Các dân tộc ở
Việt Nam có dân sổ không
đồng đều
Hiện Việt Nam có
54 thành phần dân tộc. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 86,4% dân số cả
nước; 53 dân tộc thiều số chiếm 13,6% dân số. Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cùng không
đồng đều, có dân tộc số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me,
Hmông), nhưng có dân tộc số dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, ơ đu). Dân số không đều giữa các
dân tộc đang là vấn đề đặt ra trước yêu cầu giải quyết hợp lý số dân cho từng
dân tộc. Thực tế ở Việt Nam, nếu một dân tộc mà số dân chỉ có hàng trăm thì rất khó cho việc tổ chức
cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và
phát triển giống nòi. Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc
thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc có số dân quá ít phải trở thành quốc
sách, một nhiệm vụ có tính thời sự của quốc gia.
Các dân tộc ở Việt Nam cư trú rất phân tán và xen kẽ nhau,
không có vùng lãnh thổ riêng cho một dân tộc.
Việt Nam vốn là
nơi chuyển cư của nhiều dân tộc ở
khu vực Đông Nam Á, đó là các dòng chuyển cư từ Nam lên, Tây sang và chủ yếu từ
Bắc xuống. Qua các đợt chuyển cư đã có nhiều dân tộc định cư lâu dài ở Việt
Nam. Các dòng chuyển cư đến đầu tiên định cư ở các thung lũng, chân núi; các
đợt đến sau định cư ở rẻo giữa và các đợt sau nữa lấy rẻo cao làm nơi sinh
sống. Tính chất chuyển cư như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc trở
nên phân tán, xen kẽ. Đây là một đặc điểm nổi bật về bức tranh phân bố dân cư
của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cũng chính tình hình cư trú phân tán, xen
kẽ đã làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng. Vì vậy,
không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa
bàn.
Tính chất cư trú
của các dân tộc ở Việt Nam một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng
cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, phát triển tinh
thần đoàn kết, tương trợ; mặt khác, nếu không giải quyết tốt và kịp thời mối
quan hệ giữa các dân tộc, thì dễ xảy ra mâu thuẫn, xung đột lợi ích, tạo kẽ hở
để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị của
đất nước.
Các dân tộc
thiểu sổ ở Việt Nam phân bổ chủ yếu trên các địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, môi trường sinh thái
Về phương diện
kinh tế,
miền núi - địa bàn phân bố chủ yếu của
các dân tộc thiểu số là nơi chứa đựng hầu hết trữ lượng khoáng sản của đất nước
Từ nhiều thế kỷ qua, các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã sống dựa
vào các nguồn thực phẩm sẵn có trong tự nhiên. Những vùng đất phì nhiêu ở khu
vực này rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê,
cao su, chè... Những vùng đất rộng lớn của miền núi là tiềm năng để xây dựng
các trang trại, nông trại. Rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng trồng cây lấy gỗ
sẽ là nguồn tài sản quý báu của đất nước. Như vậy, miền núi Việt Nam chẳng
những có khả năng phát triển nông lâm nghiệp kết hợp, mà còn có khả năng phát
triển công nghiệp hiện đại, làm cơ sở để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Về phương diện chính trị, địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí
đặc biệt quan trọng, nhiều dân tộc sinh sống đọc biên giới, tiếp giáp với Trung
Quốc, Lào, Campuchia. Ở Việt Nam, một số tộc người như Mường, Chứt, Thổ, Bana,
Cơ ho... chủ yếu cư trú trên lãnh thổ Việt nam, các tộc người khác (Hmông, Dao,
Thái, Khơ me..) có một bộ phận sinh sống ở Việt Nam còn lại cư trú ở nước khác.
Trong đó, một số dân tộc còn là đối tượng nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế
mà hoạt động của họ có liên quan tới sự ổn định chính tri, xã hội ở Viêt Nam.
về phương diện quốc
phòng, miền núi luôn là phên dậu vững chắc của quốc gia. Địa thế xung yếu, hiểm
trở của miền núi và lòng yêu quê hương đất nước của nhân dân các dân tộc sinh
sống ở đây làm cho miền núi trở thành nơi tụ nghĩa của nghĩa quân (nghĩa quân
Lam Som), căn cứ địa cách mạng và kháng chiến (chiến khu Việt Bắc), nhiều khi là mồ chôn quân
xâm lược (ải Chi Lăng ở Lạng Sơn thời chống Minh, Điện Biên Phủ thời chống Pháp
hay Buôn Ma Thuột thời chống Mỹ.).
Từ sự phân tích tầm quan
trọng của địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số Việt Nam, có thể dễ dàng nhận
thấy vì sao Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và miền núi. Vì vậy, có thể
hiểu tại sao trong lịch sử dựng nước và giữ nước tư tưởng “Một tấc không đi, một ly không dời, quyết tâm bám giữ bản làng đã khắc sâu vào
tâm khảm các dân tộc Việt Nam.
Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát
triển kinh tế - xã hội không đồng đều.
Về phương diện xã hội, trình độ tổ
chức đời sống, quan hệ xã hội của các dân tộc
thiểu số rất khác nhau về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số
Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau. Một sổ ít các dân tộc còn duy trì
kinh tế chiếm đoạt, khai thác của cải sẵn cỏ trong tự nhiên. Tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã
chuyển sang kinh tể sản xuẩt, của cải vật chất nuôi sổng con người ngày được
làm ra nhiều hơn.
Xuất phát từ trình độ phát
triển về kinh tể - xă hội không đều nhau giữa các dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương thực hiện bình đẳng dân tộc, xem đó là một nguyên tăc cơ bản trong chỉnh
sách dân tộc. Muốn thực hiện bình đảng dân tộc thì phải từng
bước giảm, tiến
tới xoả bỏ khoảng cách giữa các dân tộc về phát triển kinh tế - xã hội. Đây là nội dung quan trọng trong đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam để cảc dàn tộc thiều sổ tiến kịp dân tộc đa
số. Trong quá trình xoá bỏ sự chênh lệch này, sẽ từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
các dân tộc. Hiện nay chủ trương của Đảng là tiến hành công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông; thôn, miền núi nhằm để tiến tới xoá bỏ sự chênh lệch nói trên
trong sự phát triển của các đàn tộc. Một khi quyền bình đẳng được thực hiện
không chi trên văn bản pháp lý mà còn trong thực tế cuộc sống thì sẽ là ca sở
để củng cố, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa các dân tộc, đồng thời tạo sự
đồng thuận và sức mạnh để chổng lại sự chống phá của các thế lực thù địch có
thể lợi dụng vấn đề dân tộc đề phá hoại thành quả cách mạng nước ta.
Các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống
đoàn kết gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc - quốc
gia thống nhất
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trài qua nhiều cuộc chinh
phục thiên nhiên khắc nghiệt và nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm.
Trong bối cảnh chịu sự chi phối mạnh mô của điều kiện tự nhiên và sự
tác động của sự kiện lịch sử, các dân tộc đã sớm có ý thức tự giác, chung sống
trong một quốc gia dân tộc. Mặc dù trình độ phát triển kinh tế - xã hội, văn
hóa, nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán có điểm khác nhau, thời điểm cư trú
ở Việt Nam cũng không hoàn toàn giống nhau, song các dân tộc thiểu số cũng như
dân tộc đa số đã đoàn kết, tương trợ cùng nhau đấu tranh cùng chinh phục thiên
nhiên, chống ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất. Đoàn kết dân tộc
là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, là một trong những nguyên nhân và
động lực quan trọng, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng trong nhiều giai
đoạn lịch sử. Nhờ có sức mạnh đoàn kết dân tộc, các dân tộc thiểu số cũng như
đa số đã liên kết, hợp sức để khai phá đất hoang, xây dựng các hệ thống thủy
lợi nhằm phát triển sản xuất; đánh thắng mọi kẻ thù xâm ỉược để giành lại độc
ỉập thống nhất cho Tổ quốc.
Ngày nay, dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, các dân tộc ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành
tựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trong quan hệ giữa các tộc người, đoàn
kết là xu hướng chủ đạo, là sức mạnh, là truyền thống, là điều kiện tồn tại của
mỗi tộc người, của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên thời gian
gần đây, do nhiều nguyên nhân, trên từng địa bàn, nhiều nhân tố tiềm ẩn tác
động không nhỏ vào truyền thống đoàn kết. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi chiến
lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam đòi hỏi các dân tộc thiểu số
cũng như đa số phải ra sức phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế,
giữ gìn và tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, nâng cao cảnh giác,
kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động
chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Mỗi dân tộc đều cỏ bản sắc văn hóa riêng góp phần làm nên sự phong phủ, đa dạng của nền
văn hóa Việt Nam thống nhất.
Việt Nam là một quốc gia
đa dân tộc. Mỗi dân tộc dù có số dân ít hay nhiều, trình độ phát triển kinh tế
- xã hội cao hay thấp cũng đều có những sác thái văn hóa độc đáo riêng góp phần
làm phong phú, đa dạng cho nền văn hóa
Về phương diện ngôn ngữ, các dân
tộc ở Việt Nam tuy thuộc nhiều nhóm ngôn
ngữ vàn hóa khác nhau. Trong đó tiếng Việt được dùng làm phương tiện giao tiếp
chung cho tất cả các dân tộc - ngôn ngữ phổ thông, là công cụ xây dựng ý thức
dân tộc thống nhất. Tuy nhiên, tiếng nói riêng (tiếng mẹ đẻ) của mỗi dân tộc
vẫn được duy trì trong nội bộ từng dân tộc, vẫn là công cụ xây dựng ý thức
riêng của từng tộc người. Cùng với tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ do điều kiện
sổng xen kẽ và nhu cầu giao tiếp, nhiều dân tộc đã sử dụng song hay đa ngữ
trong giao tiếp.
Trong hoạt động sản
xuất, mỗi vùng, mỗi dân tộc đều gắn với điều kiện tự nhiên và tập quán riêng.
Nhà cửa các dân tộc ở Việt Nam có nhiều loại, tiêu biểu là nhà sàn và nhà đất
Trang phục của mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng, thể hiện qua các
kiểu áo, quần, váy, cách trang trí hoa văn...
Tổ chức xã hội ở mỗi dân
tộc có những sắc thái riêng, là môi trường lưu giữ được nhiều tri thức văn hóa
dân gian, dân ca, dân vũ có giá trị nghệ thuật cao tạo nên những bản sắc văn
hóa riêng, phong phú, đa dạng. Song các dân tộc ở Việt Nam đều gắn bó trong quá
trình dựng nước và giữ nước, có ý thức về quốc gia chung, có sự đóng góp vào
việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét