Khi nghiên cứu dân số gắn với
phát triển, trước hết, chúng ta tìm hiểu phát triển là gì. Theo quan điểm chủ
nghĩa Mác- Lênin, phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn của mọi sự vật hiện
tượng, của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Tuy nhiên, sự vận động theo xu
hướng ngày càng cao hơn, tiến bộ hơn của sự vật hiện tượng phải là sự phát triển
bền vững. Theo đó phát triển bền vững được hiểu: Là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. (Khái niệm do Hội
đồng thế giới về môi trường và phát triển, Ủy ban WCED, 1987 xác định).Theo đó, phát triển bền vững là sự phát triển
có chương trình, kế hoạch, được tính toán kỹ lưỡng, mà trong đó mặt này phát
triển không làm ảnh hưởng đến mặt khác.
Về dân số: Dân số là tập hợp người sống được đặc trưng bởi quy
mô, cơ cấu, chất lượng, sự biến động dân cư, mối quan hệ về kinh tế - xã hội và
phân công lao động xã hội trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Theo đó Quy
mô dân số: Là số người sống trên một vùng lãnh thổ tại thời điểm nhất định.
Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân số
thường xuyên. Cơ cấu dân số: Là tổng số dân được phân chia theo giới
tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân. Phân
bố dân số: Là sự phân chia tổng số dân theo địa bàn hành chính, khu vực địa
lý, khu vực kinh tế.
Khi dân số là động lực của
phát triển: Đó là những vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân số…được
thực hiện hợp lý, chất lượng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội,
thúc đẩy xã hội phát triển. Khi dân số thực sự thúc đẩy xã hội phát triển thì
khi đó dân số là động lực của phát triển.
Ví dụ: Cơ cấu theo lứa tuổi
từ 15 đến 64 tuổi (lực lượng lao động), nếu lực lượng này được đào tạo cơ bản,
có nghề nghiệp phù hợp thì lực lượng này thực sự là động lực của phát triển xã
hội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét