Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về vai trò, vị trí của vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và quan hệ dân tộc -
tộc người trong chiến lược phát triển của cách mạng Việt Nam, nhất là trong
giai đoạn phát triển mới của đất nước - thời kỳ đẩy manh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế. Mọi chủ trương, chính sách, chỉ đạo thực tiễn đều
nhằm nâng cao ý thức quốc gia dân tộc, bảo đảm sự phát triển hài hòa của từng
tộc người với sự phát triển chung của đất nước. Đây cũng là quan điểm xác định
quyền lợi và nghĩa vụ của từng tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt
Nam thống nhất trong đa dạng, đồng thời chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề dân
tộc của các thế ỉực thù địch để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc với ý
đồ lôi kéo, cổ xuý tư tưởng ly khai, chia tách dân tộc.
Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau
giữa các tộc người cùng xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ
tộc người ở nước ta hiện nay. Nguyên tắc này phải được quán triệt sâu sắc trong
toàn bộ hệ thống chính trị, sâu rộng trong toàn dân và phải thực thi đầy đủ
trong tất cả các lĩnh vực; không phân biệt đối xử, tôn trọng những đặc trưng bản sắc của từng tộc người, phát huy khả năng, tiềm
năng nội lực tộc người trong
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chủ động xử lý đúng đắn các
mối quan hệ tộc người, ngăn cấm và xử lý hiệu quả những hoạt động nhằm lợi dụng hoặc
khơi lại quá khứ lịch sử nhạy cảm, tư tưởng dân tộc lớn, chủ nghĩa
dân tộc hẹp hòi dưới bất kỳ hình thức nào nhằm làm thương tổn khối đại đoàn kết
toàn dân tộc và lợi ích, chủ quyền quốc gia.
Hoàn thiện chính sách dân tộc.
Chính sách phát triển các tộc người thiểu
số ở Việt Nam cần được hoạch định trên cơ sở nghiên cứu,
có sự hiểu biết đầy đủ về những đặc điểm tự nhiên, kinh tể - xã hội, văn hoá
truyền thống và hiện trạng phát triển mọi mặt đời sống của các tộc người. Thực
tế cho thấy, các tộc người thiểu số ở nước ta
có xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, cơ cấu kinh tế
chưa hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, nặng về trồng trọt, độc canh cây lúa, tự cung
tự cấp, phương thức và tập quán sản xuất còn rất lạc hậu. Cư dân các dân tộc
thiểu số chủ yếu cư trú ở những địa bàn khó khăn, có nhiều khác biệt về ngôn ngữ và tập quán văn hóa, thường bị
thua thiệt về cơ hội phát triển... Do vậy, chủ trương, chính sách và mô hình
phát triển cần phải phù hợp với đặc điểm vùng, tộc người và nhu cầu thiết thực
của người dân, tránh nóng vội, áp đặt, duy ý chí. Chính sách phát triển kinh tế
- xã hội vùng biên giới cùng các tộc người thiểu số cần phải được hoạch định
trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia nói chung, phát triển nông
nghiệp, nông thôn và nông dân nói riêng.
Chính sách phát triển
đối với các tộc người thiểu số cũng cần phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của
bản thân các tộc người và coi họ là chủ thể trọng tâm của quá trình phát triển;
tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá tộc người; huy động được các nguồn lực từ cộng đồng nhằm đáp ứng tốt hơn các
nhu cầu phát
triển xã hội; tạo điều kiện, cơ hội cho các tộc người thiểu số nâng cao năng
lực, trao quyền lựa chọn và chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển cũng
như được hưởng lợi từ các chính sách, chương trình đó.
Cần nhận thức rằng, giải quyết vấn đề tộc
người, quan hệ tộc người ở nước ta là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát
triển tổng thể kinh tế quốc gia với chính sách trọng tâm là đẩy nhanh phát triển toàn diện, bền vững
vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quan điểm phát triển bền vững phải là quan điểm hạt nhân và là thước đo của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Sự phát triển phải dựa trên cơ sở: (1) Tôn trọng và quan tâm sâu sát lợi ích, chất lượng
đời sống các tộc người; (2) Bảo vệ tính
đa dạng bản sắc văn hoá các dân tộc; (3) Tạo
được mối quan hệ đồng thuận cho phát triển và phát triển bền vững; (4) Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn
tài nguyên thiên nhiên và các rủi ro khác; (5) Nâng cao vai trò của cộng đồng các dân tộc thiểu số
và nội lực tộc người trong phát triển. Đồng thời quan điểm giải quyết vấn đề
dân tộc, quan hệ tộc người ở nước ta cần phải đặt trong mối tương tác giữa
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, môi trường sinh thái và an ninh, quốc
phòng.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế, xu thế
toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, việc giải quyết vấn đề dân
tộc và tôn giáo, hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở nước
ta cần phải tính đến những tộc
người có các mối quan hệ đồng tộc, thân tộc ở nước ngoài, nhất là ở vùng biên
giới thuộc các nước láng giềng.
Một trong những hạn chế của công tác dân tộc ở Việt Nam chậm được khắc
phục là do công tác tổ chức chỉ đạo thực tiễn chưa hiệu quả. Mặc dù ở các địa
phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã có các cơ quan chuyên
trách để giải quyết, song hiệu quả hoạt động còn chưa tương xứng với yêu cầu,
nhiệm vụ. Trong quá trình tổ chức thực hiện, sự liên kết, phối hợp giữa các cơ
quan, đơn vị chưa đồng bộ, thiếu thống nhất. Ngoài những vấn đề trên, những
tiêu cực nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách cũng là một trong những
nguyên nhân hạn chế hiệu quả của chính sách. Vì vậy, đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả tổ chức thực tiễn công
tác dân tộc, tộc người là đòi hỏi cần được quan tâm giải quyết.
- Trong khi giương cao
ngọn cờ độc lập dân tộc, đoàn kết các tộc người trong nước, cần chủ động tranh
thủ sự ủng hộ và đóng góp ngày càng nhiều của kiều bào ta ở nước ngoài, đồng
thời đấu tranh có hiệu quả .với những mưu đồ lợi dụng vấn đề dân tộc, quan hệ
dân tộc vào thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét