý và dư luận cho rằng người Kinh lên chiếm đất đai của cha ông để lại cho
họ. vấn đề này càng bộc lộ rõ hơn trong thời gian gần đây khi chúng ta triển
khai các khu tái định cư, giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình, dự án
phát triển quốc gia. Lợi dụng vấn đè này, một số học giả phương Tây và các thế lực phản động đã xuyên tạc, bịa đặt hòng chi rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
Như vậy, trong
quan hệ chính trị - xã hội giữa các tộc người, giữa tộc người đa số với các tộc
người thiểu số đã xuất hiện tư tưởng ly khai,
tự trị.
Các biểu hiện này nếu không được giải quyết thỏa đáng sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng, khoét sâu bất đồng,
mâu thuẫn, gây ra các “điểm nóng” về chính
trị và xã hội.
+ Quan hệ văn hóa: Có thể nói ngày càng phổ biến xu hướng giao lưu, hợp tác về mọi mặt,
trong đó có yếu tố văn hóa là xu hướng chủ đạo trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Chẳng
hạn như tiếng Việt ngày càng đóng vai trò to lớn và là một trong những tiêu chí
cơ bản nói lên xu hướng giao lưu hòa hợp này. Đến nay, hầu hết các tộc người
thiểu số đều biết sử dụng tiếng và chữ viết của người Kinh ở những mức độ khác
nhau để giao tiếp, học tập, làm ăn kinh tế.. Ngược lại ở rất nhiều nơi vùng cao
biên giới, một bộ phận người Kinh đã tích cực học tiếng của các tộc người thiểu
số trong vùng để giao tiếp và làm ăn, sống trong các ngôi nhà sàn, uống rượu
cần, làm nương rẫy... như các tộc người thiểu số trong vùng.
Để giữ vững và
phát triển quan hệ tốt đẹp giữa các tộc người thiểu số và tộc người đa số cần
kiên quyết chống tư tưởng dân tộc lớn, tránh sự áp đặt. Ngược lại, các tộc người
thiểu sổ do trình độ phát triển còn nhiều hạn chế nên dễ có những tư tưởng chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi, cục bộ địa phương. Do vậy, để đoàn kết giữa tộc người đa
số với các tộc người thiểu sổ cần phát triển sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau,
khắc phục tư tưởng dân tộc lớn, hẹp hòi, địa phương, bản vị và đẩy nhanh phát
triển bền vững kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường vùng đồng bào dân tộc thiểu
sổ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét