Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2020

NHỮNG MÁNH KHÓE XUYÊN TẠC TRƯỚC ĐẠI HỘI ĐẢNG

 

Những ngày qua, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại đẩy mạnh các hoạt động chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, tung tin sai sự thật, bịa đặt về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Thủ đoạn nguy hiểm thường xuyên sử dụng là tung tin giả mạo, thất thiệt về công tác chuẩn bị nhân sự của Đảng. Ngày 12/8, ngay sau khi ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, bị đình chỉ công tác “để điều tra trách nhiệm có liên quan trong một số vụ án theo quy định của pháp luật” và ngày 01-02/12, Ủy ban Kiểm tra T.Ư họp đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành T.Ư khóa XII xem xét khai trừ Đảng đối với ông Nguyễn Đức Chung, nguyên Chủ tịch UBND TP.Hà Nội. Ngay lập tức các trang mạng đã xuyên tạc rằng đây là chuyện đấu đá phe phái trong bối cảnh sắp diễn ra Đại hội Đảng. Đây không phải là thủ đoạn mới, nhưng phương thức hoạt động, thông tin ngày càng tinh vi hơn.

Theo thiếu tướng Nguyễn Minh Chính, Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cho biết: “Tiến tới Đại hội Đảng lần thứ XIII thì những hoạt động này diễn biến hết sức phức tạp. Có đến hàng ngàn trang ở trên mạng xã hội và các kênh YouTube. Đặc biệt, như Việt Tân có đến hơn 1.000 clip liên quan đến hoạt động tiến hành Đại hội Đảng các cấp để xuyên tạc, tuyên truyền thông tin sai sự thật. Hiện nay, các đối tượng dễ làm giả như thật những trang mạng, những thông tin làm cho người đọc nếu không tỉnh táo thì dễ bị nhầm lẫn. Ví dụ có những trang báo làm giả danh giống hệt như những trang báo chính thống, đưa thông tin mà trong đó, có những nội dung xuyên tạc”. Trên mạng xã hội với mánh lới là “giật tít - câu khách”, đánh trúng vào tâm lý tò mò của nhiều người kiểu như: đấu đá khốc liệt, thanh trừng phe nhóm, nhộn nhịp chia phần, lộ đường dây chạy ghế… về nhân sự Đại hội XIII của Đảng, nhưng những nội dung mà trang mạng này thông tin đều giả mạo, bóp méo, “đổi trắng thay đen” để reo rắc sự hoài nghi cho người đọc. Khi Đại hội còn chưa diễn ra vậy mà những kẻ ở tận trời Tây lại ngồi sắp xếp bộ máy lãnh đạo của Đảng từ cao xuống thấp rồi khẳng định như thật rằng người này triệt hạ người kia để giữ được vị trí này vị trí khác. Tất cả chủ ý của chúng là bôi nhọ danh dự, đời tư và hạ thấp công trạng, đóng góp của các đồng chí lãnh đạo đương chức của Đảng, Nhà nước bằng thủ đoạn phán tán thông tin, hình ảnh, clip giả tạo, sai lệch, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, gây ra những hoài nghi, hoang mang trong dư luận.

Từ nay đến đại hội, những thông tin bịa đặt vẫn còn nhiều và thủ đoạn điên cuồng hơn. Mỗi chúng ta khi đọc và tiếp nhận thông tin phải tìm hiểu đúng bản chất, không để mắc mưu kẻ xấu./.

Chuyện trời, chuyện đất, chuyện nhân tâm




Khi nói tới trời đất là nói tới lẽ tự nhiên của tạo hóa, con người ở giữa trời đất, ai kết nối, hội tụ được 3 thành tố trên thì người đó đáng ở ngôi Vương. Mỗi khi gặp khó khăn, thách thức thì người ta hay kêu “ôi trời đất ơi, khó quá”, mỗi  khi thành đạt người ta cũng thầm cảm ơn “nhờ trời”. Tuy nhiên, có một điều mà phải ai từng trải nghiệm trên đời thì mới thấu hiểu rằng “khó đo lòng người”. Nói về chuyện trời tức là nói tới đấng siêu nhiên, không ai cản được mà chỉ biết tuân theo “thuận thiên”. 

Chung tay xây dựng, vun đắp cho tinh thần đại đoàn kết các dân tộc trường tồn mãi mãi.

 

Đó là phát biểu của Thủ tướng Chính phủ NGUYỄN XUÂN PHÚC tại Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ II năm 2020. Xin trích dẫn toàn văn bài phat biểu của Thủ tướng:

"Hôm nay, tôi rất vui mừng phấn khởi cùng với các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về dự Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ II. Đây là một sự kiện có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, một biểu tượng đặc biệt về khối đại đoàn kết các dân tộc, như "54 cánh sen tạo nên một Bông Sen Việt Nam” rực rỡ, ngát hương.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi xin gửi tới các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nhân, người có uy tín, 1.593 đại biểu ưu tú dự đại hội và đồng bào các dân tộc thiểu số trên mọi miền đất nước lời thăm hỏi ân cần, tình cảm thân thiết, lời chúc mừng sức khỏe, hạnh phúc. Chúc đại hội của chúng ta thành công tốt đẹp.

Nhìn lại chặng đường 10 năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức rất lớn, nhưng nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng lên miền núi, từ thành thị về nông thôn, từ đất liền ra đến hải đảo.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại buổi lễ

Việt Nam được cộng đồng quốc tế vinh danh là một nền kinh tế năng động, tăng trưởng nhanh tại châu Á với GDP tăng trung bình 6,3% trong 10 năm qua. Ngay cả khi thế giới phải đối mặt với đại dịch thế kỷ Covid-19, Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới đạt được mức tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2020, thậm chí có thể là quốc gia duy nhất có tăng trưởng kinh tế dương ở khu vực Đông Nam Á, theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).

Sự phát triển của quốc gia đến từ thành công của các địa phương. Bên cạnh các địa phương phát triển luôn duy trì sức tăng trưởng cao, các tỉnh khó khăn-nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc, nhiều tỉnh miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vẫn luôn nỗ lực để đạt tăng trưởng khá, với ý chí không để tỉnh nhà bị bỏ lại phía sau, quyết tâm phải làm cho các dân tộc tỉnh nhà ngày càng vươn lên cuộc sống ấm no, tốt đẹp hơn. Sự "thay da đổi thịt" ở nhiều nơi có thể cảm nhận hằng ngày, như: Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hòa Bình, Cao Bằng, Gia lai, Kon Tum, Đắc Nông, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Bình Phước, Sóc Trăng, Trà Vinh... 

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện hỗ trợ về giáo dục, y tế, phát triển hạ tầng, kinh tế xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chiếm 71,4% tổng chi cho các nhiệm vụ này của cả nước, chiếm 80% tổng chi giảm nghèo của vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững được ưu tiên bố trí thực hiện cho địa bàn dân tộc, miền núi, chiếm 70% tổng vốn chương trình qua các giai đoạn. Nguồn vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội chiếm 52,5% tổng dư nợ cả nước trên địa bàn miền núi, dân tộc. Với những quyết tâm và nguồn lực tập trung đầu tư mạnh mẽ như vậy, chúng ta vui mừng nhận thấy: Đến nay, 100% các xã đã có đường ô tô đến trung tâm; 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện; 65% xã có hệ thống thủy lợi nhỏ đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống; 80% thôn có đường cho xe cơ giới; trên 50% xã có trạm y tế đạt chuẩn, 100% đồng bào dân tộc thiểu số có BHYT miễn phí. 

Bên cạnh đó, các giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm bảo tồn và phát huy, không chỉ trở thành một tài sản tinh thần cho con cháu mà còn là một tài nguyên mới cho sự phát triển, nhất là du lịch. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng đạt được nhiều kết quả tích cực. Hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng ở các vùng đồng bào dân tộc thêm đoàn kết, thống nhất, vững mạnh hơn. Niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước được củng cố và tăng cường hơn. Nhìn một cách tổng quát, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số chưa bao giờ được khởi sắc như ngày nay.

Chúng ta không chỉ một chiều nhìn thấy các chính sách mà Đảng và Nhà nước đã chăm lo cho đồng bào các dân tộc, mà chúng ta cũng nhận thấy đồng bào các dân tộc đã góp phần rất to lớn vào những thành quả phát triển vĩ đại của đất nước xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta, và gần đây nhất là thành quả của gần 35 năm đổi mới đất nước.

Chỉ chiếm chưa đến 15% dân số, nhưng đồng bào các dân tộc đã và đang góp phần to lớn vào tiến trình phát triển của đất nước. Trong kháng chiến, nhiều chiến công oanh liệt, nhiều tên tuổi của những anh hùng vẫn sống mãi với chúng ta như Hoàng Văn Thụ, La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Đinh Núp, Lò Văn Giá, Sơn Ton, Hồ Vai, Pi Năng Tắc, Kpuih Thu... và hàng ngàn anh hùng liệt sĩ là người dân tộc thiểu số đã hy sinh anh dũng vì độc lập và tự do của dân tộc. Rất nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là người dân tộc thiểu số.

Trong hòa bình, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều hình thức vinh danh những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đó là những đại diện tiêu biểu nhưng vẫn chưa đủ để đánh giá hết những đóng góp xuất sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số cho sự phát triển của bản làng, quê hương, đất nước. Đây không phải là thành quả riêng lẻ của từng dân tộc, nó là sự kết tụ và giao hòa, thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó keo sơn máu thịt giữa các dân tộc anh em đồng bào - đồng chí - đồng nghĩa - đồng cảm(1), "tình đồng chí, nghĩa đồng bào". Có thể khẳng định, đoàn kết chính là cội nguồn sức mạnh của đại dân tộc Việt Nam ta. “Khi riêng rẽ, mỗi chúng ta chỉ là một giọt nước. Cùng nhau, chúng ta là đại dương”: Chỉ khi cùng nắm chặt tay nhau tiến lên - 54 dân tộc anh em Con Lạc-Cháu Rồng, chúng ta sẽ xây dựng được một quốc gia hùng mạnh. 

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi vô cùng xúc động và trân trọng ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao đồng bào các dân tộc thiểu số cả nước đã đóng góp xứng đáng công sức của mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn vừa qua.

Vui mừng trước những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, chúng ta cũng thừa nhận còn nhiều hạn chế khuyết điểm chưa thể làm được hay làm tốt hơn được.

Kinh tế đất nước mặc dù tăng trưởng cao trong nhiều năm trở lại đây, quy mô kinh tế giờ đây đã ở trong nhóm 4 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, song chúng ta vẫn còn ở nước có thu nhập trung bình, chúng ta vẫn phải nỗ lực rất nhiều để sớm hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường vào năm 2045 – sánh vai với các nước phát triển như Bác Hồ mong ước.

Nhà nước đã đầu tư đáng kể vào kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, trong khi ở nhiều nơi, các dự án đầu tư vẫn chưa mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội mong muốn. Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung chuyển biến chậm.

So với sự phát triển của cả nước và ở từng địa phương, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, nguy cơ tái nghèo còn cao, khoảng cách thu nhập so với cả nước ngày càng giãn cách. Kỹ năng lao động của người dân tộc thiểu số còn thấp, khiến cho cơ hội việc làm hạn chế và thu nhập chậm được cải thiện.

Hiện tượng di cư tự do, vấn nạn tàng trữ, buôn bán, sử dụng chất ma túy ở một số thôn bản còn diễn ra phức tạp; tình hình an ninh trật tự ở các tuyến biên giới, cửa khẩu có nhiều thách thức; bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một, trong khi nhiều hủ tục lạc hậu chậm được khắc phục, nhất là vấn nạn tảo hôn và tình trạng hôn nhân cận huyết làm suy kiệt nòi giống.

Cộng đồng các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời và là “máu-thịt” của dân tộc Việt Nam, “no đói có nhau, sướng khổ cùng nhau”. Đầu tư phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư phát triển bền vững đất nước, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; là yếu tố có tính nền tảng để đảm bảo đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong không khí long trọng, trang nghiêm của đại hội, chúng ta thành kính tưởng nhớ công lao trời biển của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, cùng nhau nhắc nhớ lời căn dặn thiêng liêng của Người: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”.

Trong hệ thống quan điểm hướng đến đồng bào các dân tộc anh em mà Bác đã dặn, có hai điều quan trọng nhất mà chúng ta không được phép quên, đó là: "Đoàn kết các dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào".

Trên tinh thần đó, tôi đề nghị thời gian tới, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến cơ sở cần tập trung thực hiện thật tốt các nội dung sau:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có trách nhiệm tiếp tục phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Kết luận số 65-KL/TW ngày 30-10-2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới. Trên cơ sở đó xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện. Nỗ lực cao nhất để giải quyết căn bản những vấn đề bức thiết đặt ra trong thực tiễn, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và đời sống của người dân, thực hiện phương châm hành động “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy, hành động quyết liệt, với quyết tâm chính trị cao nhất, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 88/2019/QH14 và Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV và Quyết định số 1409/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 120 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Chính quyền các địa phương cần phát huy tính năng động, sáng tạo, trên cơ sở các tiềm năng, lợi thế của địa phương, tập trung nỗ lực và nguồn lực để sớm cụ thể hóa tinh thần Kết luận 65 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 120 của Quốc hội và Quyết định số 1409 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tinh thần lớn nhất là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo nhanh, bền vững và tránh tái nghèo; các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cần tập trung khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với mặt bằng chung cả nước; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gần dân hơn, hiểu dân hơn, trọng dân hơn và hết mực phụng sự dân; tăng cường giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm an ninh biên giới quốc gia.

Ba là, tôi mong muốn đồng bào dân tộc thiểu số của chúng ta dù khó khăn vất vả đến đâu cũng phải ưu tiên thời gian và tiền của, tạo mọi điều kiện để cho con em chúng ta được đến trường, được vui chơi, được học hành đến nơi đến chốn. Chỉ có giáo dục mới là con đường duy nhất đưa bản làng, quê hương, đất nước chúng ta phát triển giàu mạnh được. Trong tương lai, ngày mai tươi sáng phụ thuộc vào những gì chúng ta chuẩn bị trong ngày hôm nay. Chúng ta hãy cùng vun đắp khát vọng vượt khó vươn lên, phấn đấu làm giàu chính đáng, ngay trên mảnh đất quê hương mình.

Hãy cùng nhau giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc (về tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ, dân nhạc...), đồng thời cần kiên quyết bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan, nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết. Hãy tìm cách chuyển hóa các di sản và bản sắc dân tộc đó trở thành một nguồn lực, một thứ tài nguyên cho sự phát triển bền vững. Hãy truyền dạy cho con cháu muôn đời về lòng yêu nước của cha ông ta, về tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc; về đức tính cần cù, chịu khó, thật thà, tốt bụng; về ý chí dấn thân vì cộng đồng, đất nước; hãy khơi gợi tinh thần và khát vọng về một Việt Nam hùng cường năm 2045 trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Bốn là, rừng là lá phổi của chúng ta. Với đồng bào dân tộc thiểu số, rừng trước tiên còn là tấm áo giáp góp phần bảo vệ an toàn khỏi thiên tai, lũ lụt, sạt lở. Rừng cũng là sinh kế của đồng bào. Vì thế, đã đến lúc đồng bào dân tộc thiểu số phải giữ rừng như chính sinh mạng của mình. Cùng nhau lên án và chặn đứng tệ nạn khai thác, chặt phá rừng trái phép. Đảng và Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu để ban hành cơ chế, chính sách phù hợp hơn với thực tế; từng bước để đồng bào tăng thu nhập, bảo đảm lợi ích nhiều mặt từ bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ lá phổi xanh cho đất nước, góp phần quan trọng phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu.

Năm là, chúng ta phải cùng nhau tiếp tục xây dựng, vun đắp cho tinh thần đại đoàn kết các dân tộc trường tồn mãi mãi. Như Bác Hồ kính yêu từng dạy: "Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”. Đại đoàn kết là cội nguồn sức mạnh, là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được bao thế hệ cha anh bền bỉ xây dựng, vun đắp, bằng mồ hôi, công sức; bằng sự nhọc nhằn, hy sinh; bằng ý chí, sức mạnh và niềm tin của lòng dân. Bởi vậy, tôi rất kỳ vọng gần 1.600 đại biểu ưu tú của 54 dân tộc anh em, từ mọi miền của đất nước hội tụ về đại hội hôm nay sẽ lan tỏa tinh thần đại đoàn kết các dân tộc lên tầm cao mới; truyền cảm hứng, kết nối đồng bào các dân tộc thiểu số cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đồng lòng chung sức, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước ta phát triển cường thịnh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Từ diễn đàn đại hội hôm nay, chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sắp tới, sẽ đánh giá đúng đắn thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra của khóa XII. Đồng thời đề ra được chủ trương, quyết sách lớn, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh truyền thống với bản sắc văn hóa của các dân tộc với sức mạnh của thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

Xin chúc các vị đại biểu, đồng bào, đồng chí mạnh khỏe; Chúc đại hội của chúng ta thành công tốt đẹp. Chúc khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam ta ngày càng vững mạnh. Cơ đồ đất nước, vinh quang Tổ quốc đời đời thuộc về cộng đồng các dân tộc Việt Nam ta"./.

 

Liên minh quốc tế Stefanus can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Nhà nước Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng Hiến chương của Liên hợp quốc.

 

Nhiều năm nay, việc một số đối tượng luôn có hành vi, hoạt động vi phạm pháp luật chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam song lại được một vài tổ chức quốc tế nhân danh nhân quyền tôn vinh, trao tặng giải thưởng, khiến dư luận đã phải đặt câu hỏi về mục đích của các tổ chức này. Bởi, bất chấp thành tựu của Việt Nam về thực thi và bảo vệ quyền con người đã được quốc tế ghi nhận, các tổ chức này đang lợi dụng nhân quyền làm chiêu bài phục vụ cho các mưu đồ hiểm độc.. Mới đây nhất là Liên minh quốc tế Stefanus (Stefanus Alliance International) đã công khai thông tin về việc trao “giải thưởng Stefanus 2020” cho Nguyễn Bắc Truyển với đài RFA vì “có thành tích trong hoạt động thúc đẩy quyền tự do tín ngưỡng và bảo vệ những sắc tộc thiểu số tôn giáo”. Nguyễn Bắc Truyển trước đây bị bắt và đang phải chấp hành bản án 11 năm tù, 3 năm quản chế về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và một số đối tượng khác.

Những thủ đoạn đó càng cho thấy, họ cố tạo ra những trò hề, là động thái chống phá Nhà nước Việt Nam của các tổ chức này.

Từ thực trạng của cái gọi là “giải thưởng nhân quyền”, có thể thấy bản chất các giải thưởng này chỉ là thủ đoạn giúp các tổ chức chống cộng quốc tế hợp thức hóa việc cung cấp tiền bạc cho những kẻ được họ o bế, tiếp tay hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam.

Đây có thể nói là hành động can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Nhà nước Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng Hiến chương của Liên hợp quốc.

Vì thế, cần nhận diện và vạch trần bản chất xấu xa của các loại giải thưởng nhân danh nhân quyền nêu trên, đồng thời khẳng định rõ đó không phải là việc tôn vinh cá nhân, mà chính xác là hành vi tiếp tay cho cái xấu. Tiếp cận và nhìn nhận đúng đắn vấn đề sẽ giúp chúng ta hiểu rõ bản chất cùng các trò ma quỷ của những kẻ đã và đang mưu đồ cản trở, phá hoại sự ổn định, phát triển của Việt Nam; đồng thời giúp những người còn mơ hồ, thiếu hiểu biết không bị mê hoặc, không bị sa vào “cái bẫy” của kẻ xấu./.

AI ĐÃ VÔ ƠN???

Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, Cuba và nhiều nước trên thế giới (có những nước không thuộc chế độ Cộng Sản) đã tổ chức Quốc tang 7 ngày.

Năm 1973, khi chiến tranh Việt Nam đang trong giai đoạn cực kỳ căng thẳng. Fidel Castro trực tiếp đến Việt Nam, tham gia vào phòng tuyến Quảng Trị. Trong chuyến thăm này, Cuba tặng Việt Nam nhiều công trình kinh tế - xã hội trị giá khoảng 80 triệu đô la gồm:


- Khách sạn Thắng Lợi ở Hà Nội, trên đường Yên Phụ, Hồ Tây. Hiện nay vẫn còn sử dụng tốt


- Nông trường bò sữa Mộc Châu với 1.200 con bò thụ thai ở Cuba và đẻ ở Việt Nam (trẻ em Cuba được uống sữa miễn phí hằng ngày, còn trẻ em Việt Nam không có sữa mà uống vì các công trình y tế, trang trại bị Mỹ ném bom phá hủy)


- Nông trường gà ở Lương Mỹ (Hòa Bình) sau thành nơi cung cấp gà giống cho cả miền Bắc (sữa không có mà uống, thịt không có mà ăn) ==>(?!!!)


- Bệnh viện Cuba 500 giường ở Đồng Hới (Quảng Bình). Ai là dân Quảng Bình chắc chắn phải biết nhờ cái bệnh viện này hàng trăm nghìn người đã được chăm sóc y tế, đã được cứu sống.


- Chính phủ Cuba ngoài viện trợ lương thực, y tế còn quyết định chi hơn 6 triệu USD để mua các trang thiết bị hiện đại từ Nhật Bản và cử một số sĩ quan, chuyên viên sang Việt Nam để tu sửa, xây dựng cầu đường.


Năm 1977, Cuba vận động tất cả các nước Mỹ Latinh bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.


Năm 1979, khi Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam. Fidel Castro lại một lần nữa nhấn mạnh "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình". Ông ra lệnh cho quân đội sẵn sàng đến trợ giúp Việt Nam. Tuy nhiên ngay sau đó, Liên Xô đưa quân đội cùng rất nhiều tên lửa đến sát biên giới Trung Quốc và tuyên bố sẽ san phẳng Bắc Kinh nếu như Trung Quốc không rút quân về nước. Trung Quốc vội vàng thu quân.


Những năm 80, Mỹ cấm vận, trừng phạt kinh tế, dùng nhiều thủ đoạn để cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với thế giới, Cuba vẫn luôn luôn viện trợ Việt Nam về mọi mặt.


Năm 1973 Cuba giúp ta bắc cầu treo Bến Tắt qua thượng nguồn sông Bến Hải vào nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn trên đường Hồ Chí Minh nhánh đông và rải nhựa đoạn này trước khi giải phóng miền Nam. Năm 2005 lũ lớn cuốn trôi cầu ta phải phục chế lại để giữ kỷ niệm của nước bạn... Đến nay nhiều bạn trẻ không biết nghĩa tình chung thủy VN- CB son sắt đến mức nào


Năm 1986 xảy ra thảm họa nguyên tử Chernobyl ở Ukraine. Hàng ngàn trẻ em Ukraine đã được sang Cuba điều trị miễn phí. Tuy không được phía Cuba tiết lộ, các quan chức chính phủ Ukraine ước tính chi phí điều trị cho đến nay không dưới 300 triệu USD.

Mặc dù hiện nay Ukraine bài trừ cộng sản nhưng Tổng Thống Ukraine Petro Poroshenko, sau khi biết tin ông Fidel Castro mất, đã gửi lời tri ân đến ông và nhân dân Cuba về điều này.


Những năm 1980, 1990 Việt Nam ở trong tình trạng khan hiếm vaccine. Giá vaccine thời ấy cực kỳ đắt đỏ. Trẻ sơ sinh có tỷ lệ tử vong tăng cao. Cuba đã viện trợ rất nhiều vaccine cho Việt Nam, đồng thời đào tạo nhiều y bác sỹ cho Việt Nam.

Thế hệ 8x và 9x của Việt Nam cao lớn và khỏe mạnh như hiện nay đều nhận những mũi vaccine từ Cuba, vì sao họ vội quay lưng hùa theo mạng xã hội ném đá...

và còn nhiều, nhiều, nhiều nữa...Fidel Castro và người dân Cuba đã vì Việt Nam như thế...Vậy, tại sao nhiều người đã vô ơn không nhớ điều đó?! Chúng ta có thể thích người này ghét người kia, hay có tư tưởng chính trị khác nhau hoặc có người muốn mượn chuyện Cuba để nói chuyện nước ta nước Lào; nhưng cho dù vì mục đích gì mà tỏ thái độ báng bổ và vô ơn với người đã từng giúp đỡ mình thì đó không phải là truyền thống đạo đức của người Việt Nam, ngày 04/12 nước ta tổ chức Quốc tang dành cho Fidel Castro bạn sẽ làm gì để tưởng nhớ ông ấy???!!!

TỈNH TÁO NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, PHẢN ĐỘNG

 

Những ngày qua, trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, facebook cá nhân... đã chủ ý đăng tải nhiều thông tin xuyên tạc, thất thiệt và cố tình suy diễn về công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Chúng tung ra các luận điệu xuyên tạc, quy chụp công tác chuẩn bị nhân sự Trung ương bị chi phối bởi “nhóm lợi ích” từ một bộ phận quan chức cầm quyền ở Trung ương sắp đặt sẵn, bắt buộc các cấp phải thi hành thông qua hình thức dân chủ “mị dân”… Những thông tin nêu trên là nhằm gây nhiễu loạn tình hình nhân sự trong Đảng, hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo đương chức, gây nghi kỵ, mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến thiếu thống nhất, mất đoàn kết. Đây thực chất là một thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc của kẻ thù, bởi công tác cán bộ và sự đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội là một trong những vấn đề hết sức hệ trọng đối với cách mạng Việt Nam. Đảng ta coi công tác nhân sự luôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhất là thời điểm hiện nay đang diễn ra cuộc chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước XHCN, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Do đó, bài học xương máu về sự sụp đổ của hệ thống XHCN tại Liên Xô trước đây có nguyên nhân từ sai lầm về công tác cán bộ dẫn đến việc quyền lực của Đảng Cộng sản bị giao vào tay những người phản bội lại chế độ XHCN đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Còn vấn đề đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội được xem là sức mạnh nội sinh, là bức tường thành vững chắc để Đảng ta lãnh đạo nhân dân đánh thắng mọi kẻ thù, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chính vì vậy, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá ta về công tác cán bộ nói chung, công tác nhân sự Đại hội Đảng nói riêng và khối đoàn kết trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc./.

Kiên quyết đấu tranh chống các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch

 


Trong những năm qua, hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi và quyết liệt. Trước hết, chúng đẩy mạnh tuyên truyền, kích động, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm nhân quyền và lôi kéo một số đối tượng người dân tộc lập các tổ chức ly khai chống chế độ, chủ yếu là thông qua các đài phát thanh ở hải ngoại và các tổ chức phản động ở nước ngoài; trực tiếp hơn là lôi kéo bộ phận người dân tộc từ Việt Nam di cư sang các quốc gia láng giềng tham gia các tổ chức phản động, thực tập vũ trang cướp chính quyền như hoạt động của “Vương quốc Hmông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề ga” ở Tây Nguyên.

Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những điều kiện mói của thế giới, vấn đề dân tộc và các động thái tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam để liên kết các cộng đồng tôn giáo thành một lực lượng chính trị kích động tâm lý dân tộc cực đoan, đòi tự trị, ly khai.. Đây là một trong những vấn đề bức xúc, đang nổi lên ở một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, có sự đa dạng về thành phần tộc người và tôn giáo ở Việt Nam, từ miền núi phía Bắc, miền Tây Thanh Hóa - Nghệ An, Tây Nguyên đến Tây Nam bộ.

Ngoài các thủ đoạn trên, tại một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, khu vực biên giới, bằng nhiều phương thức và những thủ đoạn khác nhau, núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, quyền của người bản địa”, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền và những hạn chế trong thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước để tập hợp lực lượng, tuyên truyền, xuyên tạc, kích động tư tưởng tự trị, ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi nhằm thực hiện ý đồ phá hoại tính cố kết nội bộ tộc người và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc ở Việt Nam.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cần phát huy cao độ trong phòng, chống COVID-19 hiện nay

 


Thời gian vừa qua trong chống dịch COVID-19 Việt Nam đã được cộng đồng thế giới đánh giá rất cao. Tuy là một quốc gia phát triển ở mức trung bình trên thế giới, nhưng qua hai lần chống dịch COVID-19, Việt Nam đã chứng tỏ cho thế giới rằng: Là một quốc gia có năng lực chống dịch rất tốt. Vấn đề là thành công trong chống dịch COVID-19 được xuất phát từ nguyên nhân nào. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến Việt Nam chống dịch thành công qua hai lầ chống dịch. Đó là sự vào cuộc nhanh, triệt để của toàn xã hội. Mục đích chống dịch là vì tính mạng người dân. Quốc gia có truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, yêu nước, đồng cam, cộng khổ…Những vấn đề trên là nguyên nhân cơ bản mang đến thành công trong chống dịch COVID-19 thời gian qua. Những vấn đề trên cần phát huy hơn nữa và cần được thắp sáng lên hơn nữa tyrong điều kiện mấy ngày vừa qua dịch đã bùng phát trở lại ở Thành phố Hồ Chí Minh.

 Chúng ta hãy phát huy cao độ tinh thần yêu nước cách  mạng, bởi vì chỉ có tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm của mọi người dân Việt nam, chúng ta mới vượt lên trong giai đoạn này, chúng ta mới thực hiện tốt mục tiêu kép, mới thực hiện được trạng thái bình thường mới trong xã hội hiện nay.

Tác động của toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế đến giải quyết mối quan hệ tộc người ở Việt Nam

 


Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một trong những nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ tộc người ở nước ta trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. Kinh tế thị trường đã thâm nhập các làng bản, vùng cao, vùng sâu, vùng xa để người dân có thể thụ hưởng nhiều sản phẩm tiêu dùng từ các nước khác trong khu vực hay trên thế giới. Tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc được mở rộng, làm cho diện mạo các tộc người có sự thay đổi theo hướng tích cực.

Ảnh hưởng của toàn cầu hoá đến với các tộc người có thể thông qua con đường trực tiếp hay gián tiếp. Với một số người tộc người sống vùng biên giới, qua con đường làm ăn, trao đổi và tiếp xúc với người nước ngoài, họ đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của toàn cầu hoá. Song có một bộ phận lớn dân cư các tộc người ở nước ta chịu tác động gián tiếp, đó là qua sự điều tiết của kinh tế thị trường, đô thị hoá, hay tác động của tộc người đa số. Qua đó, toàn cầu hoá đã gia tăng mối quan hệ, liên hệ giữa các tộc người, trên cả phương diện kinh tế, văn hóa và các phương diện khác.

Như vậy, các ảnh hưởng tích cực, ngoài việc thụ hưởng và nâng cao đòi sống vật chất, rõ ràng toàn cầu hoá cũng làm phong phú thêm đời sống xã hội và văn hoá các tộc người, về phương diện văn hoá, ở đây không phải hoàn toàn chỉ là sự “lai căng”, mà có cả tiếp thu, học hỏi văn hoá. Mặt khác, cũng phải thừa nhận, do tác động của toàn cầu hoá, một số khía cạnh văn hoá truyền thống được khôi phục và phát huy tốt hơn, như dưới ảnh hưởng của du lịch, nhiều nghề thủ công truyền thống và tri thức địa phương được phát triển để phục vụ du khách.

Phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết trong chống dịch COVID-19

 


Thời gian vừa qua trong chống dịch COVID-19 Việt Nam đã được cộng đồng thế giới đánh giá rất cao. Tuy nhiên mấy ngày vừa qua dịch đã bùng phát trở lại ở Thành phố Hồ Chí Minh. Việc dịch bùng phát trở lại đã được giới chuyên gia cảnh báo từ trước, bởi vì từ những vấn đề chủ quan lơ là mất cảnh giác, đến những vấn đề về ý thức trách nhiệm, về vấn đề quản lý của các cấp còn lỏng lẻo, đến những vấn đề nảy sinh tiềm ẩn khác…Hiện tượng ở thành phố Hồ Chí Minh là biểu hiện của ý thức trách nhiệm trong chấp hành cách ly. Đây là bài học rất lớn để chúng ta có những giải pháp căn cơ trong chống dịch COVID- 19 trong thời gian tới. Như chúng ta đã biết, hiện nay bệnh dịch COVID-19 đang hoành hành rất nghiêm trọng ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, ngay cả những nước rất phát triển về quản lý xã hội và tiềm năng y tế tiên tiến bậc nhất thế giới, đã gây hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản cho loài người. Việc phòng chống dịch thành công như Việt Nam trong thời gian vừa qua có thể nói là một kỳ tích, được ghi nhận từ phía các nước trên thế giới. Tuy nhiên chống dịch đã khó, việc phòng dịch lại càng khó hơn. Bởi vì để dịch không trở lại, trong xã hội phải thực hiện rất tốt các biện pháp phòng, chống dịch. Các biện pháp phòng, chống dịch này nó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, thái độ, ý chí và tính văn minh của con người. Chính vì vậy trong những ngày tới, chúng ta phải quyết liệt hơn nữa, đồng bộ hơn nữa, nghiêm túc hơn nữa để cả xã hội chung tay, đoàn kết trong chống dịch COVID-19.

Yếu tố lịch sử tộc ngưòi chi phối lớn đến quan hệ dân tộc ở Việt nam

 


Lịch sử tộc người và quan hệ tộc người gắn liền với các yếu tố nguồn gốc và lãnh thổ tộc người, chính trị, văn hóa, tôn giáo trên hai phạm vi: quan hệ nội bộ tộc người giữa các nhóm tộc người (nhóm địa phương) trong phạm vi quốc gia và quan hệ đồng tộc ỉiên/xuyên quốc gia. Quá trình lịch sử tộc người ở Việt Nam thời gian qua diễn ra vừa có quá trình cố kết tộc người, vừa có cả quá trình đồng hóa tự nhiên. Nhưng chi phối hơn cả, bao trùm hơn cả là quá trình hòa hợp, cố kết tộc người. Ở một quốc gia đa tộc người như Việt Nam, các tộc đa số hay thiểu số, dù có mặt lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam hay mới gia nhập vào cộng đồng các tộc người Việt Nam thống nhất, có trình độ phát triển cao hay thấp đều tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nước.

Vnguồn gốc, các tộc người ở Việt Nam có nhiều truyền thuyết giải thích họ cùng chung nguồn gốc. Yếu tố lịch sử về nguồn gốc là điều kiện thuận lợi để cộng đồng các tộc người gần gũi gắn bó, đoàn kết, kề vai sát cánh bên nhau, đùm bọc lẫn nhau trong quá trình dựng và giữ nước. Bên cạnh đó, các tộc người ở Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh quá trình hòa hợp tộc người, về phương diện nhân chủng học thì đại bộ phận các tộc người ở Việt Nam đều thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. về phương diện ngôn ngữ, ngoại trừ một số ít cư dân ngữ hệ Hán - Tạng, còn đại bộ phận các tộc người sinh sống ở Việt Nam đều thuộc ngữ hệ phương Nam, bao gồm hai ngữ hệ là Nam Á và Nam Đảo về mặt cư trú, do quá trình di cư xảy ra liên tục với nhừng nhóm lớn nhỏ khác nhau nên từ lâu đã tạo nên việc cư trú xen kẽ.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với một chính sách dân tộc đúng đắn, việc cư trú xen kẽ lại là những điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa, hôn nhân, làm tiền đề cho quá trình hòa hợp dân tộc, dựng nước và giữ nước, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, sự tồn tại của cả cộng đồng các tộc người.

Quá trình hình thành dân tộc Việt Nam thống nhất chính là quá trình dẫn đến sự thay đổi về chất trong những tộc người ở Việt Nam. Trong suốt tiến trình lịch sử, đặc biệt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tộc người không phân biệt số lượng đông hay ít, có mặt lâu đời hay mới có mặt trên lãnh thổ Việt Nam, ở trình độ phát triển cao hay thấp đều tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nước, đều coi Việt Nam là Tổ quốc chung. Nhờ vậy, ý thức quốc gia dân tộc, lòng tự hào, tự tôn dân tộc sớm hình thành và ngày càng phát triển.

Nhanh chóng hơn nữa trong chống dịch COVID-19

 


Trong những ngày vừa qua Việt Nam chúng ta lại có ca mắc mới dịch COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây có thể nói là vấn đề rất nghiêm trọng trong tình hình hiện nay. Khi dịch bùng phát Đảng ,Nhà nước, cả hệ thống chính trị nhanh chóng vào cuộc để chống dịch. Với phương châm: Chống dịch như chống giặc; Quyết liệt hơn, thần tốc hơn nữa trong phòng, chống dịch COVID-19 hiện nay. Đây là sự quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân Việt Nam trong chống dịch COVID- 19. Tuy nhiên chúng ta phải nhiều biện pháp đồng bộ hơn nữa ở các địa phương khác. Ví dụ như việc đeo khẩu trang, qua mấy ngày chống dịch ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng tâm lý chủ quan vẫn còn ở một số người, vẫn còn hiện tượng tụ tập đông người; vẫn còn nhiều người không đeo khẩu trang ở nơi công cộng… Những việc làm trên đã thể hiện tính chủ quan của người dân trong chống COVID-19 lần này.

Điều kiện tư nhiên và môi trường sinh thái ảnh hưởng lớn đến quan hệ dân tộc ở Việt Nam

 


Việt Nam bao gồm nhiều vùng lãnh thổ đặc trưng (Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ). Sự biến đổi về điều kiện tự nhiên thường dẫn tới sự biến đổi quan hệ dân tộc như một tất yếu khách quan trong phát triển xã hội. Những thành tựu đạt được trong 30 năm đổi mới cũng đồng thi làm cho quan hệ tộc người truyền thống biến đổi theo nhằm phù hợp với môi trường sinh thái mới. Các tộc người ở Việt Nam vốn gắn với nền nông nghiệp độc canh đang tịnh tiến đến nền nông nghiệp nhiệt đới thâm canh, đa canh theo hướng sản xuất hàng hóa. Sự hình thành và phát triển các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa có năng suất cao cũng đã xuất hiện ở nhiều vùng Tây Bắc, Tây Nguyên... Do đó, quan hệ dân tộc cũng được mở rộng không ngừng, không chỉ bó hẹp trong cộng đồng nội tộc người mà với các tộc người khác, đặc biệt quan hệ giữa tộc người thiểu số với tộc người đa số (người Kinh). Sự biến đổi môi trường tự nhiên, làm cho nhiều tộc người vổn sống nghề thủ công nghiệp truyền thống hướng đến bán công nghiệp. Cơ cấu sản phẩm công nghiệp không ngừng biến đổi để phù hợp với tài nguyên lao động và nền kinh tế thị trường. Trên cơ sở đó, quan hệ dân tộc mở rộng không ngừng, các tộc người không chỉ còn sống với nghề thủ công truyền thống với các thành viên trong cộng đồng nội tộc mà họ đã hướng đến làm việc cùng với các tộc người khác, với tộc người đa sổ (người Kinh) và cả với các tộc người từ Cămpuchia, Lào sang hay Trung Quốc đến.

Trong những năm qua, quá trình khai thác kinh tế của người Kinh ở vùng dân tộc thiểu số đã xuất hiện nhiều nông, lâm trường, cùng nhiều điểm dân cư mới. Tuy nhiên, xã hội chưa quan tâm đúng mức đến hệ quả của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Nạn suy thoái rừng do cháy rừng, khai thác rừng cạn kiệt đang là những báo động lớn. Bên cạnh đó, vấn đề di cự tự do kèm theo việc khai thác tài nguyên rừng bừa bãi chưa kịp thời ngăn chặn đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm ưọng. Việc xây dựng các công trình thủy điện lớn cũng đã làm thay đổi hệ sinh thái, tác động không nhỏ làm suy thoái môi trường và tài nguyên. Tỷ lệ che phủ rừng hiện còn thấp, độ dốc lớn, khí hậu biến đổi dẫn tới thiên tai, lũ lụt. Nhiều vùng có độ dốc lớn, đất đai bị xói mòn, bạc màu, cằn cỗi (nhất là khu vực Tây Bắc), gây khó khăn, hạn chế lớn cho việc mở rộng giao lưu, nhất là những vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới.

Những khó khăn, thách thức nêu trên liên quan trực tiếp đến quan hệ dân tộc. Những cuộc tranh cãi, xung đột vì xâm phạm lãnh thổ sinh tồn liên quan đến nguồn tài nguyên, đất đai giữa các tộc người tại chỗ với các tộc người mới di cư chưa được khắc phục. Tình trạng phân hóa giàu nghèo, dẫn đến nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp trong quan hệ dân tộc.

Sự phát triển kinh tế đồng thời cũng làm biến đổi môi trường định cư, không gian xã hội tộc người, điều đó cũng đồng nghĩa với sự biến đổi quan hệ tộc người trên phương diện văn hóa. Văn hóa truyền thống của tộc người bắt đầu biến dạng do sự xâm nhập của các luồng văn hóa hiện đại từ người Kinh, từ nền kinh tế thị trường... vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của mỗi tộc người đang được đặt ra, nhưng việc thực hiện còn nhiều bất cập, hiệu quả không cao, tác động xấu đến quan hệ tộc người, đến sự ổn định và phát triển xã hội.

Tình hình nói trên, một số phần tử thù địch trong và ngoài nước đã lợi dụng, kích động, làm cho các mối quan hệ tộc người ở Việt Nam, nhất là vùng biên giới trở nên căng thẳng, phức tạp, dẫn đến xung đột tộc người ở một số khu vực “nhạy cảm” thuộc nhiều địa phương trong thời gian vừa qua.

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Để thực hiện tốt quan hệ dân tộc ở Việt Nam cần nắm vững những đặc điểm dân tộc hiện nay

 


 Các dân tộc ở Việt Nam có dân sổ không đồng đều  

Hiện Việt Nam có 54 thành phần dân tộc. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 86,4% dân số cả nước; 53 dân tộc thiều s chiếm 13,6% dân số. Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cùng không đồng đều, có dân tộc số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me, Hmông), nhưng có dân tộc số dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, ơ đu). Dân số không đều giữa các dân tộc đang là vấn đề đặt ra trước yêu cầu giải quyết hợp lý số dân cho từng dân tộc. Thực tế ở Việt Nam, nếu một dân tộc mà s dân chỉ có hàng trăm thì rất khó cho việc tổ chức cuộc sng, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi. Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc có số dân quá ít phải trở thành quốc sách, một nhiệm vụ có tính thời sự của quốc gia.

 Các dân tộc ở Việt Nam cư trú rất phân tán và xen kẽ nhau, không có vùng lãnh thổ riêng cho một dân tộc.

Việt Nam vốn là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc khu vực Đông Nam Á, đó là các dòng chuyển cư từ Nam lên, Tây sang và chủ yếu từ Bắc xuống. Qua các đợt chuyển cư đã có nhiều dân tộc định cư lâu dài ở Việt Nam. Các dòng chuyển cư đến đầu tiên định cư ở các thung lũng, chân núi; các đợt đến sau định cư ở rẻo giữa và các đợt sau nữa lấy rẻo cao làm nơi sinh sống. Tính chất chuyển cư như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phân tán, xen kẽ. Đây là một đặc điểm nổi bật về bức tranh phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cũng chính tình hình cư trú phân tán, xen kẽ đã làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng. Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn.

Tính chất cư trú của các dân tộc ở Việt Nam một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, phát triển tinh thần đoàn kết, tương trợ; mặt khác, nếu không giải quyết tốt và kịp thời mối quan hệ giữa các dân tộc, thì dễ xảy ra mâu thuẫn, xung đột lợi ích, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị của đất nước.

 Các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam phân bổ chủ yếu trên các địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, môi trường sinh thái

Về phương diện kinh tế, miền núi - địa bàn phân bố chủ yếu của các dân tộc thiểu số là nơi chứa đựng hầu hết trữ lượng khoáng sản của đất nước

Từ nhiều thế kỷ qua, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã sống dựa vào các nguồn thực phẩm sẵn có trong tự nhiên. Những vùng đất phì nhiêu ở khu vực này rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè... Những vùng đất rộng lớn của miền núi là tiềm năng để xây dựng các trang trại, nông trại. Rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng trồng cây lấy gỗ sẽ là nguồn tài sản quý báu của đất nước. Như vậy, miền núi Việt Nam chẳng những có khả năng phát triển nông lâm nghiệp kết hợp, mà còn có khả năng phát triển công nghiệp hiện đại, làm cơ sở để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Về phương diện chính trị, địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí đặc biệt quan trọng, nhiều dân tộc sinh sống đọc biên giới, tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia. Ở Việt Nam, một số tộc người như Mường, Chứt, Thổ, Bana, Cơ ho... chủ yếu cư trú trên lãnh thổ Việt nam, các tộc người khác (Hmông, Dao, Thái, Khơ me..) có một bộ phận sinh sống ở Việt Nam còn lại cư trú ở nước khác. Trong đó, một số dân tộc còn là đối tượng nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế mà hoạt động của họ có liên quan tới sự ổn định chính tri, xã hi ở Viêt Nam.

về phương diện quốc phòng, miền núi luôn là phên dậu vững chắc của quốc gia. Địa thế xung yếu, hiểm trở của miền núi và lòng yêu quê hương đất nước của nhân dân các dân tộc sinh sống ở đây làm cho miền núi trở thành nơi tụ nghĩa của nghĩa quân (nghĩa quân Lam Som), căn cứ địa cách mạng và kháng chiến (chiến khu Việt Bắc), nhiều khi là mồ chôn quân xâm lược (ải Chi Lăng ở Lạng Sơn thời chống Minh, Điện Biên Phủ thời chống Pháp hay Buôn Ma Thuột thời chống Mỹ.).

Từ sự phân tích tầm quan trọng của địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số Việt Nam, có thể dễ dàng nhận thấy vì sao Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và miền núi. Vì vậy, có thể hiểu tại sao trong lịch sử dựng nước và giữ nước tư tưởng “Một tấc không đi, một ly không dời, quyết tâm bám gi bản làng đã khắc sâu vào tâm khảm các dân tộc Việt Nam.

 Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều.

Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sng, quan hệ xã hội ca các dân tộc thiểu số rất khác nhau về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau. Một sổ ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiếm đoạt, khai thác của cải sẵn cỏ trong tự nhiên. Tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang kinh tể sản xuẩt, của cải vật chất nuôi sổng con người ngày được làm ra nhiều hơn.

Xuất phát từ trình độ phát triển về kinh tể - xă hội không đều nhau gia các dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương thực hiện bình đẳng dân tộc, xem đó là một nguyên tăc cơ bản trong chỉnh sách n tộc. Muốn thực hiện bình đảng dân tộc thì phải từng bước giảm, tiến tới xoả bỏ khoảng ch giữa các dân tộc về phát triển kinh tế - xã hội. Đây là nội dung quan trọng trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam để cảc dàn tộc thiều sổ tiến kịp dân tộc đa số. Trong quá trình xoá bỏ sự chênh lệch này, sẽ từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc. Hiện nay chủ trương của Đảng là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông; thôn, miền núi nhằm để tiến tới xoá bỏ sự chênh lệch nói trên trong sự phát triển của các đàn tộc. Một khi quyền bình đẳng được thực hiện không chi trên văn bản pháp lý mà còn trong thực tế cuộc sống thì sẽ là ca sở để củng cố, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa các dân tộc, đồng thời tạo sự đồng thuận và sức mạnh để chổng lại sự chống phá của các thế lực thù địch có thể lợi dụng vấn đề dân tộc đề phá hoại thành quả cách mạng nước ta.

 Các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết gn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc - quốc gia thống nhất

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trài qua nhiều cuộc chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Trong bối cảnh chịu sự chi phối mạnh mô của điều kiện tự nhiên và sự tác động của sự kiện lịch sử, các dân tộc đã sớm có ý thức tự giác, chung sống trong một quốc gia dân tộc. Mặc dù trình độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán có điểm khác nhau, thời điểm cư trú ở Việt Nam cũng không hoàn toàn giống nhau, song các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc đa số đã đoàn kết, tương trợ cùng nhau đấu tranh cùng chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, là một trong những nguyên nhân và động lực quan trọng, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng trong nhiều giai đoạn lịch sử. Nhờ có sức mạnh đoàn kết dân tộc, các dân tộc thiểu số cũng như đa số đã liên kết, hợp sức để khai phá đất hoang, xây dựng các hệ thống thủy lợi nhằm phát triển sản xuất; đánh thắng mọi kẻ thù xâm ỉược để giành lại độc ỉập thống nhất cho Tổ quốc.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, các dân tộc ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trong quan hệ giữa các tộc người, đoàn kết là xu hướng chủ đạo, là sức mạnh, là truyền thống, là điều kiện tồn tại của mỗi tộc người, của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên thời gian gần đây, do nhiều nguyên nhân, trên từng địa bàn, nhiều nhân tố tiềm ẩn tác động không nhỏ vào truyền thống đoàn kết. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam đòi hỏi các dân tộc thiểu số cũng như đa số phải ra sức phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, giữ gìn và tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

 Mỗi dân tộc đều cỏ bản sắc văn hóa riêng góp phần làm nên sự phong phủ, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc dù có số dân ít hay nhiều, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hay thấp cũng đều có những sác thái văn hóa độc đáo riêng góp phần làm phong phú, đa dạng cho nền văn hóa

Về phương diện ngôn ngữ, các dân tộc ở Việt Nam tuy thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ vàn hóa khác nhau. Trong đó tiếng Việt được dùng làm phương tiện giao tiếp chung cho tất cả các dân tộc - ngôn ngữ phổ thông, là công cụ xây dựng ý thức dân tộc thống nhất. Tuy nhiên, tiếng nói riêng (tiếng mẹ đẻ) của mỗi dân tộc vẫn được duy trì trong nội bộ từng dân tộc, vẫn là công cụ xây dựng ý thức riêng của từng tộc người. Cùng với tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ do điều kiện sổng xen kẽ và nhu cầu giao tiếp, nhiều dân tộc đã sử dụng song hay đa ngữ trong giao tiếp.

Trong hoạt động sản xuất, mỗi vùng, mỗi dân tộc đều gắn với điều kiện tự nhiên và tập quán riêng. Nhà cửa các dân tộc ở Việt Nam có nhiều loại, tiêu biểu là nhà sàn và nhà đất Trang phục của mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng, thể hiện qua các kiểu áo, quần, váy, cách trang trí hoa văn...

Tổ chức xã hội ở mỗi dân tộc có những sắc thái riêng, là môi trường lưu giữ được nhiều tri thức văn hóa dân gian, dân ca, dân vũ có giá trị nghệ thuật cao tạo nên những bản sắc văn hóa riêng, phong phú, đa dạng. Song các dân tộc ở Việt Nam đều gắn bó trong quá trình dựng nước và giữ nước, có ý thức về quốc gia chung, có sự đóng góp vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

Tâm lý chủ quan, ý thức trách nhiệm kém còn hiện hữu ở một số người dân hiện nay trong chống dịch COVID-19

 


Hiện nay dịch COVID-19 đã bắt đầu bùng phát trở lại Việt Nam. Với quyết tâm cao nhất của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn dân phải nhanh chóng truy vết, tìm hiểu để xác định những người liên quan. Những ngày vừa qua, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đồng bộ các giải pháp, cho đến hôm nay đã truy vét và xét nghiệm số người nghi lây nhiễm bệnh nhưng không có ai có nguy cơ lây nhiễm. Tuy nhiên đây mới chỉ là biện pháp bước đầu. Hiện nay tâm lý chủ quan, cùng với ý thức kém của một số người lad tác nhân, nguy cơ cao để dịch bùng phát trở lại. Ngay ở Hà Nội, qua theo dõi mấy ngày vừa qua, mặc dù Thành phố Hồ Chí Minh đã có dịch COVID-19 bùng phát trở lại, thấy rằng phần lớn nhân dân đã có ý thức hơn trong đeo khẩu trang, tuy nhiên ở một số người vẫn còn tâm lý chủ quan và ý thức trách nhiệm còn hạn chế nên không đeo khẩu trang. Nếu tình trạng này không được duy trì nghiêm túc, trong mấy ngày tới dịch bùng phát trở lại chúng ta sẽ có lượng người mắc rất lớn dịch COVID-19.

Việt Nam thực hiện tốt mối quan hệ tộc người xuyên/liên biên giới

 


Các quan hệ tộc người xuyên biên giới hiện nay chủ yếu là quan hệ nội tộc người, nhưng có điểm khác biệt so với các mối quan hệ nội tộc người ở trong nước là tính chất xuyên/liên quốc gia. Những mối quan hệ đồng tộc, thân tộc này có nhiều mặt tích cực song cũng ẩn chứa nhiều yếu tố tiềm ẩn, dễ bị các thể lực thù địch lợi dụng, đánh tráo những khái niệm giữa vấn đề lãnh thổ tộc người, vùng cư trú của tộc người và biên giới quốc gia.

 Quan hệ về nguồn gốc lịch sử: Trong số các dân tộc ở Việt Nam, đặc biệt là các tộc người cư trú ở vùng biên giới thường có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng, di cư đến Việt Nam vào những thời điểm và bởi các nguyên nhân khác nhau, trong đó có một bộ phận các dân tộc sau khi đến nước ta lại tiếp tục di cư sang quốc gia khác hoặc ngược lại di cư đến quốc gia khác rồi mới đến Việt Nam. Do đó, có tình trạng một số tộc người tuy hiện cư trú ở những quốc gia khác nhau, nhưng ngoài các mối tương đồng về đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng bào vẫn giữ được ý thức về nguồn gốc tộc người, tập tục thờ cúng tổ tiên chung và quan hệ dòng tộc của mình thông qua các câu chuyện huyền thoại, biểu tượng vật tổ hay tô tem và nghi lễ thờ cúng. Tuy nhiên, mối quan hệ này mang nhiều sắc thái và mức độ khác nhau giữa các dân tộc.

 Quan hệ kinh tế. Nhờ có mối quan hệ đồng tộc, thân tộc nên các cá nhân thường qua lại hai bên biên gii buôn bán, tìm cơ hội việc làm ăn, nhưng thường không thông qua kiểm soát của Nhà nước như tiếp nhận tiền và quà biếu tặng, hỗ trợ đầu tư sản xuất của các cá nhân, hoặc các tổ chức ở nước ngoài. Trong các hoạt động sản xuất, những người đồng tộc, thân tộc cũng thường xuyên giúp đỡ, trao đổi hoặc mua bán các giống cây trồng, vật nuôi, công cụ sản xuất, nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày và hỗ trợ nhân lực khi cần thiết. Việc trao đổi, mua bán giúp đỡ nhau này diễn ra hết sức linh hoạt ở các tộc người và tùy theo từng mối quan hệ, có thể tiến hành ờ các chợ cửa khẩu, các chợ địa phương ở vùng biên hai nước, tại các quầy hàng của gia đình hay đem đến tận các thôn bản.

 Quan hệ xã hội. Có thể nói, mối quan hệ này ngày càng phát triển, nhất là trong hôn nhân, gia đình và dòng họ. Trong quan hệ hôn nhân, các tộc người ở hai bên biên giới thường kết hôn với người cùng tộc, đa phần là nông dân và không cách trở nhiều về địa lý môi trường nên cũng ít gặp phải các trở ngại về ngôn ngữ, tập quán xã hội, sinh hoạt văn hóa, hoạt động sản xuất tại nơi ở mới.

Không chỉ trong hôn nhân, hầu hết các tộc người sinh sống ở vùng biên giới với Trung Quốc, Lào và Cămpuchia đều ngày càng tăng cường các mối quan hệ với những người đồng tộc, thân tộc ở bên kia biên giới. Trong đó, một bộ phận không nhỏ còn lợi dụng những mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới để thực hiện các hoạt động phi pháp, làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội, như: bắt cóc, lừa gạt và buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới; buôn bán hàng lậu; vận chuyển, mua bán ma tuý, vũ khí, tài liệu phản động; tiếp tay cho thổ phỉ hoặc tập hợp lực lượng nhằm mục đích ly khai, tự trị...

 Quan hệ văn hóa về cơ bản, mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới của các tộc người trên lĩnh vực văn hóa không diễn ra thường xuyên, chỉ có một số người có quan hệ máu mủ, thông gia, bạn bè thân thiết... sinh sống liền kề nhau dọc biên giới thi thoảng sang tham dự các lễ hội hay nghi lễ chung của dòng họ hay cộng đồng, mục đích chính vẫn là thăm viếng, thực hiện nghĩa vụ tâm linh truyền thống.

Tuy nhiên, thời gian gần đây thường xuyên xuất hiện việc lợi dụng quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới để qua lại đường biên bất hợp pháp nhằm vận chuyển, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, tài liệu tôn giáo và truyền đạo trái pháp luật. Đặc biệt trong mấy thập kỷ qua, hiện tượng một bộ phận người dân Hmông, Dao và của một số ít các dân tộc khác chuyển đổi sang theo đạo Tin Lành đã bắt đầu hình thành một xu hướng mới ưong quan hệ nội tộc người giữa những người có cùng tôn giáo. Như vậy, bên cạnh quan hệ đồng tộc, thân tộc truyền thống còn có thêm quan hệ về tôn giáo. Mối quan hệ này không chỉ diễn ra trong nội tộc người ở trong nước mà còn diễn ra giữa các đồng tộc, thân tộc ở nước ngoài và bộ phận tín đồ của các tộc người ở trong và ngoài nước.

Có thể nói, hiện nay các mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới ở nước ta đang ngày càng trở nên sâu rộng, tạo thêm nhiều cơ hội mới trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, khoa học, tình cảm, tâm linh... nhưng cũng làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề phức tạp, nhất là ở khu vực đa tộc người, đa tôn giáo vùng biên giới. Đặc biệt quan hệ đồng tộc, thân tộc, tôn giáo của một số tộc người đã vượt khỏi tầm quốc gia để có thể bị lợi dụng thành vấn đề quốc tế.