Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quan điểm của V.I Lê Nin

    

Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, có tác động trực tiếp đến những hoạt động cơ bản của con người cũng như quá trình phát triển của loài người. Do đó, khi nghiên cứu về quá trình vận động, phát triển của xã hội loài người, V.I. Lê-nin đã bàn đến các vấn đề kinh tế, chính trị và mối quan hệ của 

Khi bàn về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, cũng giống như C. Mác và Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin khẳng định vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị. Theo V.I. Lê-nin, cơ cấu kinh tế của xã hội sinh ra chính trị, cơ cấu kinh tế này là do toàn bộ những quan hệ sản xuất của xã hội tạo nên. Những quan hệ sản xuất là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác. Quan điểm của ông về vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị được thể hiện trong luận điểm nổi tiếng sau: “Trong sản xuất vật chất, con người ở trong những mối quan hệ nhất định với nhau, những quan hệ sản xuất. Những quan hệ này bao giờ cũng phù hợp với trình độ phát triển của năng suất mà những lực lượng kinh tế của các quan hệ ấy có được trong thời kỳ đó. Toàn bộ những quan hệ sản xuất đó tạo thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng chính trị và pháp lý và phù hợp với cơ sở đó là những hình thức ý thức xã hội nhất định. Như vậy, phương thức sản xuất quyết định các quá trình của đời sống xã hội, chính trị và thuần tuý tinh thần”. Với quan điểm này, ông đã tiếp tục khẳng định lập trường duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác khi xem xét các vấn đề lịch sử và xã hội của con người.

Khi phân tích bản chất của nhà nước vô sản, V.I. Lê-nin chỉ ra rằng, kinh tế quyết định chính trị là vì, dù đã nắm trong tay chính quyền nhà nước, giai cấp vô sản vẫn phải căn cứ vào nhu cầu phát triển khách quan của kinh tế để xác định phương hướng hoạt động của bộ máy chính trị, của cả hệ thống chính trị và lúc này kinh tế cũng quyết định tính chất, quy mô, mức độ và khả năng ảnh hưởng của bộ máy chính trị đối với sự phát triển tiếp theo của kinh tế. Sự quyết định và chi phối của kinh tế đối với chính trị lúc này thường thông qua việc xác lập các chính sách, đường lối, cơ cấu và bộ máy tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội và chính trị. Theo nghĩa đó, “chính trị là sự thể hiện tập trung của kinh tế”. Từ đó, V.I. Lê-nin đưa ra một nguyên tắc có tính phương pháp luận khi xem xét mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là, cần phải xem xét các vấn đề chính trị dựa trên một nền tảng kinh tế nhất định, bởi lẽ “Bất cứ một vấn đề chính trị nào cũng có thể là một vấn đề tổ chức, và ngược lại... Không thể tách những vấn đề tổ chức khỏi những vấn đề chính trị được. Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại”.

MAI NĂM MỚI 

Bệnh nhân trẻ 'phổi mờ trắng sau vài ngày có triệu chứng Covid-19'

Phó Cục trưởng Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế, đánh giá người trẻ không có bệnh nền diễn biến tổn thương phổi rất nhanh, chỉ cần vài ngày sau khi có triệu chứng đã mờ trắng hai bên phổi. Ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Quản lý Khám, Bộ Y tế, thuộc Bộ phận thường trực, đang chi viện cho Bắc Giang, hôm nay cho biết tỉnh này hiện có hơn 2.600 ca, chiếm một nửa số bệnh nhân trên cả nước. Bệnh nhân điều trị tại 15 khu cách ly, điều trị. Hơn 50 ca diễn biến tăng nặng phải theo dõi liên tục. Trong đó, 36 bệnh nhân đang phải thở oxy, 7 bệnh nhân thở máy không xâm nhập (HFNC), 8 bệnh nhân thở máy/lọc máu tại đơn vị hồi sức tích cực (ICU), 2 bệnh nhân chạy ECMO. "Đặc biệt trong đợt dịch lần này, biểu hiện lâm sàng của các bệnh nhân khác với đợt dịch có các biến chủng trước. Cụ thể, ngay cả những người trẻ không có bệnh nền thì diễn biến tổn thương phổi cũng rất nhanh, thường xảy ra từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 10, chỉ cần từ khi có triệu chứng sau vài ngày đã xuất hiện mờ trắng hai bên phổi", ông Khoa nói. "Do đó, nguy cơ tử vong có thể ở các nhóm độ tuổi chứ không chỉ ở người cao tuổi và có bệnh nền như trước. Vì vậy, công tác điều trị cũng đòi hỏi phải đặt ra bài toán ứng phó, đáp ứng các tình huống có thể xảy ra". Kể từ khi chi viện Bắc Giang, Bộ Y tế đã nhanh chóng lên phương án điều trị, đáp ứng tình hình dịch tại tỉnh này. Theo ông Khoa, điểm mới trong việc phòng, chống dịch lần này tại Bắc Giang là không chỉ điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, cơ sở y tế. Bộ phận thường trực còn thiết lập các cơ sở điều trị ban đầu Covid-19 đặt tại các trường cao đẳng, Trung tâm Điều dưỡng người có công... nhằm đáp ứng số lượng ca nhiễm tăng nhanh. Trường hợp có bệnh nền hoặc người cao tuổi sẽ được đưa vào các bệnh viện dã chiến. Trong tình hình số lượng bệnh nhân lớn, số ca nặng dự báo sẽ tăng, bắt buộc ngành y tế phải đưa ra giải pháp phân tuyến phù hợp. Hiện tỉnh Bắc Giang có 2 đơn vị ICU đang tiếp nhận những ca nặng là Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện Phổi với 58 giường ICU. Ca bệnh nhẹ, không có triệu chứng được chuyển đến cơ sở điều trị ban đầu Covid-19. Những cơ sở này được tận dụng từ ký túc xá của trường Cao đẳng Ngô Gia Tự, Cao đẳng công nghệ Việt - Hàn và cơ sở Trung tâm chăm sóc người có công. Ngoài ra, còn một số cơ sở khác được thiết lập để đáp ứng tình hình dịch trên địa bàn. "Các bệnh nhân được theo dõi sức khỏe và sẽ điều chuyển nếu xuất hiện triệu chứng, đến các bệnh viện để điều trị", ông Khoa nói. Bộ Y tế cũng đang phối hợp với các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ đưa vào hoạt động đơn vị ICU đặt tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bắc Giang, dự kiến bắt đầu hoạt động từ ngày 5/6. Khi hoàn thiện, đây sẽ là đơn vị ICU lớn nhất miền Bắc với 101 giường. Ông Khoa cho biết xây dựng một trung tâm hồi sức tích cực lớn vô cùng tốn kém, dự toán kinh phí khoảng 300 tỷ đồng. Đây là nguồn kinh phí quá lớn đối với địa phương trong thời điểm chống dịch gấp gáp này. Tất cả hệ thống thiết bị, máy móc, vật tư cho Trung tâm vận hành đều rất đắt tiền. Từ hệ thống đường điện chính và dự phòng, hệ thống oxy khí nén... cho đến hệ thống khử khuẩn - diệt khuẩn, hệ thống camera giám sát, rồi hệ thống thông tin liên lạc... Riêng hệ thống khử khuẩn diệt khuẩn với một số thiết bị như diệt khuẩn hơi nước, diệt khuẩn bằng nhiệt độ thấp khoảng 5-7 tỷ đồng. Đặc biệt, trang thiết bị y tế chuyên sâu dành cho mỗi giường hồi sức cấp cứu thì rất nhiều tiền. Hiện nay, một vài doanh nghiệp tài trợ một phần trong tổng dự toán kinh phí, một số hạng mục tỉnh sẽ phải tự lo. Ví dụ như hệ thống khử khuẩn diệt khuẩn, một số trang thiết bị y tế, tỉnh đang lên phương án tìm kiếm các nguồn lực để bổ sung, hoàn thiện thêm. "Trong bối cảnh này, nếu ngành y tế Bắc Giang nhận được sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thì rất quý", ông Khoa nói. Ông Khoa cho biết thêm, với Bắc Giang lần này, Bộ Y tế đã huy động lực lượng chi viện lớn nhất từ các bệnh viện trên khắp cả nước, như các bệnh viện Bạch Mai, Chợ Rẫy, C Đà Nẵng, Đà Nẵng, Trung ương Huế, Hữu nghị, Nông nghiệp, Phổi Trung ương... Bên cạnh đó là sự vào cuộc của hệ thống bệnh viện thuộc Bộ Quốc phòng (Bệnh viện 103, 110), thuộc Bộ Công an (Bệnh viện 198, Y học cổ truyền) và các bệnh viện từ các tỉnh thành (Quảng Ninh, Hải Phòng, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Hưng Yên, Hải Dương, Nghệ An, Bắc Kạn...) cùng đội ngũ sinh viên từ các trường y dược khắp cả nước. Các cơ sở điều trị bệnh nhân nặng như Bệnh viện Phổi với 58 giường ICU được giao cho đội ngũ các bác sĩ, chuyên gia tinh nhuệ của Bệnh viện Chợ Rẫy. Trung tâm ICU thứ hai đặt tại Bệnh viện Tâm thần với 100 giường do đội ngũ y bác sĩ chi viện của Bệnh viện Đà Nẵng và Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Hữu nghị... "Với sự huy động tham gia của đội ngũ tinh nhuệ này, tôi tin tưởng rằng sẽ giúp cho việc điều trị đạt hiệu quả tối ưu", ông Khoa nói.

Hà Nội lùi lịch thi vào lớp 10

UBND TP Hà Nội đồng ý lùi lịch thi từ 10-11/6 sang 12-13/6, đồng thời rút ngắn thời gian làm bài thi vào lớp 10 từ 15 đến 30 phút, tùy từng môn. Ngày 2/6, UBND TP Hà Nội đồng ý với đề xuất của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội về việc điều chỉnh thời gian thi vào lớp 10. Ngoài muộn hơn hai ngày so với kế hoạch ban đầu, thời gian làm bài cũng thay đổi, môn Ngữ văn và Toán giảm từ 120 phút xuống còn 90 phút, Ngoại ngữ và Lịch sử từ 60 xuống còn 45 phút. Thay vì thi trong ba buổi, thí sinh có nguyện vọng vào các trường THPT công lập không chuyên sẽ chỉ thi trong hai buổi sáng 12-13/6. Thí sinh thi chuyên sẽ thi thêm ngày 14/6, chương trình song bằng thi thêm ngày 15-16/6.

20 triệu liều vaccine Sputnik V sắp về Việt Nam

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long chiều 2/6 cho biết Nga đã đồng ý cung ứng cho Việt Nam 20 triệu liều vaccine Sputnik V trong năm nay. Làm việc với Quỹ Đầu tư Trực tiếp Nga về vấn đề vaccine phòng Covid-19 chiều cùng ngày, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, ngay từ tháng 8/2020, Việt Nam đã có thư ngỏ đề xuất mua vaccine của Nga, tuy nhiên vì điều kiện sản xuất nên chưa đảm bảo cung ứng. Thời gian qua, Bộ Y tế đã liên tục đàm phán với phía Nga để có vaccine sớm nhất. Đến nay, phía Nga đã đồng ý cung ứng cho Việt Nam 20 triệu liều vaccine trong năm 2021. "Đây là kết quả tích cực cho quá trình đàm phán liên tục, không ngừng của Bộ Y tế để có vaccine", ông Long nói. Hồi tháng 3, Việt Nam đã cấp phép khẩn cấp vaccine Sputnik V, sau vaccine của AstraZeneca. Để đảm bảo an ninh vaccine trong những năm tiếp theo, Bộ Y tế xác định việc hợp tác trong sản xuất, chuyển giao công nghệ sản xuất là rất cần thiết. Vì vậy Bộ Y tế đã giao các đơn vị của Bộ khẩn trương đàm phán, thống nhất với đối tác về vấn đề này. Bộ trưởng Long cho biết, thời gian qua, công ty Vabiotech, đơn vị đầu tiên của Bộ Y tế đã hợp tác với phía Nga và dự kiến đến tháng 7 sẽ tiến hành đóng ống, gia công vaccine Covid-19 của Nga tại Việt Nam với công suất dự kiến 5 triệu liều một tháng. Đây cũng là kết quả rất quan trọng để phía Nga có thể tiến hành chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine cho Việt Nam trong thời gian tới. Bộ Y tế cũng yêu cầu các đơn vị của Bộ và đề nghị các doanh nghiệp, tập đoàn tiếp tục trao đổi, hợp tác với phía Nga trong chuyển giao công nghệ để có thể thiết lập nhà máy sản xuất vaccine công suất lớn tại Việt Nam, nhằm đảm bảo thị trường trong nước cũng như hướng đến xuất khẩu trong tương lai. "Trong cuộc đàm phán chiều nay, phía Nga hoàn toàn ủng hộ những đề xuất này của Việt Nam", ông Long thông tin và bày tỏ hy vọng những đề xuất này sớm đi vào thực tiễn để đảm bảo vaccine cho Việt Nam trong tương lai. Bên cạnh nguồn vaccine của Nga, Bộ Y tế đã nỗ lực đàm phán, tiếp cận với các nguồn khác như Covax, Astra Zeneca; Pfizer, Moderna, Johnson&Johnson... Bộ Y tế đã đàm phán thành công 38,9 triệu liều vaccine Covid-19 qua nguồn Covax, tuy nhiên, hiện vaccine về chưa nhiều. Do vậy, Bộ Y tế đang thúc đẩy Covax sớm đưa vaccine về Việt Nam nhiều nhất, sớm nhất. Ngoài ra, Bộ Y tế đã đăng ký với Covax để mua thêm vaccine theo cơ chế cùng chia sẻ chi phí. Việt Nam cũng đã đàm phán thành công và ký kết với Pfizer/BioNTech cung ứng cho Việt Nam 31 triệu liều vaccine Covid-19. Trước đó, từ tháng 11/2020, Việt Nam cũng đã đàm phán và ký kết với Astra Zeneca khoảng 30 triệu liều. "Như vậy, đối với nguồn cung ứng của Nga, của Mỹ và của Anh, có thể nói rằng, chúng ta đã dần dần hướng tới mục tiêu mua đủ 150 triệu liều trong năm 2021 để tiêm chủng cho 75% dân số Việt Nam", ông Long nhấn mạnh.

Bắc Giang đưa 4.000 người đi cách ly tập trung

Tỉnh Bắc Giang sẽ di chuyển toàn bộ 4.000 công nhân và người dân tại ổ dịch thôn Núi Hiểu, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, đi cách ly tập trung. Tối 2/5, ông Mai Sơn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, cho biết sau khi di chuyển tất cả người dân ra khỏi thôn Núi Hiểu, chính quyền sẽ khử khuẩn làm sạch môi trường. Người dân trong thôn sau khi kết thúc 21 ngày cách ly tập trung sẽ được xét nghiệm, đảm bảo an toàn trước khi trở lại địa bàn. Dự kiến một phần công nhân sẽ được di chuyển khỏi thôn từ ngày mai 3/6 và tiếp tục trong những ngày tiếp theo. Trước đó, từ cuối tháng 5, Bắc Giang đã chuyển 3.000 công nhân tại thôn Núi Hiểu về các huyện, thành phố cách ly tập trung và hơn 2.300 công nhân cách ly tại các cơ sở của quân đội. Theo Ban chỉ đạo phòng chống Covid-19 tỉnh Bắc Giang, tính đến tối nay, toàn tỉnh ghi nhận 2.683 F0; hơn 18.100 F1; hơn 81.600 F2. Trên địa bàn còn hai ổ dịch vẫn ghi nhận thêm ca nhiễm mới. Ổ dịch tại khu công nghiệp Vân Trung có 381 F0, "đã được kiểm soát, trường hợp F0 mới đều trong khu cách ly, phong tỏa". Ổ dịch khu công nghiệp Quang Châu có 2.112 F0, đều trong khu cách ly hoặc phong tỏa. Ca nhiễm mới chủ yếu là công nhân và người nhà. Ban chỉ đạo phòng chống Covid-19 tỉnh dự báo những ngày tới số ca nhiễm mới vẫn xuất hiện, nhưng "có chiều hướng giảm, chủ yếu trong nhóm công nhân tại các nhà trọ ở thôn Núi Hiểu và khu cách ly tập trung". Đến nay, toàn tỉnh Bắc Giang đã lấy gần một triệu mẫu xét nghiệm. Trong đó, có 237.788 mẫu được lấy tầm soát cộng đồng ở các huyện an toàn, đều cho kết quả âm tính. Tỉnh đã chuẩn bị 16 khu điều trị bệnh nhân dương tính, với 4.397 giường. Để phòng chống dịch bệnh, Bắc Giang đã cách ly xã hội 6 huyện gồm: Yên Thế, Lục Nam, Lạng Giang, Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa; giãn cách xã hội TP Bắc Giang và huyện Tân Yên.

Nửa tháng TP HCM bùng phát dịch

Từ 18/5 đến 2/6, Covid-19 tại TP HCM bùng phát mạnh với 3 ổ dịch lớn, ghi nhận tổng cộng 257 ca Covid-19 cộng đồng. Khi đợt dịch thứ 4 bắt đầu bùng phát từ ngày 27/4 ở nhiều địa phương cả nước với những cột mốc kỷ lục về số ca mắc, TP HCM chỉ ghi nhận một ca Covid-19 là "bệnh nhân 2910" (thanh niên 28 tuổi từ Hà Nam, phát hiện bệnh 29/4). Đến ngày 18/5, thành phố bắt đầu bước vào "trận chiến" với đợt lây nhiễm cộng đồng lớn nhất từ trước đến nay. Trong nửa tháng, TP HCM ghi nhận 257 ca mắc đã được công bố, hiện đứng thứ 4 cả nước về số ca Covid-19 cộng đồng trong đợt dịch này. Ba chuỗi lây nhiễm được ghi nhận từ ngày 18/5, gồm: Chuỗi lây nhiễm tại một công ty kiểm toán ở quận 3 Ngày 18/5, thành phố phát hiện hai bệnh nhân là đồng nghiệp làm việc trong một văn phòng ở quận 3, gồm "bệnh nhân 4514"- thanh niên ngụ TP Thủ Đức và "bệnh nhân 4583" - người phụ nữ 34 tuổi ngụ quận 7. Chuỗi lây nhiễm đã được điều tra, truy vết, khoanh vùng dập dịch triệt để với 193 người tiếp xúc gần, 1.380 người tiếp xúc khác, đều được cách ly y tế. Có 9.113 người được lấy mẫu xét nghiệm mở rộng tại các khu vực liên quan. Tổng cộng, ngành y tế thực hiện 10.686 mẫu xét nghiệm. Đến nay, chưa phát hiện thêm người mắc bệnh. Kết quả giải trình tự gene hai bệnh nhân có cùng một nguồn lây do biến chủng Ấn Độ B.1.617.2. Chuỗi lây nhiễm tại quán bánh canh O Thanh ở quận 3 Chuỗi lây nhiễm tại quán O Thanh phát hiện từ 20/5, đến nay ghi nhận 7 bệnh nhân, gồm người mẹ và hai con sống chung nhà ("bệnh nhân 4780", 4781, 4782, ghi nhận ngày 20/5); hai F1 sống riêng chỉ tới thăm là cháu ngoại ("bệnh nhân 5329", phát hiện ngày 24/5) và con gái ("bệnh nhân 5463", ngày 25/5); hai người được ghi nhận ngày 2/6 là F1 của 4781, xét nghiệm dương tính khi đang cách ly tập trung. Trong đó, "bệnh nhân 5463" đã tử vong ngày 2/6 do Covid-19 nặng trên cơ địa suy thận mạn giai đoạn cuối. Chuỗi lây nhiễm đã được điều tra, truy vết, khoanh vùng dập dịch triệt để với 174 người tiếp xúc gần, 835 người tiếp xúc khác, mở rộng xét nghiệm cho 1.382 người. Tổng cộng thực hiện 2.391 mẫu xét nghiệm. Đến nay chưa phát hiện thêm người mắc bệnh. Kết quả giải trình tự gene các bệnh nhân trong chuỗi lây nhiễm này là biến chủng Anh B.1.1.7. Ổ dịch Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng Đây là ổ dịch lớn nhất từ trước đến nay, được phát hiện từ ngày 26/5. Đến ngày 2/6, Bộ Y tế công bố 248 bệnh nhân liên quan ổ dịch này. Kết quả giải trình tự gene nCoV 7 người bệnh đầu tiên là hội viên đều thuộc biến chủng Ấn Độ B.1.617.2. Hội truyền giáo này tổng số người tham gia là 55 người, trong đó 40 người đã xác định mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 70%. Các hội viên sống ở 16/22 quận huyện và lây nhiễm cho các bệnh nhân tại nơi họ sống và làm việc, hình thành các ổ dịch tại 20/22 quận huyện (ngoại trừ quận 11, huyện Cần Giờ) và 6 tỉnh miền Nam (gồm Long An, Bình Dương, Đồng Tháp, Tây Ninh, Trà Vinh, Bạc Liêu). Ổ dịch này đã gây nên ba nhánh lây nhiễm từ 20 ca trở lên, ngoài ra còn nhiều nhánh nhỏ hơn khác. Trong đó, công ty Thiên Tú FN ở Bình Tân ghi nhận 50 bệnh nhân ("bệnh nhân 6301" lây nhiễm cho 44 ca F1 và 5 ca F2, trong đó bệnh nhân là các nhân viên làm chung và lây lan tiếp cho người nhà). Công ty IDS ở Tân Phú có 23 bệnh nhân ("bệnh nhân 6787" lây nhiễm cho 9 ca F1, 12 ca F2 và 1 ca F3). Trường mầm non song ngữ ở quận 12 có 20 bệnh nhân ("bệnh nhân 6427" lây nhiễm cho 10 ca F1 và 09 ca F2, bệnh nhân là giáo viên của trường rồi lây sang các hộ gia đình, khu nhà trọ, lây lan sang tỉnh Bạc Liêu, Long An, Đồng Tháp). 7 ngày qua, ngành y tế đã lấy mẫu 277.841 người, trong đó 3.770 F1, 274.071 người các diện tiếp xúc khác và mở rộng xét nghiệm, liên quan ổ dịch này. Diễn biến phức tạp của ổ dịch này khiến Chủ tịch TP HCM quyết định giãn cách xã hội toàn thành phố theo Chỉ thị 15, riêng quận Gò Vấp và phường Thạnh Lộc (quận 12) theo Chỉ thị 16, từ 0h ngày 31/5. Sự lưu hành đồng thời của cả hai biến chủng nguy hiểm Đây là lần đầu tiên TP HCM ghi nhận sự lưu hành đồng thời của cả hai biến chủng được cho là có khả năng lây lan nhanh, gồm biến chủng Án Độ và Anh, ở các ca bệnh trong cộng đồng. Theo giám đốc Sở Y tế TP HCM Nguyễn Tấn Bỉnh, hai chuỗi lây nhiễm ở công ty quận 3 và quán bánh canh O Thanh đã giới hạn số ca mắc và hiện không phát hiện thêm người nhiễm từ các chuỗi này. Riêng chuỗi lây nhiễm liên quan Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng có mức độ lây lan mạnh do các đặc thù sinh hoạt và điều kiện làm việc của các F0, F1, F2. Đáng lưu ý là sự xuất hiện các chuỗi mới xuất phát từ một bệnh nhân trong hội truyền giáo được ghi nhận tại các tòa nhà văn phòng với tỷ lệ lây nhiễm rất cao, ví dụ điển hình là công ty Thiên Phú FN. Bên cạnh đó, nhóm bệnh nhân làm việc trong lĩnh vực dịch vụ đã làm cho chuỗi lây nhiễm này phát triển diện rộng theo sự di chuyển của các bệnh nhân. Chưa phát hiện lây nhiễm trong khu công nghiệp, tổ bầu cử, bệnh viện Trong chuỗi lây nhiễm hội truyền giáo có 3 bệnh nhân làm việc trong các khu công nghiệp và hiện chưa phát hiện lây nhiễm trong khu vực này. Đến nay, chưa phát hiện trường hợp nhiễm nào từ các tổ bầu cử hoặc sự kiện bầu cử dù đã qua 7 ngày (đây là khoảng thời gian đủ để lây truyền qua một chu kỳ). Theo ông Bỉnh, bệnh viện được phân luồng giám sát ngay từ cổng bệnh viện, khiến rất ít trường hợp lọt sâu vào cơ sở y tế. Đến nay, thành phố cũng chưa phát hiện bất kỳ trường hợp lây lan nào trong bệnh viện. Nơi công cộng cũng đã được kiểm soát, giãn cách, nên cũng hạn chế lịch trình di chuyển của bệnh nhân hạn chế việc lây lan tại những nơi này. Có thể xuất hiện những ca nhiễm không rõ nguồn gốc Theo Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TP HCM (HCDC), nếu truy vết quyết liệt và cách ly tập trung tất cả các tiếp xúc gần thì thời gian tới, ngành y tế sẽ tiếp tục phát hiện ca bệnh trong nhóm này. Do đã cách ly nên sẽ hạn chế lây lan tiếp theo trong cộng đồng. Bác sĩ Nguyễn Trí Dũng, Giám đốc HCDC nhận định, thành phố có thể xuất hiện những ca bệnh không rõ nguồn gốc trong cộng đồng do dịch bệnh đã âm thầm lây lan. Thành phố đã chuẩn bị ứng phó cho các tình hình dịch bệnh khác nhau. Người dân không hoang mang, lo lắng, nhưng cũng tuyệt đối không được chủ quan, luôn tuân thủ các biện pháp phòng dịch bệnh theo 5K và các quyết định của chính quyền, khuyến cáo của ngành y tế. Đi khám bệnh ngay khi có dấu hiệu sốt, ho, khó thở... Trung thực trong khai báo y tế khi đi khám bệnh. Các cơ quan đơn vị cần nâng cao khả năng phòng thủ, tổ chức làm việc, sản xuất an toàn, không để virus có cơ hội lây lan tại nơi làm việc.

ĐỪNG CỐ LỪA DỐI LƯƠNG TÂM

 


Cuộc Bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công rất tốt đẹp, để lại tiếng vang, tầm ảnh hưởng và những ấn tượng sâu sắc, được nhân dân và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Thế nhưng một số người thiếu thiện chí vẫn “quen đường cũ”, tiếp tục mưu đồ chống đối, phủ nhận kết quả Bầu cử với những chiêu trò hết sức tinh vi, thâm độc.

Âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của họ là chống phá cách mạng Việt Nam, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; với sự hằn thù cá nhân, mưu đồ và “ảo vọng phục quốc” họ đã và đang cố tình, tìm mọi cách chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và Nhân dân ta. Chống phá trước và sau Bầu cử chỉ là một trong các chiêu trò hiểm độc để thực hiện chiến lược chống phá Việt Nam, gây khó cho Nhân dân ta.

Sau Bầu cử, một số người xấu, bất mãn đã cố tình xuyên tạc, hạ thấp uy tín và chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội, gây sự phân tâm, nghi ngờ, hoang mang, dao động và làm mất niềm tin của Nhân dân. Vì vậy, họ xuyên tạc, bôi đen, nói xấu đời tư, gia đình, thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước là ứng viên Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhằm triệt hạ uy tín, vị thế, danh dự của các đồng chí ấy; chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa các đồng chí lãnh đạo; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Ai cũng biết, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta một lòng một dạ tin yêu, đi theo Đảng, chung sức đồng lòng đánh quân xam lược Pháp, Mỹ; thực hiện thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới suốt 35 năm qua. Giờ đây, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường.

Sự thật là sự thật, hãy công tâm, khách quan thừa nhận, sao lại bôi đen, xuyên tạc nó. Là người Việt Nam, xin hãy bỏ thành kiến cá nhân, đừng cố lừa dối mình nữa, phản bội lương tâm là điều bất hạnh lớn nhất đời người, sao phải nghe "đài địch", sống khổ sở như thế, không thể thể quay ngược bánh xe lịch sử, hà cớ chi phải sống trong dằn vặt, phản quốc, hại dân./.

Dịch vẫn nóng phía Nam, hạ nhiệt ở miền Bắc

Bình Dương, Long An phải giãn cách nhiều địa bàn do phát hiện các ca dương tính liên quan Hội thánh Truyền giáo Phục hưng ở TP HCM. Ngày thứ tám liên tiếp các ca dương tính dao động ở mức trên 200. Trong ngày 2/6, Bộ Y tế công bố 229 ca nhiễm. 37 tỉnh thành có dịch, gấp gần ba lần số địa phương trong đợt Covid-19 bùng phát hồi đầu năm ở Hải Dương, Quảng Ninh. Hôm qua, TP HCM ghi nhận ca tử vong đầu tiên vì dịch. Nữ bệnh nhân 37 tuổi, là con gái bà chủ quán ăn ở Quận 3, qua đời do suy thận mạn giai đoạn cuối, viêm phổi Covid-19. Liên quan đến hai cụm dịch trong một tuần, thành phố xuất hiện các ca dương tính tại 20 trong số 22 địa phương, trừ quận 11 và huyện Cần Giờ. Cụm dịch Hội thánh Truyền giáo phục hưng còn lây lan ra 6 tỉnh thành khác là Tây Ninh, Trà Vinh, Long An, Bình Dương, Đăk Lăk và Bạc Liêu. TP HCM đã phải huy động lực lượng toàn ngành y tế lấy mẫu xét nghiệm. Trong 6 ngày, 400 đội hoạt động hết công suất lấy được gần 278.000 mẫu bệnh phẩm. Kết quả xét nghiệm phát hiện 250 mẫu dương tính đã được công bố. Giám đốc Sở Y tế TP HCM Nguyễn Tấn Bỉnh, nhận định biến chủng lây lan nhanh, mạnh trong khi người dân đi lại, giao lưu trong lao động, sinh hoạt cao dẫn đến nguy cơ dịch tiếp tục lan trong thành phố và các tỉnh thành lân cận. Hôm qua, Bình Dương đã giãn cách xã hội 3 thành phố, 2 thị xã theo chỉ thị 15, một số khu phố theo chỉ thị 16. Tỉnh ghi nhận ba ca nhiễm cộng đồng tại TP Thuận An liên quan Hội thánh Truyền giáo Phục hưng. Chính quyền đã phải phong tỏa nhiều địa điểm ở TP Dĩ An và Thủ Dầu Một. Cùng ngày, Long An giãn cách xã hội 4 huyện và một thành phố, những địa bàn đông dây cư, tập trung nhiều khu cụm công nghiệp và giáp ranh với TP HCM. Động thái đưa ra sau khi tỉnh này xuất hiện 8 ca Covid-19 trong vòng 5 ngày. Người dân từ vùng dịch, đặc biệt từ TP HCM về tỉnh này từ ngày 20/5 trở đi được lấy mẫu xét nghiệm, cách ly tại nhà. Người không nằm trong vùng dịch phải làm cam kết hạn chế rời khỏi nhà. Tâm dịch Bắc Giang ngày hôm qua ghi nhận 157 ca nhiễm đều trong khu vực đã cách ly, phong tỏa phát hiện khi xét nghiệm quay đầu. Các ca nhiễm chủ yếu là công nhân, một số ca là người nhà hoặc tiếp xúc gần, phát hiện tại nơi tập trung nhiều công nhân của huyện Việt Yên. Dự báo những ngày tới các ca nhiễm mới vẫn xuất hiện do đang xét nghiệm lần 3, lần 4 tại nơi nguy cơ cao đã được cách ly, song số lượng sẽ tăng chậm lại và giảm dần. Sau 5 ngày khôi phục hoạt động của các khu công nghiệp, hơn 5.000 công nhân thuộc 12 doanh nghiệp ở Bắc Giang đi làm trở lại. Trong nỗ lực chống dịch tái xâm nhập nhà máy, các tổ công tác liên tục đi kiểm tra quy trình sản xuất và điều kiện phòng dịch, ký túc xá, quy trình đưa đón công nhân về nơi làm việc. Từ đêm qua, tỉnh bắt đầu đưa 4.000 công nhân và người dân tại ổ dịch thôn Núi Hiểu, xã Quang Châu, huyện Việt Yên, đi cách ly tập trung, để khử khuẩn làm sạch môi trường toàn bộ khu vực. Tại Bắc Ninh, 36 bệnh nhân được tuyên bố khỏi Covid-19, nâng tổng số bệnh nhân khỏi bệnh của tỉnh lên 140 người. Sức khỏe bệnh nhân ổn định, không có các triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm âm tính hai lần liên tiếp. Chính quyền Bắc Ninh tiếp tục yêu cầu các địa phương quản lý chặt người và phương tiện đặc biệt là công nhân ra vào làm việc tại các khu công nghiệp và nơi lưu trú. Trong ngày đón nhận nhiều tín hiệu tích cực liên quan đến vaccine Covid-19. Gần 288.000 liều vaccine đã được AstraZeneca chuyển cho VNVC theo hợp đồng đặt mua 30 triệu liều. Số vaccine này đã về đến Việt Nam đêm 25/5, được kiểm tra chất lượng, đối chiếu số lượng, tình trạng bảo quản. Thời gian tới, các đợt vaccine dự kiến liên tục về thành nhiều đợt để tiêm cho các vùng dịch trọng yếu. Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long chiều 2/6 cũng cho biết Nga đã đồng ý cung ứng cho Việt Nam 20 triệu liều vaccine Sputnik V trong năm nay. Kết quả của quá trình đàm phán liên tục, kể từ hồi tháng 8/2020. Song để đảm bảo an ninh vaccine trong những năm tiếp theo trong bối cảnh dịch vẫn khó lường, Bộ y tế xác định việc hợp tác trong sản xuất, chuyển giao công nghệ sản xuất là điều cần thiết nên vẫn cần tích cực đàm phán với đối tác. "Với nguồn cung ứng của Nga, Mỹ và Anh, có thể nói Việt Nam đang dần hướng tới mục tiêu mua đủ 150 triệu liều trong năm 2021 để tiêm chủng cho 75% dân số", ông Long nói.

Những nghi ngờ bao trùm phòng thí nghiệm Vũ Hán

Trong khi Trung Quốc kiên quyết bác bỏ nghi ngờ nCoV lọt từ Viện Virus học Vũ Hán, nhiều câu hỏi về giả thuyết này vẫn chưa được giải đáp. Tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 26/5 cho biết ông đã chỉ đạo cộng đồng tình báo tăng cường nỗ lực điều tra nguồn gốc Covid-19 và báo cáo lại trong vòng 90 ngày. Động thái này được đưa ra sau khi truyền thông Mỹ tiết lộ tin tình báo cho thấy vài nhà nghiên cứu tại Viện Virus học Vũ Hán (WIV) từng bị ốm với "triệu chứng giống Covid-19" và nhập viện hồi tháng 11/2019, ngay trước khi đại dịch bùng phát ở thành phố của Trung Quốc này. Do đó, theo các bình luận viên Madeleine Spence và Matthew Campbell của The Times, câu hỏi đầu tiên là điều gì thực sự đã xảy ra bên trong phòng thí nghiệm của WIV. Giả thuyết nCoV, loại virus đã giết hơn 3,5 triệu người và tàn phá nền kinh tế toàn cầu, có thể bắt nguồn từ WIV thay vì thông qua tiếp xúc giữa con người với động vật nhiễm bệnh từng bị coi là một thuyết âm mưu vô căn cứ, bởi không có bằng chứng khoa học hay tình báo nào được đưa ra. Quan điểm rằng virus có thể khởi phát từ một chợ hải sản ở Vũ Hán được cho là hợp lý hơn. WIV thu thập nhiều mẫu gene từ động vật hoang dã để thử nghiệm tại phòng nghiên cứu, trong đó sử dụng virus sống trên động vật để đánh giá khả năng lây nhiễm sang người, với quy trình an toàn nghiêm ngặt. Tuy nhiên, thực tế là WIV nghiên cứu sâu về các virus từ dơi, bao gồm một loại gần như tương tự virus gây ra đại dịch, đã làm dấy lên sự chú ý vào khả năng có một vụ rò rỉ tình cờ từ phòng thí nghiệm. Sau chuyến thăm WIV hồi tháng 1/2018, giới chức Mỹ bày tỏ lo ngại về mức độ an ninh tại phòng thí nghiệm trong các bức điện ngoại giao, mà sau đó Washington Post thu thập được. Họ đánh giá WIV thiếu các kỹ thuật viên cần thiết để vận hành cơ sở một cách an toàn, đồng thời cảnh báo tình trạng này có nguy cơ làm rò rỉ virus từ dơi, dẫn đến khả năng bùng phát đại dịch. Hồ sơ công khai của WIV cho thấy cơ sở này tiến hành những nghiên cứu thăm dò chức năng, một loại hoạt động gây tranh cãi với chủ đích tạo ra các virus đột biến có khả năng lây nhiễm cao hơn, nhằm dự đoán những loại vaccine cần thiết cho việc chống lại các virus corona trong tương lai. Thạch Chính Lệ, nhà nghiên cứu hàng đầu tại WIV với biệt danh "nữ người dơi", đã phát triển một trong những cơ sở dữ liệu lớn nhất thế giới về các virus liên quan đến dơi. Sau khi đại dịch bùng phát ở Vũ Hán, bà đã rà soát hồ sơ để kiểm tra có sai sót nào trong quá trình nghiên cứu hay không. Bà Thạch sau đó "thở phào" khi kết quả cho thấy trình tự gene của loại virus đang lây nhiễm không trùng với những virus mà nhóm của bà đã lấy mẫu. "Điều đó thực sự giúp tôi thấy nhẹ nhõm. Tôi đã không ngủ suốt nhiều ngày", nhà nghiên cứu kỳ cựu trả lời tạp chí Scientific America. Tuy nhiên, nghi vấn này giờ đây lại nằm trong cuộc điều tra của Biden. Một câu hỏi khác được đặt ra là liệu "bệnh nhân số 0" có phải một nhà khoa học hay không. Theo tình báo Mỹ, ba nhân viên phòng thí nghiệm ở Vũ Hán từng bị ốm với những triệu chứng như Covid-19, phải nhập viện vài tuần trước khi dịch bệnh được báo cáo. Điều này làm dấy lên nghi ngờ liệu có phải họ nhiễm virus từ phòng thí nghiệm, hay do nguyên nhân khác. Viễn cảnh này từng xảy ra trong các đại dịch trước đây. Anthony Della-Porta, cố vấn kiểm soát sinh học từng làm việc tại Trung Quốc, cho biết dịch SARS bùng phát ở Đài Loan hồi năm 2003 bắt nguồn từ việc một nhà khoa học không cẩn thận trong lúc làm việc tại một phòng thí nghiệm quân sự có mức độ an toàn cao. Đợt bùng phát khác tại Singapore là hệ quả của việc một nghiên cứu sinh tiến sĩ gặp sự cố khi xử lý virus SARS trong phòng thí nghiệm. Thái độ của Trung Quốc trước những suy đoán về nguồn gốc nCoV càng khiến nhiều người nghi ngờ. Bắc Kinh được cho là đã hạn chế đáng kể phạm vi cuộc điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ở Vũ Hán hồi đầu năm. Nhóm chuyên gia bị từ chối tiếp cận những thông tin và nhân sự quan trọng. Do không có bằng chứng phủ định giả thuyết, họ kết luận việc rò rỉ virus từ WIV "cực kỳ khó xảy ra". "Chuyến đi này giống thăm quan hơn là điều tra", Larry Gostin, giám đốc Trung tâm Hợp tác Luật Y tế Quốc gia và Toàn cầu thuộc WHO, đánh giá. Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus, người thường bị cáo buộc thiên vị Trung Quốc, cũng cho rằng kết quả nghiên cứu "không đủ bao quát". Nhà động vật học người Anh Peter Daszak, thành viên chủ chốt trong nhóm điều tra của WHO đã nêu kết luận về giả thuyết virus rò rỉ từ WIV, trước đó cũng từng chỉ trích nghi vấn này là "ngớ ngẩn". Tuy nhiên, ý kiến của Daszak bị hoài nghi, bởi ông là chủ tịch của EcoHealth Alliance, tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ từng hợp tác và tài trợ cho WIV. Daszak cũng là một đồng nghiệp thân thiết của Thạch Chính Lệ. Việc Trung Quốc tuyên bố không hợp tác với cuộc điều tra độc lập giai đoạn hai của WHO làm củng cố thêm mối nghi ngờ. "Một cuộc điều tra độc lập đáng lẽ phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Nếu không có gì để giấu, họ có thể được minh oan", Gostin nói. Ngoài ra, nỗ lực chứng minh nCoV có một nguồn gốc khác của Trung Quốc được cho là chưa thỏa đáng. Trước những mối nghi ngờ dồn dập, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân hôm 31/5 cho biết công việc truy tìm nguồn gốc Covid-19 nên để các nhà khoa học dẫn dắt thay vì giới tình báo, đồng thời cần đến nỗ lực chung thay vì những bất đồng, và không thể để một số quốc gia nhất định chỉ đạo. Hôm 26/5, đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ cũng tuyên bố rằng một số lực lượng "đã cố ý thao túng chính trị và chơi trò đổ lỗi", đồng thời ủng hộ "một nghiên cứu toàn diện về toàn bộ ca Covid-19 đầu tiên được phát hiện trên thế giới, cùng cuộc điều tra kỹ lưỡng về một số căn cứ bí mật, phòng thí nghiệm sinh học trên toàn thế giới". Các nhà khoa học và giới chức Trung Quốc cho biết đã đến lúc Mỹ chào đón nhóm chuyên gia của WHO như họ từng làm, để điều tra kỹ lưỡng những phòng thí nghiệm sinh học tại nước này, giải đáp một loạt câu hỏi liên quan đến những ca nhiễm sớm và các bệnh truyền nhiễm có từ năm 2019 ở Mỹ. Zeng Guang, chuyên gia từng là nhà dịch tễ học hàng đầu Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Trung Quốc, cho rằng việc một nhóm nghị sĩ đề nghị quốc hội Mỹ điều tra nguồn gốc Covid-19 "rất nực cười". "Họ đã biết kết quả nghiên cứu chung giữa WHO và Trung Quốc chưa? Có giả thuyết mới nào không? Lần này họ muốn tìm cái gì?", Zeng đặt câu hỏi, nói thêm rằng liệu Tổng thống Mỹ có thực sự hiểu khoa học hay không. Về thông tin tình báo của Mỹ rằng một số nhà khoa học tại Vũ Hán bị bệnh với triệu chứng tương tự Covid-19 trước khi dịch bệnh được công bố, Marion Koopmans, nhà virus học người Hà Lan của WHO từng đến Vũ Hán, cho rằng đó là những bệnh thường gặp theo mùa. Nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng vẫn tin tưởng nCoV có nguồn gốc tự nhiên và không có bằng chứng ủng hộ giả thuyết virus rò rỉ từ phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, một số chuyên gia khác đánh giá khả năng virus vô tình bị phát tán từ phòng thí nghiệm là kịch bản có thể xảy ra, đòi hỏi một cuộc điều tra sâu rộng.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CÁC CẤP GƯƠNG MẪU TRONG PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19

