Việt Nam bao gồm nhiều
vùng lãnh thổ đặc trưng (Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ). Sự biến đổi về
điều kiện tự nhiên thường dẫn tới sự biến đổi quan hệ dân tộc như một tất yếu
khách quan trong phát triển xã hội. Những thành tựu đạt được trong 30 năm đổi mới cũng đồng thời làm cho quan hệ tộc người truyền thống biến đổi theo
nhằm phù hợp với môi trường sinh thái mới. Các tộc người ở Việt Nam vốn gắn với
nền nông nghiệp độc canh đang tịnh tiến đến nền nông nghiệp nhiệt đới thâm
canh, đa canh theo hướng sản xuất hàng hóa. Sự hình thành và phát triển các
vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa có năng suất cao cũng đã xuất hiện ở nhiều
vùng Tây Bắc, Tây Nguyên... Do đó, quan hệ dân tộc cũng được mở rộng không
ngừng, không chỉ bó hẹp trong cộng đồng nội tộc người mà với các tộc người
khác, đặc biệt quan hệ giữa tộc người thiểu số với tộc người đa số (người
Kinh). Sự biến đổi môi trường tự nhiên, làm cho nhiều tộc
người vổn sống nghề thủ công nghiệp truyền thống hướng đến bán công nghiệp. Cơ
cấu sản phẩm công nghiệp không ngừng biến đổi để phù hợp với tài nguyên lao
động và nền kinh tế thị trường. Trên cơ sở đó, quan hệ dân tộc mở rộng không
ngừng, các tộc người không chỉ còn sống với nghề thủ công truyền thống với các
thành viên trong cộng đồng nội tộc mà họ đã hướng đến làm việc cùng với các tộc
người khác, với tộc người đa sổ (người Kinh) và cả với các tộc người từ
Cămpuchia, Lào sang hay Trung Quốc đến.
Trong những năm qua, quá
trình khai thác kinh tế của người Kinh ở vùng dân tộc thiểu số đã xuất hiện
nhiều nông, lâm trường, cùng nhiều điểm dân cư mới. Tuy nhiên, xã hội chưa quan
tâm đúng mức đến hệ quả của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Nạn suy
thoái rừng do cháy rừng, khai thác rừng cạn kiệt đang là những báo động lớn.
Bên cạnh đó, vấn đề di cự tự do kèm theo việc khai thác tài nguyên rừng bừa bãi
chưa kịp thời ngăn chặn đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm ưọng. Việc xây dựng các
công trình thủy điện lớn cũng đã làm thay đổi hệ sinh thái, tác động không nhỏ
làm suy thoái môi trường và tài nguyên. Tỷ lệ che phủ rừng hiện còn thấp, độ
dốc lớn, khí hậu biến đổi dẫn tới thiên tai, lũ lụt. Nhiều vùng có độ dốc lớn,
đất đai bị xói mòn, bạc màu, cằn cỗi (nhất là khu vực Tây Bắc), gây khó khăn,
hạn chế lớn cho việc mở rộng giao lưu, nhất là những vùng cao, vùng sâu, vùng
biên giới.
Những khó khăn, thách
thức nêu trên liên quan trực tiếp đến quan hệ dân tộc. Những cuộc tranh cãi,
xung đột vì xâm phạm lãnh thổ sinh tồn liên quan đến nguồn tài nguyên, đất đai
giữa các tộc người tại chỗ với các tộc người mới di cư chưa được khắc phục.
Tình trạng phân hóa giàu nghèo, dẫn đến nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp
trong quan hệ dân tộc.
Sự phát triển kinh tế
đồng thời cũng làm biến đổi môi trường định cư, không gian xã hội tộc người,
điều đó cũng đồng nghĩa với sự biến đổi quan hệ tộc người trên phương diện văn
hóa. Văn hóa truyền thống của tộc người bắt đầu biến dạng do sự xâm nhập của
các luồng văn hóa hiện đại từ người Kinh, từ nền kinh tế
thị trường... vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của mỗi tộc người đang
được đặt ra, nhưng việc thực hiện còn nhiều bất cập, hiệu quả không cao, tác
động xấu đến quan hệ tộc người, đến sự ổn định và phát triển xã hội.
Tình hình nói trên, một
số phần tử thù địch trong và ngoài nước đã lợi dụng, kích động, làm cho các mối
quan hệ tộc người ở Việt Nam, nhất là vùng biên giới trở nên căng thẳng, phức
tạp, dẫn đến xung đột tộc người ở một số khu vực “nhạy cảm” thuộc nhiều địa
phương trong thời gian vừa qua.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét