Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2020

Những vấn đề cơ bản nâng cao chất lượng giải quyết quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


 Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò, vị trí của vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và quan hệ dân tộc - tộc người trong chiến lược phát triển của cách mạng Việt Nam, nhất là trong giai đoạn phát triển mới của đất nước - thời kỳ đẩy manh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Mọi chủ trương, chính sách, chỉ đạo thực tiễn đều nhằm nâng cao ý thức quốc gia dân tộc, bảo đảm sự phát triển hài hòa của từng tộc người với sự phát triển chung của đất nước. Đây cũng là quan điểm xác định quyền lợi và nghĩa vụ của từng tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng, đồng thời chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế ỉực thù địch để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc với ý đồ lôi kéo, cổ xuý tư tưởng ly khai, chia tách dân tộc.

 Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các tộc người cùng xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ tộc người ở nước ta hiện nay. Nguyên tắc này phải được quán triệt sâu sắc trong toàn bộ hệ thống chính trị, sâu rộng trong toàn dân và phải thực thi đầy đủ trong tất cả các lĩnh vực; không phân biệt đối xử, tôn trọng những đặc trưng bản sắc của từng tộc người, phát huy khả năng, tiềm năng nội lực tộc người trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chủ động xử lý đúng đắn các mối quan hệ tộc người, ngăn cấm và xử lý hiệu quả những hoạt động nhằm lợi dụng hoặc khơi lại quá khứ lịch sử nhạy cảm, tư tưởng dân tộc lớn, ch nghĩa dân tộc hẹp hòi dưới bất kỳ hình thức nào nhằm làm thương tổn khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lợi ích, chủ quyền quốc gia.

 Hoàn thiện chính sách dân tộc. Chính sách phát triển các tộc người thiểu số Việt Nam cần được hoạch định trên cơ sở nghiên cứu, có sự hiểu biết đầy đủ về những đặc điểm tự nhiên, kinh tể - xã hội, văn hoá truyền thống và hiện trạng phát triển mọi mặt đời sống của các tộc người. Thực tế cho thấy, các tộc người thiểu số nước ta có xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, nặng về trồng trọt, độc canh cây lúa, tự cung tự cấp, phương thức và tập quán sản xuất còn rất lạc hậu. Cư dân các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở những địa bàn khó khăn, có nhiều khác biệt về ngôn ngữ và tập quán văn hóa, thường bị thua thiệt về cơ hội phát triển... Do vậy, chủ trương, chính sách và mô hình phát triển cần phải phù hợp với đặc điểm vùng, tộc người và nhu cầu thiết thực của người dân, tránh nóng vội, áp đặt, duy ý chí. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới cùng các tộc người thiểu số cần phải được hoạch định trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia nói chung, phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân nói riêng.

Chính sách phát triển đối với các tộc người thiểu số cũng cần phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của bản thân các tộc người và coi họ là chủ thể trọng tâm của quá trình phát triển; tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá tộc người; huy động được các nguồn lực từ cộng đồng nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu phát triển xã hội; tạo điều kiện, cơ hội cho các tộc người thiểu số nâng cao năng lực, trao quyền lựa chọn và chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển cũng như được hưởng lợi từ các chính sách, chương trình đó.

Cần nhận thức rằng, giải quyết vn đề tộc người, quan hệ tộc người ở nước ta là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển tổng thể kinh tế quốc gia với chính sách trọng tâm là đẩy nhanh phát triển toàn diện, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quan điểm phát triển bền vững phải là quan điểm hạt nhân và là thước đo của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Sự phát triển phải dựa trên cơ sở: (1) Tôn trọng và quan tâm sâu sát lợi ích, chất lượng đời sống các tộc người; (2) Bảo vệ tính đa dạng bản sắc văn hoá các dân tộc; (3) Tạo được mối quan hệ đồng thuận cho phát triển và phát triển bền vững; (4) Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên và các rủi ro khác; (5) Nâng cao vai trò của cộng đồng các dân tộc thiểu số và nội lực tộc người trong phát triển. Đồng thời quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ tộc người ở nước ta cần phải đặt trong mối tương tác giữa chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, môi trường sinh thái và an ninh, quốc phòng. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, việc giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo, hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở nước ta cần phải tính đến những tộc người có các mối quan hệ đồng tộc, thân tộc ở nước ngoài, nhất là ở vùng biên giới thuộc các nước láng giềng.

 Một trong những hạn chế của công tác dân tộc ở Việt Nam chậm được khắc phục là do công tác tổ chức chỉ đạo thực tiễn chưa hiệu quả. Mặc dù ở các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã có các cơ quan chuyên trách để giải quyết, song hiệu quả hoạt động còn chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Trong quá trình tổ chức thực hiện, sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa đồng bộ, thiếu thống nhất. Ngoài những vấn đề trên, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế hiệu quả của chính sách. Vì vậy, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả tổ chức thực tiễn công tác dân tộc, tộc người là đòi hỏi cần được quan tâm giải quyết.

- Trong khi giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, đoàn kết các tộc người trong nước, cần chủ động tranh thủ sự ủng hộ và đóng góp ngày càng nhiều của kiều bào ta ở nước ngoài, đồng thời đấu tranh có hiệu quả .với những mưu đồ lợi dụng vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc vào thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét