Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2020

Đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa sống còn, quyết định sự thành bại của cách mạng

 

Diễn văn của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam – Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18-11-1930 – 18-11-2020)

Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài,

Thưa các vị đại biểu, khách quý, 

Trong không khí cả nước hân hoan, phấn khởi trước thành công của đại hội đảng bộ các cấp và đang tích cực chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV vừa kết thúc và thành công tốt đẹp, hôm nay, tại Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến và anh hùng, chúng ta long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam – Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18-11-1930 – 18-11-2020) – một sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của nhân dân cả nước, ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi xin gửi tới các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các vị lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, các gia đình và người có công với nước; các vị đại biểu, khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thưa các vị đại biểu, thưa đồng chí và đồng bào, 

Chúng ta đều đã biết, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu, làm nên sức mạnh vô địch của dân tộc ta, được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Ông cha ta đã từng tổng kết: “Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”; “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”; “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”… Đến thời đại Hồ Chí Minh, xây dựng ý chí và tinh thần đoàn kết được xác định là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác Hồ đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”. Không phải ngẫu nhiên mà ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chưa được bao lâu, ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất 18-11 hàng năm đã trở thành Ngày truyền thống vẻ vang của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Suốt 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam đã ra sức hoạt động, khơi dậy tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, góp sức đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc (1930-1945), do yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, tổ chức Mặt trận mang nhiều tên gọi khác nhau, như: Hội Phản đế đồng minh (11-1930), Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương (11-1936), Mặt trận Dân chủ Đông Dương (3-1938) và Việt Nam Độc lập Đồng Minh (5-1941), gọi tắt là Việt Minh. Mặt trận Việt Minh đã động viên, tổ chức mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết, vùng lên Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, giành độc lập dân tộc, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước Dân chủ Nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, nhằm đoàn kết các tầng lớp nhân dân yêu nước, lấy liên minh công nhân – nông dân – trí thức làm nền tảng, kết hợp tinh thần yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế vô sản, Việt Minh và Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) đã hợp nhất thành một mặt trận dân tộc thống nhất, lấy tên là Mặt trận Liên-Việt. Mặt trận Liên-Việt ra đời là cơ sở quần chúng rộng rãi để bảo vệ Đảng và Nhà nước ta, trở thành trụ cột quan trọng của Nhà nước Dân chủ Nhân dân, tập hợp được sức mạnh to lớn của toàn dân ta, đưa cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Sau Hiệp định Giơnevơ, ngày 10-9-1955, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông qua Cương lĩnh Mặt trận, ban hành chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Ở miền Bắc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ, trí thức yêu nước và tiến bộ, động viên mọi lực lượng của toàn dân tộc để xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam, đấu tranh thực hiện mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.

Ở miền Nam, ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, công bố chương trình 10 điểm nhằm đánh đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm và tay sai của đế quốc Mỹ, xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Ngày 20-1-1968, Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam được thành lập. Đây là tổ chức liên minh to lớn, đoàn kết rộng rãi hơn nữa các tầng lớp nhân dân miền Nam, thực hiện nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất họp từ ngày 31-1-1977 đến ngày 4-2-1977 đã quyết định thống nhất 3 tổ chức Mặt trận, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đại hội thông qua Chương trình hoạt động và Điều lệ nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân cả nước, cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thưa các vị đại biểu, đồng bào, đồng chí, 

Kể từ ngày thành lập đến nay, ở bất kỳ thời kỳ nào, tổ chức Mặt trận cũng thể hiện rất rõ và thực hiện rất tốt vai trò, vị trí của mình, luôn trung thành với tôn chỉ, mục đích tập hợp các tầng lớp nhân dân thành một khối đoàn kết thống nhất về ý chí và hành động, tinh thần và lực lượng, tạo thành sức mạnh to lớn của cả dân tộc để hoàn thành những mục tiêu cách mạng cao cả do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Trong công cuộc đổi mới, với nhiều hình thức tổ chức và vận động nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần quan trọng cùng với Đảng và Nhà nước thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giải quyết những khó khăn về đời sống, tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân phát triển kinh tế – xã hội; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; bảo đảm quốc phòng – an ninh; khơi dậy khát vọng phát triển, phát huy ý chí, sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức trong hệ thống chính trị tuyên truyền, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, tạo sự thống nhất và đồng thuận trong xã hội; tích cực tham gia góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp, các dự án luật, pháp lệnh và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; các văn kiện trình đại hội đảng các cấp; kiến nghị với Đảng và Nhà nước nhiều nội dung quan trọng, góp phần hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên đã chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, triển khai sâu rộng và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo và huy động các nguồn lực trong xã hội, tham gia thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều cố gắng, nỗ lực đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, đẩy mạnh thực hành dân chủ ở cơ sở, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo – Không để ai bị bỏ lại phía sau” do Đảng và Nhà nước phát động, hàng năm, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ trì phát động tháng cao điểm “Vì người nghèo”, khơi dậy những tấm lòng nhân ái, nhiều nghĩa cử cao đẹp, chung tay giúp đỡ người nghèo. Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên thường xuyên tổ chức chăm lo các gia đình chính sách, người có công, nhất là vào các dịp kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sĩ; tết cổ truyền của dân tộc… Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được triển khai với nhiều giải pháp mới nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp và nhân dân trong việc đẩy mạnh phát triển sản xuất trong nước.

Với phương châm “Chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”, hoạt động đối ngoại nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên ngày càng được tăng cường và đổi mới, có trọng tâm, mở rộng về địa bàn, lĩnh vực, đa dạng về đối tượng, góp phần hiện thực hóa chủ trương, đường lối, giữ vững độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Gần đây, khi đại dịch Covid-19 bùng phát, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, với tinh thần chống dịch như chống giặc, đã có những nỗ lực to lớn và đạt được kết quả bước đầu trong kiểm soát, đẩy lùi dịch bệnh. Để kết nối sự chung tay, huy động sự vào cuộc của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra Lời kêu gọi “Toàn dân ủng hộ phòng, chống dịch Covid-19”. Những tấm gương của đội ngũ y, bác sĩ, chiến sĩ quân đội, công an cùng với sự góp sức của mỗi người dân trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 chính là biểu hiện sinh động của truyền thống yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc với vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Những thành tích đạt được trong 90 năm qua đã khẳng định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xứng đáng là tổ chức đại diện của nhân dân, là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta. Với những đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam đã 2 lần vinh dự được trao tặng Huân chương Sao vàng – phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước. Tại Lễ kỷ niệm hôm nay, Mặt trận tiếp tục vinh dự được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

Nhân ngày truyền thống vẻ vang 90 năm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những cố gắng, nỗ lực, sự đóng góp, cống hiến to lớn và những bước phát triển của Mặt trận qua các chặng đường lịch sử, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận những khuyết điểm, hạn chế và điều quan trọng nhất là cần tìm ra các giải pháp hữu hiệu để khắc phục. Đó là: Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; có lúc, có nơi chưa phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân. Chủ trương, quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về quyền và lợi ích hợp pháp của các giai cấp, tầng lớp nhân dân chưa kịp thời được thể chế hóa, hoặc đã thể chế hóa nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc. Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp có lúc, có nơi chưa sâu sát; còn có biểu hiện hành chính hóa, chưa thiết thực, hiệu quả. Sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới; công tác giám sát, phản biện xã hội còn hạn chế.

Thưa các vị đại biểu, thưa đồng chí, đồng bào, 

Lịch sử ra đời, hoạt động, phát triển và trưởng thành của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 90 năm qua là lịch sử vẻ vang, gắn liền với lịch sử oai hùng của dân tộc và của Đảng ta, đã góp phần làm nên biết bao kỳ tích rất vinh quang trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Nhìn lại chặng đường đã qua của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, có thể khẳng định rằng: Chủ trương của Đảng thành lập và lãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất là hoàn toàn đúng đắn, là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa

Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Bằng sự sáng tạo độc đáo mang tính lịch sử ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo xã hội và đất nước, gắn bó máu thịt với nhân dân, trung thành tuyệt đối với dân tộc, được nhân dân tin yêu và coi Đảng ta là Đảng của chính mình. Cũng từ đó, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam đã trở thành cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, không một thế lực nào có thể chia cắt được.

Trong giờ phút trang trọng này, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – Người sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam và là biểu tượng cao đẹp của khối đại đoàn kết dân tộc. Chính Người là ngọn cờ quy tụ, tập hợp, thu hút mọi người dân Việt Nam yêu nước đứng chung hàng ngũ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo nên sức mạnh vô địch của khối đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược và chiến thắng đói nghèo, lạc hậu. Chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết về đại đoàn kết dân tộc mãi mãi soi đường và tỏa sáng trên các chặng đường phát triển của đất nước ta. Chúng ta cũng tưởng nhớ với lòng biết ơn sâu sắc các vị Chủ tịch Mặt trận, các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Lê Quang Đạo và các vị, các đồng chí lãnh đạo Mặt trận, các tổ chức thành viên của Mặt trận qua các thời kỳ đã nhận thức sâu sắc, nêu cao tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp vẻ vang của Mặt trận Dân tộc thống nhất và để lại những kinh nghiệm quý báu về tổ chức và hoạt động của Mặt trận.

Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn các anh hùng, liệt sĩ đã dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; biết ơn các Mẹ Việt Nam anh hùng, các thương binh, bệnh binh, gia đình người có công với nước, các cựu chiến binh, các vị lão thành cách mạng, cán bộ Mặt trận, các nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, các chức sắc tôn giáo, những người tiêu biểu trong các dân tộc và đồng bào yêu nước sống xa Tổ quốc đã cống hiến sức lực, trí tuệ, tài năng và cả máu xương cho đất nước, cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quý của chúng ta.

Nhân dịp này, chúng ta cũng chân thành cảm ơn các tổ chức Mặt trận, tổ chức đoàn kết, hữu nghị, tổ chức nhân dân của các nước, nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới đã đoàn kết, ủng hộ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Thưa các vị đại biểu, thưa đồng chí, đồng bào, 

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, kiên trì phấn đấu, bằng trí tuệ, tài năng và nghị lực của mình đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Sự đoàn kết, thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội được tăng cường; chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực vẫn đang có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, trong đó có cạnh tranh địa chính trị, cạnh tranh kinh tế diễn ra ngày càng gay gắt; các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống tiếp tục tác động đến môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của các nước, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đất nước ta phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là những nguy cơ gây mất ổn định, tác động đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tác động đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta; đó là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Trước tình hình đó, tôi xin đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt những nhiệm vụ chính sau đây:

Một là, tiếp tục xây dựng và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, bảo đảm sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên quyết, kiên trì bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh; nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, và chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc”. Đại đoàn kết dân tộc là chủ trương chiến lược, có ý nghĩa sống còn, quyết định sự thành bại của cách mạng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối chiến lược cách mạng của Đảng ta. Là biểu trưng sinh động của tư tưởng đoàn kết thống nhất toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc cần động viên, phát huy tốt hơn nữa vai trò đoàn kết các giai tầng, nêu cao vai trò của các cá nhân tiêu biểu trong các giới đồng bào, các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng và lợi ích thiết thực của mỗi tầng lớp nhân dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân phát huy khả năng sáng tạo, đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung. Mặt trận các cấp cần phát huy dân chủ, tinh thần thân ái, trao đổi, bàn bạc, bảo đảm sự bình đẳng, tôn trọng, thông cảm lẫn nhau; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần, giai cấp; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc để Mặt trận các cấp thực sự là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội, đóng góp trí tuệ, công sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn mới, Mặt trận cần thực hiện tốt hơn nữa vai trò nòng cốt trong việc chủ trì hiệp thương, phối hợp với các cấp chính quyền và các tổ chức thành viên, đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, triển khai sâu rộng và có hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước. Tiếp tục tổ chức tốt Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, phong trào thi đua “Đoàn kết sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế”, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả, lan tỏa, sát hợp với thực tế.

Hai là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần làm tốt hơn nữa vai trò giám sát và phản biện xã hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các quy định của Bộ Chính trị. Tăng cường giám sát để tạo sự đồng thuận, nhất trí cao, ổn định xã hội, phát triển toàn diện và bền vững đất nước. Mặt trận Tổ quốc phải tiếp tục làm tốt vai trò chủ trì hiệp thương, phối hợp giữa các tổ chức thành viên trong việc thực hiện giám sát và phản biện xã hội; phát huy tối đa trí tuệ của các nhà khoa học, những chuyên gia giàu kinh nghiệm, đóng góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách của Đảng và của cấp ủy, chính quyền các địa phương, nhất là những vấn đề quốc kế dân sinh, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của quần chúng nhân dân.

Phải làm tốt hơn vai trò tập hợp, lắng nghe ý kiến nhân dân để phản ánh với các cơ quan đảng và nhà nước ở Trung ương cũng như các địa phương. Chủ động phối hợp với chính quyền giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc ngay tại cơ sở, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Luôn đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; tin dân và tôn trọng dân; đồng thời, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng.

Để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tốt vai trò của mình, Nhà nước cần tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động của Mặt trận; phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng hơn nữa với Mặt trận. Làm được như vậy sẽ có lợi cho cả Nhà nước và Mặt trận trong việc phục vụ lợi ích của toàn dân. Mặt trận cần thực sự tham gia vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách, pháp luật chứ không chỉ làm nhiệm vụ động viên, kêu gọi, tổ chức các phong trào. Đó chính là cách làm cho Mặt trận mới hơn, ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn.

Ba là, Mặt trận cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng sâu sát với dân, hướng về cơ sở, thật sự thiết thực, hiệu quả như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt (năm 1951): “Hoạt động của Mặt trận nên nhắm vào điểm chính để tránh khỏi việc gì cũng làm, nhưng ít việc làm chu đáo”. Coi trọng việc nhân rộng các điển hình tốt, phê phán những việc làm chưa tốt, khắc phục bệnh hình thức. Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trước hết là đội ngũ cán bộ hoạt động chuyên trách ở các cấp. Đồng thời, tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp; tổng kết và hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước về phong cách dân vận: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”; “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, thực sự vì nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân; đồng thời phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; không mị dân. Đối với những người lầm đường, lạc lối thì phải kiên trì vận động, cảm hóa, giáo dục, thuyết phục. Đối với những kẻ cố tình mượn cớ, nhân danh nhân dân để chống đối, phá hoại thì phải kiên quyết trừng trị theo luật pháp của Nhà nước, kỷ luật của Đảng.

Cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, và phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”. Đảng ta đã xác định vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận, Đảng lãnh đạo Mặt trận thông qua việc phát huy vai trò thành viên của Mặt trận chứ không đứng ngoài, đứng trên để lãnh đạo Mặt trận. Phải phát huy thật tốt vai trò lãnh đạo của Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tiếp tục vận động, phát huy vai trò của nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh, tạo sự đồng thuận xã hội; chủ động tham gia sâu hơn, toàn diện hơn, hiệu quả hơn và động viên nhân dân tích cực tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Mặt trận phải là hạt nhân trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động, cơ hội chính trị nhằm phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường tuyên truyền sâu rộng để các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Thưa các vị đại biểu, đồng bào, đồng chí, 

Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất đúng vào lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến rất gần tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng – một sự kiện chính trị trọng đại, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Chúng ta tin tưởng rằng, Mặt trận Tổ quốc các cấp với quyết tâm mới, khí thế mới, sẽ tiếp tục có những hoạt động năng động, sáng tạo, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa, thiết thực, hiệu quả hơn nữa, góp phần tập hợp ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc; đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh.

Chúc khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, vững chắc!

Chúc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không ngừng phát triển!

Chúc các vị khách quý và toàn thể đồng bào, đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành công!

Vinh quang đời đời thuộc về dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng!

Xin trân trọng cảm ơn.

 

 

THỦ ĐOẠN XẢO QUYỆT CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊNH, PHẢN ĐỘNG NHẰM CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI ĐẢNG

 

    Thời gian gần đây, nhất là khi chúng ta đang chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch, phản động càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn diện, trong đó, tập trung vào các lĩnh vực tư tưởng chính trị, kinh tế, pháp luật, quốc phòng, an ninh, nguyên tắc tổ chức, cán bộ, công tác nhân sự đại hội...

          Chúng chuẩn bị rất kỹ lưỡng về nội dung, hình thức chống phá; tiến hành bài bản, hệ thống với việc huy động cùng lúc nhiều phương tiện, lực lượng tham gia mà đứng đầu là các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong ở ngoài như: Việt Tân, Đảng Dân chủ nhân dân, Đảng Vì dân, … Bên cạnh đó, chúng phát huy tối đa các trung tâm truyền thông nước ngoài như Đài BBC tiếng Việt, VOA tiếng Việt, RFA tiếng Việt, các tổ chức quốc tế, NGO nước ngoài như: Ân xá quốc tế - AI, Phóng viên không biên giới - RSF… để thực hiện việc phát tán hàng ngàn bài viết, tài liệu, video, phim, ảnh có nội dung sai trái nhằm tuyên truyền chống phá Đảng và chế độ.

Những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng thời điểm Đảng ta lấy ý kiến góp ý toàn dân vào dự thảo Báo cáo Chính trị, đưa ra các kiến nghị bằng nhiều hình thức, như “trao đổi”, “gửi thư”, “góp ý cho Đại hội XIII” … rằng, Đại hội XIII là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng “xã hội dân sự”. Chúng ra sức xuyên tạc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, công tác cán bộ, nhân sự Đại hội XIII, … suy diễn xuyên tạc, vẽ ra tình cảnh “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, “Tổ quốc lâm nguy”, “nội bộ lục đục, mất đoàn kết”… Thực tế chỉ là ngụy tạo để đòi hỏi phải “cải cách”, “đổi mới” chính trị từ gốc là từ bỏ nền tảng tư tưởng, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng. Chúng lờ đi những thành tựu chúng ta đạt được trên các lĩnh vực đời sống xã hội như, kinh tế vĩ mô được ổn định, nhịp độ tăng trưởng đạt mức cao, đời sống được nâng lên; các kết quả cao trong công tác phòng chống tốt dịch COVID-19.... Rất nguy hiểm là chúng lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, thật giả lẫn lộn, bóp méo, xuyên tạc sự thật vào những sự kiện dư luận quan tâm bằng những kỹ xảo tinh vi của công nghệ, tạo dựng chuyện bằng cách lắp ghép, trích dẫn, cắt xén các lời phát ngôn, bài viết, hình ảnh… Mục đích của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là gây nhiễu loạn thông tin, làm cho người đọc, người xem thiếu kinh nghiệm dễ lầm tưởng, khó phân biệt, nhận diện thật - giả, đúng - sai. Từ đó, đánh giá không đúng bản chất của vấn đề, sự kiện, nhân vật. Những luồng thông tin xấu độc làm ảnh hưởng đến niềm tin của người dân về sự lãnh đạo Đảng và điều hành của Nhà nước, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân. Nguy hiểm hơn, nhiều thông tin kích động, tạo dựng mâu thuẫn, dẫn đến nhận thức sai lầm trong dư luận Nhân dân dẫn đến những hành động vi phạm pháp luật.

          Có thể thấy, những luận điệu trên tuy không mới nhưng được tung ra trong thời điểm trước Đại hội nên hết sức độc hại, gieo rắc hoang mang, nghi ngờ, phân tâm trong nội bộ, trong nhân dân. Nếu chúng ta lơ là, mất cảnh giác, hoặc non kém về nhận thức chính trị có thể lầm tưởng và cho đó là sự góp ý trách nhiệm, tâm huyết, thậm chí bị “dẫn dắt” và tin theo.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”

Trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, bên cạnh những cơ hội lớn do toàn cầu hóa kinh tế đem lại, chúng ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn và thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp; đặc biệt vấn đề “tự diễn biến” đang nổi lên như một nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội, mất định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, không thể xem thường. Nhận rõ tính chất nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”.

          Nếu chúng ta không chủ động phòng ngừa từ trước, ngăn chặn từ xa, lơ là chủ quan, mất cảnh giác với thủ đoạn “tự diễn biến” của các thế lực thù địch, thì tất yếu sẽ dẫn đến những hệ lụy tiêu cực về mặt tư tưởng, tâm lý trong xã hội và hậu quả không lường hết được. Trước tình hình đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nhận rõ thực chất của những biểu hiện “tự diễn biến”, để từ đó đề ra được các biện pháp hữu hiệu làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. “Tự diễn biến” bao gồm cả nguyên nhân bên trong và bên ngoài, nguyên nhân khách quan và chủ quan, song quá trình và mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến đâu, vẫn do các nguyên nhân bên trong, nguyên nhân chủ quan; tức là, do chính chúng ta quyết định. Vì thế, nhận diện đúng các nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến” có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết, nhằm phát hiện kịp thời và phá vỡ các mầm mống, khả năng “tự diễn biến” trên lĩnh vực tư tưởng chính trị và các lĩnh vực của đời sống xã hội.

          Bởi, khi mỗi cán bộ, đảng viên luôn nhận thức rõ mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng vững niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi công cuộc đổi mới, thì dù các thế lực thù địch có tìm mọi mưu ma chước quỷ để thúc đẩy “tự diễn diễn”, “tự chuyển hóa” đến đâu, chúng cũng không thể đạt được ý đồ thâm hiểm làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã lựa chọn.


Nguy cơ khủng bố “sói đơn độc” đối với Việt Nam

 

Không gian mạng là hệ thống của những mối quan hệ trên nền tảng internet; Việt Nam là nước có số người dùng Internet trên không gian mạng thuộc tốp đầu trên thế giới. Năm 2019, dân số Việt Nam đạt mốc xấp xỉ 97 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 36%.Cùng trong năm, có 64 triệu người sử dụng Internet, tăng đến 28% so với năm 2017; hơn 55 triệu người sử dụng các mạng xã hội (chiếm 57% dân số) và 436 mạng xã hội đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất thế giới. Cùng với những giá trị tích cực không gian mạng cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó, không gian mạng “được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường, nhất là những đối tượng sử dụng không đúng mục đích”.

Trong những năm qua kể từ khi các hình thái mạng xã hội trên không gian mạng xâm nhập và phát triển vào Việt Nam các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước càng gia tăng hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thông qua các trung tâm phá hoại tư tưởng, các tổ chức khủng bố lưu vong (như “Việt Tân”, “Quỹ người Thượng”, “Khối 8406”, Ủy ban Cứu người vượt biển”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều đại Việt”) và số đối tượng phản động, chống đối, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị trong nước đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau, đặc biệt là lợi dụng hình thái mạng xã hội trên không gian mạng để thực hiện các hoạt động truyền bá tư tưởng cực đoan nhằm kích động người dân thực hiện các hành vi như tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự; sử dụng bom xăng tấn công lực lượng chức năng; thậm chí tuyển thành viên để tiến hành các hoạt động khủng bố ở trong nước mà đối tượng đó không cần phải xuất cảnh ra nước ngoài.

Điển hình từ cuối năm 2016, các đối tượng Đào Minh Quân, Phạm Lisa và một số đối tượng phản động trong và ngoài nước là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, thông qua mạng xã hội đã lôi kéo nhiều đối tượng không nghề nghiệp, bất mãn chế độ nhưng có chung một điểm là hám lợi thành lập các “nhóm hành động” để tiến hành khủng bố, phá hoại tại Việt Nam.

Trong đó có vụ đặt bom xăng ở sân bay Tân Sơn Nhất năm 2016, vụ ném bom xăng bãi giữ xe vi phạm Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai năm 2017 và gần đây nhất là vụ ném bom tại trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình năm.

Các vụ khủng bố trên dù chưa gây ra thiệt hại lớn về người nhưng đã đặt ra những thách thức trong công tác đảm bảo an ninh của Việt Nam. Qua quá trình điều tra, xét xử, các đối tượng đều thành khẩn khai nhận trong quá trình sử dụng mạng xã hội đã tiếp xúc liên lạc với những đối tượng khủng bố lưu vong ở nước ngoài và nhận hướng dẫn, chỉ đạo và nhận tiền từ các đối tượng bên ngoài để thực hiện các hành vi khủng bố.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy, hoạt động truyền bá tư tưởng khủng bố trong thời gian qua đã được các tổ chức khủng bố lưu vong người Việt ở nước ngoài đẩy mạnh trên không gian mạng. Vì vậy, để phòng ngừa nguy cơ truyền bá tư tưởng khủng bố trên không gian mạng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục qua các trang tin chính thống và các phương tiện thông tin đại chúng đểngười dân, nhất là những người thường xuyên xử dụng mạng nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nguyên nhân, sự nguy hiểm cùng tác hại, ảnh hưởng to lớn do hoạt động khủng bố gây ra không chỉ đối với sống của mình và người thân mà đối với an ninh, an toàn xã hội.

Đồng thời công khai các địa chỉ trang tin trên mạng xã hội của các tổ chức khủng bố lưu vong và các đối tượng khủng bố người Việt ở nước ngoài để người dân nhìn nhận rõ nét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chúng để cảnh giác, ngăn chặn.

Những bài học kinh nghiệm rút ra từ chống dịch COVID-19 lần trước

 


Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam đã phát huy cao độ long nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm, sự quả cảm để rồi chúng ta đã chiến thắng được đại dịch qu hai lần bùng phát, đã được nhân dân hoan hỷ, thế giới ngợi khen.

Tuy nhiên hiện nay dịch đã bùng phát trở lại. Dịch COVID-19 là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm, hiện nay đã nhiễm gần 70 triệu người, trong đó gần hai tỷ người chết.

Đặc biệt sẽ là tác nhân và sự bùng phát rất mạnh ở cộng đồng nếu như không tuân thủ nghiêm ngặt những giải pháp phòng, chống dịch.

Đối với Việt nam thời gian qua, đã thực hiện rất tốt các giải pháp phòng, chống dịch, trong đó đã thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tưởng. Bên cạnh sự vào cuộc nhanh chóng, quyết liệt, triệt để của chính phủ, các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị, sự giúp đỡ của các nước trên thế giới, còn phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, tính thông minh, nhân nghĩa, lòng vị tha vượt khó và ý chí quyết tâm cao của mỗi người dân Việt Nam. Đặc biệt đã phát huy cao độ tính xung kích của lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị- xã hội, các đoàn thể quần chúng, cán bộ, đảng viên, người có uy tín trong cộng đồng…

Bên cạnh những ưu điểm trên, trong thời gian qua trong xã hội, mặc dù dịch vẫn đang hoành hành trên thế giới với mức độ rất nguy hiểm nhưng một số người vẫn có tâm lý chủ quan, lơ là mất cảnh giác. Đặc biệt là một số người với ý thức trách nhiệm kém rất coi thường những quy định trong phòng, chống dịch như đeo khẩu trang, thực hiện giãn cách xã hội…Những vấn đề trên cần phải duy trì thật nghiêm minh trong giai đoạn tới, có như vậy chúng ta mới ngăn chặn được dịch.

 

Việt Nam vẫn là nước có dân số đông

 


Tính đến 2019, dân số Việt Nam là trên 96,2 triệu người, đứng thứ 15 thế giới, thứ 8 châu Á, thứ 3 Đông Nam Á (sau Inđônêxia và Philíppin). Dân số Việt Nam được đánh giá là nước có dân số đông. Năm 2019, mật độ dân số của Việt Nam là 293 người/1km2 (tổng diện tích nước ta: 310.060km2). Mật độ dân số phù hợp cho con người sinh sống là 30-40 người/1km2. Như vậy dân số nước ta đông gấp 8- 9 lần mức bình thường.

Nước có dân số đông sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế- xã hội, đến bảo đảm anh sinh xã hội như vấn đề mức sống, giáo dục, môi trường, văn hóa… Những vấn đề trên nếu chúng ta không có giải pháp hợp lý thì trong xã hội sẽ có nhiều bất ổn ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước. Do vậy chúng ta phải có những nhóm giải pháp chiến lược, căn cơ để phát huy lợi thế cơ cấu dân số vàng, già hóa dân số… trong tương lai.

Những vấn đề cơ bản nâng cao chất lượng giải quyết quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


 Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò, vị trí của vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và quan hệ dân tộc - tộc người trong chiến lược phát triển của cách mạng Việt Nam, nhất là trong giai đoạn phát triển mới của đất nước - thời kỳ đẩy manh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Mọi chủ trương, chính sách, chỉ đạo thực tiễn đều nhằm nâng cao ý thức quốc gia dân tộc, bảo đảm sự phát triển hài hòa của từng tộc người với sự phát triển chung của đất nước. Đây cũng là quan điểm xác định quyền lợi và nghĩa vụ của từng tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng, đồng thời chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế ỉực thù địch để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc với ý đồ lôi kéo, cổ xuý tư tưởng ly khai, chia tách dân tộc.

 Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các tộc người cùng xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ tộc người ở nước ta hiện nay. Nguyên tắc này phải được quán triệt sâu sắc trong toàn bộ hệ thống chính trị, sâu rộng trong toàn dân và phải thực thi đầy đủ trong tất cả các lĩnh vực; không phân biệt đối xử, tôn trọng những đặc trưng bản sắc của từng tộc người, phát huy khả năng, tiềm năng nội lực tộc người trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chủ động xử lý đúng đắn các mối quan hệ tộc người, ngăn cấm và xử lý hiệu quả những hoạt động nhằm lợi dụng hoặc khơi lại quá khứ lịch sử nhạy cảm, tư tưởng dân tộc lớn, ch nghĩa dân tộc hẹp hòi dưới bất kỳ hình thức nào nhằm làm thương tổn khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lợi ích, chủ quyền quốc gia.

 Hoàn thiện chính sách dân tộc. Chính sách phát triển các tộc người thiểu số Việt Nam cần được hoạch định trên cơ sở nghiên cứu, có sự hiểu biết đầy đủ về những đặc điểm tự nhiên, kinh tể - xã hội, văn hoá truyền thống và hiện trạng phát triển mọi mặt đời sống của các tộc người. Thực tế cho thấy, các tộc người thiểu số nước ta có xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, nặng về trồng trọt, độc canh cây lúa, tự cung tự cấp, phương thức và tập quán sản xuất còn rất lạc hậu. Cư dân các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở những địa bàn khó khăn, có nhiều khác biệt về ngôn ngữ và tập quán văn hóa, thường bị thua thiệt về cơ hội phát triển... Do vậy, chủ trương, chính sách và mô hình phát triển cần phải phù hợp với đặc điểm vùng, tộc người và nhu cầu thiết thực của người dân, tránh nóng vội, áp đặt, duy ý chí. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới cùng các tộc người thiểu số cần phải được hoạch định trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia nói chung, phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân nói riêng.

Chính sách phát triển đối với các tộc người thiểu số cũng cần phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của bản thân các tộc người và coi họ là chủ thể trọng tâm của quá trình phát triển; tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá tộc người; huy động được các nguồn lực từ cộng đồng nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu phát triển xã hội; tạo điều kiện, cơ hội cho các tộc người thiểu số nâng cao năng lực, trao quyền lựa chọn và chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển cũng như được hưởng lợi từ các chính sách, chương trình đó.

Cần nhận thức rằng, giải quyết vn đề tộc người, quan hệ tộc người ở nước ta là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển tổng thể kinh tế quốc gia với chính sách trọng tâm là đẩy nhanh phát triển toàn diện, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quan điểm phát triển bền vững phải là quan điểm hạt nhân và là thước đo của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Sự phát triển phải dựa trên cơ sở: (1) Tôn trọng và quan tâm sâu sát lợi ích, chất lượng đời sống các tộc người; (2) Bảo vệ tính đa dạng bản sắc văn hoá các dân tộc; (3) Tạo được mối quan hệ đồng thuận cho phát triển và phát triển bền vững; (4) Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên và các rủi ro khác; (5) Nâng cao vai trò của cộng đồng các dân tộc thiểu số và nội lực tộc người trong phát triển. Đồng thời quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ tộc người ở nước ta cần phải đặt trong mối tương tác giữa chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, môi trường sinh thái và an ninh, quốc phòng. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, việc giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo, hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở nước ta cần phải tính đến những tộc người có các mối quan hệ đồng tộc, thân tộc ở nước ngoài, nhất là ở vùng biên giới thuộc các nước láng giềng.

 Một trong những hạn chế của công tác dân tộc ở Việt Nam chậm được khắc phục là do công tác tổ chức chỉ đạo thực tiễn chưa hiệu quả. Mặc dù ở các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã có các cơ quan chuyên trách để giải quyết, song hiệu quả hoạt động còn chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Trong quá trình tổ chức thực hiện, sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa đồng bộ, thiếu thống nhất. Ngoài những vấn đề trên, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế hiệu quả của chính sách. Vì vậy, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả tổ chức thực tiễn công tác dân tộc, tộc người là đòi hỏi cần được quan tâm giải quyết.

- Trong khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, đoàn kết các tộc người trong nước, cần chủ động tranh thủ sự ủng hộ và đóng góp ngày càng nhiều của kiều bào ta ở nước ngoài, đồng thời đấu tranh có hiệu quả .với những mưu đồ lợi dụng vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc vào thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế thành công ở Việt Nam

 


Giai đoạn 1921-1945, dân số Việt Nam tăng khoảng 9,5 triệu người. Đặc biệt giai đoạn 1955-1995 dân số tăng khoảng 49 triệu người. Nếu tính từ năm 1921 đến năm 1995, trong khoảng 74 năm, dân số Việt nam tăng khoảng 4,5 lần với số lượng khoảng 58,5 triệu người, cũng trong thời gian này dân số thế giới tăng khoảng 2,9 lần. Nếu chỉ tính từ năm 1975 đến năm 1990, dân số Việt Nam tăng khoảng 18,6 triệu người, trong khi đó ở Châu Âu chỉ tăng thêm 20 triệu người (riêng Pháp tăng 1,8 triệu, Nhật Bản tăng 12 triệu. Đây là thời kỳ diễn ra sự “bùng nổ dân số” dữ dội ở Việt Nam. Từ năm 1993, tỷ lệ gia tăng dân số giảm xuống, là kết quả thành công của chính sách dân số mang tính giảm sinh trong nhiều năm (Sau hơn 25 năm thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, BCHTW khóa 7). Đến năm 2019, tổng tỷ xuất sinh- TFR (số con sinh ra của một người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) là 2,09 con/ người phụ nữ, trong đó thành thị là 1,86 con/PN và nông thôn là 2,21 con/PN. Đây là chỉ số thấp hơn mức sinh thay thế được tính bằng 2,1 con/người PN. Chính sách giảm sinh từ năm 1993 được thực hiện thành công đã đưa nước ta bước vào thời kỳ dân số vàng.

Với quy mô dân số hiện nay, chúng ta đủ điều kiện bước vào thời kỳ dân số vàng. Đây là lực lượng nếu như chúng ta phát huy hiệu quả triệt để, chúng ta sẽ thu nhiều nguồn lợi cho đất nước.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp trong chống dịch COVID-19 hiện nay

 


Dịch COVID-19 là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm, hiện nay đã nhiễm gần 70 triệu người, trong đó gần hai tỷ người chết. Đặc biệt sẽ là tác nhân và sự bùng phát rất mạnh ở cộng đồng nếu như không tuân thủ nghiêm ngặt những giải pháp phòng, chống dịch. Đối với Việt nam thời gian qua, đã thực hiện rất tốt các giải pháp phòng, chống dịch, trong đó đã thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tưởng. Bên cạnh sự vào cuộc nhanh chóng, quyết liệt, triệt để của chính phủ, các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị, sự giúp đỡ của các nước trên thế giới, còn phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết, tương than, tương ái, tính thông minh, nhân nghĩa, lòng vị tha vượt khó và ý chí quyết tâm cao của mỗi người dân Việt Nam. Đặc biệt đã phát huy cao độ tính xung kích của lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị- xã hội, các đoàn thể quần chúng, cán bộ, đảng viên, người có uy tín trong cộng đồng…Những yếu tố trên là nhân tố và cũng là bài học lớn trong chống dịch COVID-19 nói riêng và trong sử trí các tình huống bất thường trong xã hội hiện đại nói chung.

Hiện nay dịch lại bùng phát trở lại tại Thành phố Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cả hệ thống chính trị, mỗi người dân Việt nam hãy phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phấn đấu thắng lợi mọi nhiệm vụ trong đó ngăn chặn được ngay dịch COVID-19 lần này.

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN SUY NGẪM KHI DÂN SỐ LÀ ĐỘNG LỰC CỦA PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Khi nghiên cứu dân số gắn với phát triển, trước hết, chúng ta tìm hiểu phát triển là gì. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn của mọi sự vật hiện tượng, của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Tuy nhiên, sự vận động theo xu hướng ngày càng cao hơn, tiến bộ hơn của sự vật hiện tượng phải là sự phát triển bền vững. Theo đó phát triển bền vững được hiểu: Là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. (Khái niệm do Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển, Ủy ban WCED, 1987 xác định).Theo đó, phát triển bền vững là sự phát triển có chương trình, kế hoạch, được tính toán kỹ lưỡng, mà trong đó mặt này phát triển không làm ảnh hưởng đến mặt khác.

Về dân số: Dân số là tập hợp người sống được đặc trưng bởi quy mô, cơ cấu, chất lượng, sự biến động dân cư, mối quan hệ về kinh tế - xã hội và phân công lao động xã hội trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Theo đó Quy mô dân số: Là số người sống trên một vùng lãnh thổ tại thời điểm nhất định. Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân số thường xuyên. Cơ cấu dân số: Là tổng số dân được phân chia theo giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân. Phân bố dân số: Là sự phân chia tổng số dân theo địa bàn hành chính, khu vực địa lý, khu vực kinh tế.

Khi dân số là động lực của phát triển: Đó là những vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân số…được thực hiện hợp lý, chất lượng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển. Khi dân số thực sự thúc đẩy xã hội phát triển thì khi đó dân số là động lực của phát triển.

Ví dụ: Cơ cấu theo lứa tuổi từ 15 đến 64 tuổi (lực lượng lao động), nếu lực lượng này được đào tạo cơ bản, có nghề nghiệp phù hợp thì lực lượng này thực sự là động lực của phát triển xã hội.

 

Một số vấn đề đặt ra trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


Các mối quan hệ dân tộc ở nước ta trong thời gian qua đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng và khối đoàn kết toàn dân tộc.  

Những vấn đề không mới nhưng trong điều kiện mới lại nảy sinh những phức tạp mới:

Chẳng hạn, cũng là vấn đề đất đai vùng dân tộc, nhưng trong bi cảnh mới không phải là tranh chấp địa gii mà là vn đề thị trường giao dịch bất động sản và quyền sở hữu của các chủ thể, nhất là vấn đề mua bán, chuyn nhượng, hợp thức hóa đất công thành đất tư, lấn chiểm, bao chiếm đất đai trái phép;

Vấn đề cố kết và phân ly trong nội bộ một số dân tộc do tác động của việc chuyển đổi từ tín ngưỡng truyền thống sang tôn giáo khác hoặc một số nhóm tộc người đòi chia tách thành tên tộc người riêng từ thành phần tộc người đã được xác định; Một số ít cá nhân đặt quan hệ đồng tộc, thân tộc lên trên ý thức về chủ quyền lãnh thổ quốc gia ở vùng biên cương; Quan hệ lao động và việc làm, nhất là thuê mướn nhân công trong nội bộ tộc người hay giữa các tộc người; quan hệ trao đổi, buôn bán hàng hóa; quan hệ khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất rừng và vấn đề nguồn nước (sông ngòi) không chỉ trong vùng mà còn trở thành vấn đề xuyên/liên biên giới hiện nay; hôn nhân hỗn hợp tộc người trong nước, liên biên giới và xuyên quốc gia; xây dựng các trung tâm khoa học, tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị của các tộc người mang tính xuyên/liên quốc gia.. đang là những vấn đề mới và nhạy cảm.

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các cộng đồng cùng và khác tộc sẽ ngày càng chịu ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế, quá trình hội nhập quốc tế. Quan hệ tộc người liên vùng, liên quốc gia giữa các cộng đồng tộc người ở các tỉnh biên giới phía Bắc với các đồng tộc ở các tỉnh Tây Nguyên cũng như ở các quốc gia khác sẽ ngày càng mở rộng và tăng cường trên nhiều lĩnh vực khác nhau so với trước đây; một số dân tộc như Hmông, Dao, Hoa, Thái, Khơ Me và nhiều tộc người khác hiện có quan hệ đồng tộc, thân tộc qua biên giới sẽ tiếp tục củng cố và phát triển hơn nữa với tính chất, hình thức mới phức tạp hơn,

Với những vấn đề mới và xu hướng quan hệ đa chiều như thế, chắc chắn quan hệ dân tộc tộc ở nước ta nói chung sẽ chịu sự ảnh hưởng từ nhiều phía, của những yếu tố văn hóa - xã hội, tâm lý, ý thức tự giác bao gồm cả tích cực và tiêu cực. Trong bối cảnh đó, quan hệ dân tộc ở Việt Nam sẽ có những biến đổi. Đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với việc củng cố, xây dựng và quản lý các mối quan hệ dân tộc trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục sự nghiệp đổi mới đất nước, quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa đang diễn ra mạnh mẽ.

 

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 22/12

 22/12 không chỉ là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà đã trở thành Ngày hội Quốc phòng toàn dân, một ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với toàn thể nhân dân Việt Nam.

Tên gọi “Quân đội nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

Tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: "Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...".

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách Kế hoạch-Tình báo, đồng chí Vân Tiên (Lộc Văn Lùng) quản lý. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao-Bắc-Lạng, Cứu quốc quân,... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.

Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.

Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17h ngày 25/12/1944) và sáng hôm sau (7h ngày 26/12/1944) đột nhập đồn Nà Ngần, tiêu diệt gọn 2 đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Hai trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Từ ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân luôn phát triển và trưởng thành. Ngày 22/12/1944 được xác định là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội "của dân, do dân, vì dân"; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân.

Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tổ chức các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, trong đó chúng tập trung quyết liệt vào chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi và vô cùng nguy hiểm. Việc chỉ rõ những thủ đoạn chống phá Đảng của các thế lực thù địch hiện nay là nhiệm vụ thường xuyên nhưng cấp thiết nhằm nhận diện, nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn  của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và tổ chức của Đảng, nhất là trước thềm Đại hội XIII.

Hiện nay, bọn phản động, thù địch chống phá Đảng ngày càng có hệ thống, tổ chức chặt chẽ, thủ đoạn rất tinh vi, chống phá toàn diện trên nhiều phạm vi, lĩnh vực, không chỉ là tư tưởng lý luận mà còn bao hàm cả các vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Điều này thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Các thế lực thù địch hiểu rất rõ giá trị, vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của Đảng và cách mạng Việt Nam của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vậy, để chống phá Đảng thì vấn đề hàng đầu mà chúng tập trung là phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với các luận điệu cho rằng: sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là minh chứng cho Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện đã lỗi thời, không còn phù hợp; việc Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm... Không chỉ thế, chúng còn tuyệt đối hóa và chia tách, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin; xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh nhằm hạ bệ uy tín và phủ nhận tư tưởng của Người. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng khẳng định rằng: “Chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của sự phát triển của xã hội loài người không có gì có thể thay thế, chủ nghĩa tư bản đang tự điều chỉnh và hoàn thiện chứng minh giá trị của họ đối với sự phát triển xã hội”, “nếu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kiên định với Mác thì đừng trông chờ gì vào đường lối Đại hội XIII”(!)...

Thứ hai, chúng xuyên tạc, phủ nhận cương lĩnh, đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Đây là thủ đoạn cũ rích, nhưng chúng luôn coi là một trọng điểm chống phá với những chiêu trò hết sức tinh vi, thâm độc. Chúng xuyên tạc, phủ nhận đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng. Chúng cố tình lờ đi vấn đề mang tính khách quan trong quy luật phát triển xã hội là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người chỉ thực sự triệt để khi có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, điều này đồng nghĩa với mục tiêu độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Đặc biệt, sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, chúng “lý sự” rằng: “Mọi câu hỏi của xã hội đều được tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản”(!); Đảng Cộng sản Việt Nam “bảo thủ” với con đường đi lên CNXH là trái quy luật, hoặc “đã phát triển kinh tế thị trường thì đâu còn là CNXH”(!); Việt Nam hiện nay là “đỏ vỏ, xanh lòng”(!)... 

Đối với quân đội, chúng cho rằng “quân đội chỉ trung thành và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, “quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị”(!)... Bên cạnh đó, chúng còn ra sức tuyên truyền cho luận điệu “có nhiều đảng cạnh tranh mới là dân chủ”, logic của chúng là phải xóa bỏ sự “độc tài, toàn trị” của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước ta. Thực chất là, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo và cầm quyền, thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng đối lập; phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, hướng lái Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đó là hai vấn đề căn cốt để chúng tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Thứ ba, chống phá công tác cán bộ của Đảng. 

Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là “thanh trừng nội bộ”, là “chuẩn bị ghế nhân sự” cho đại hội Đảng... Không những thế, chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... hòng hạ bệ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng.

Thứ tư, chúng phủ nhận thành tựu phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Các thế lực thù địch trắng trợn phủ nhận sạch trơn những thành tựu to lớn mà Đảng và quân, dân ta đã đạt được trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu qua gần 35 năm đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (dù thực tế những thành tựu của nước ta đã được nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao)... Mục đích của chúng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.

Những hoạt động chống phá trên đều nhằm tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với những người thiếu bản lĩnh, nhận thức mơ hồ và những kẻ bất mãn, công thần vì cho rằng mình không được trọng dụng, đãi ngộ... từ đó gây hoài nghi, suy giảm niềm tin vào Đảng, chế độ XHCN, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. (Còn nữa)

 

 

KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC BÙNG NỔ (19/12/1946) -

BƯỚC CHUYỂN LỚN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

 

Cuối năm 1946, sau khi có thêm viện binh, thực dân Pháp liên tiếp có những hành động khiêu khích, công khai mưu đồ xâm lược, thiết lập lại nền cai trị thuộc địa đối với nước ta. Tháng 11/1946, chúng ngang nhiên đưa lực lượng chiếm đóng Hải Phòng, Lạng Sơn. Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946, quân Pháp liên tục dùng đại bác, súng cối bắn phá vào nhiều khu phố tàn sát dân thường, chiếm một số trụ sở của Chính phủ cách mạng. Đặc biệt, ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp liên tiếp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng.

Trước âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được. Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị tại Vạn Phúc (Hà Đông), ra quyết định lịch sử: phát động toàn quốc kháng chiến. Ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi đồng bào cả nước kháng chiến, khẳng định rõ:

“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Chấp hành mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, quân dân ta ở các tỉnh bắc vĩ tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng đồng loạt nổ súng. Chiến sự diễn ra rất quyết liệt, đặc biệt là trong các thành phố lớn. Tại Thủ đô Hà Nội, khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy, cả thành phố tắt điện. Đó là hiệu lệnh chiến đấu toàn thành, mở đầu kháng chiến toàn quốc. Dù quân ta trang bị vũ khí thô sơ chống lại kẻ địch tinh nhuệ trang bị vũ khí hiện đại, nhưng với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, chiến sĩ ta có sự hỗ trợ tích cực của nhân dân vẫn ngày đêm kiên cường bám trụ, giành giật với địch từng căn nhà, từng góc phố. Nhiều trận đánh diễn ra quyết liệt tại Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân, nhà bưu điện... diệt nhiều địch, gây hoang mang cho kẻ thù.

Cùng với Hà Nội, quân dân các địa phương khắp Bắc, Trung, Nam anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Cả dân tộc chung sức đồng lòng đánh giặc cứu nước với ý chí sục sôi, niềm tin tất thắng. Đến tháng 2/1947, khi địch tăng viện phá vòng vây, lực lượng ta được lệnh rút về hậu phương, cuộc chiến đấu trong các đô thị tạm thời kết thúc để chuyển sang giai đoạn chiến đấu mới.

Trải qua gần hai tháng liên tục chiến đấu, quân dân ta giành thắng lợi quan trọng: thực hiện tiêu hao, tiêu diệt, giam chân địch trong thành phố, làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp; tạo điều kiện di chuyển các cơ quan, kho tàng, vật chất (ta đã vận chuyển được gần 40.000 tấn máy móc, nguyên liệu ra vùng căn cứ); tranh thủ thời gian tổ chức cho hàng chục vạn nhân dân tản cư về vùng căn cứ xây dựng thế trận kháng chiến lâu dài.

Hơn 70 năm đã trôi qua, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn về tầm vóc cũng như giá trị lịch sử ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946). Sự kiện đã góp phần khẳng định đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trong cuộc đụng đầu lịch sử với thực dân Pháp. Mặt khác, thắng lợi của toàn quốc kháng chiến là thắng lợi đầu tiên trong cuộc trường chinh 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975), tạo cơ sở vững vàng cho ta giành được thành quả cách mạng trong những chặng đường tiếp theo.

Phát huy tinh thần toàn quốc kháng chiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, chúng ta cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng; tranh thủ thời cơ thuận lợi, khắc phục những khó khăn, thách thức để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, tạo tiềm lực to lớn cho đất nước; không ngừng chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.