 

Đợt dịch lần thứ tư này xuất hiện từ ngày 27/4/2021, đến nay chưa có dấu hiệu của đạt đỉnh dịch và số liệu của sự lây lan vẫn chưa có biểu hiện giảm xuống, song điều đáng mừng là các ca bệnh mới phát hiện đều nằm trong các khu vực được khoanh vùng, cách ly chứ không xuất hiện ở ngoài cộng đồng xã hội. Tính từ khi xuất hiện dịch đến nay (18 giờ ngày 02/6/2021) Việt Nam ghi nhận 7.813 trong đó 6.294 ca trong nước và 1.519 ca nhập cảnh. Số lượng ca mắc mới từ 27/4 là 4.724 ca, số ca khỏi bệnh là 3.085 và có 49 ca tử vong.

          Nhận thức rõ sự nguy hiểm của đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chủ động phát huy nội lực, huy động cao nhất sức người, sức của vào công tác phòng, chống dịch. Quán triệt quan điểm chỉ đạo của đồng chí Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính: “Phòng” là cơ bản, chiến lược lâu dài, quyết định; “Chống” là cấp bách, quyết liệt; nhanh chóng chuyển từ trạng thái phòng ngự là chủ yếu sang trạng thái kết hợp hài hòa, hợp lý giữa phòng ngự và tấn công, trong đó lấy tấn công là chủ yếu, quan trọng; tăng cường ứng dụng công nghệ để giám sát, kiểm tra; thực hiện nghiêm phương châm “phòng ngừa tích cực, phát hiện sớm, cách ly nhanh, điều trị hiệu quả, xử lý dứt điểm, nhanh chóng ổn định tình hình”.

          Song, trên thực tế cho thấy, mặc dù có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội trong công tác phòng chống dịch Covid-19, nhưng tình trạng vi phạm các quy định về công tác phòng chống dịch ở một số địa phương vẫn còn xảy ra, trong đó có nhiều trường hợp là cán bộ, đảng viên vi phạm đến mức phải đình chỉ công tác, xử lý kỷ luật, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phòng, chống dịch trong cả nước, dẫn đến để xảy ra tình trạng “một người lơ là cả xã hội vất vả”.

          Thấu triệt quan điểm “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, hơn lúc nào hết, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp trong công tác phòng chống dịch Covid-19 cần phải được phát huy cao độ, là tấm gương sáng cho quần chúng nhân dân soi vào thực hiện. Điều này cũng chính là thực hiện lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn cho quần chúng hăng hái thi hành thì người Đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo. Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu”, có như vậy tình hình dịch bệnh mới sớm được đẩy lùi./.

Thêm 57 ca Covid-19

Bộ Y tế sáng 3/6 ghi nhận 57 ca dương tính, gồm 56 ca trong nước và một ca nhập cảnh được cách ly ngay. 57 ca mới được ghi nhận từ số 7814-7870, trong đó tại Bắc Giang 32, Bắc Ninh 20, Lạng Sơn 3 và Hải Dương một. Số ca nhiễm mới nâng tổng số ca ở Bắc Giang lên 2.565, Bắc Ninh 927, Lạng Sơn 80, Hải Dương 50. Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 4781, ghi nhận ở 37 tỉnh thành. 14 tỉnh thành đã hơn 2 tuần không ghi nhận ca nhiễm mới, là Đồng Nai, Hòa Bình, Nam Định, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sơn La, Thừa Thiên Huế, Tuyên Quang, Yên Bái. Bắc Giang Ca 7814, 7819-7828, 7830-7848, 7850, 7854 ghi nhận trong khu cách ly và khu vực đã được phong tỏa, liên quan đến công nhân làm tại các khu công nghiệp. Bắc Ninh Ca 7849, 7851-7853, 7855-7870 gồm 10 ca liên quan đến ổ dịch Thuận Thành, 9 ca liên quan đến ổ dịch Khu công nghiệp Khắc Niệm, một ca liên quan đến ổ dịch Quế Võ. Lạng Sơn Ca 7816-7818 gồm một ca là F1, 2 ca liên quan đến Khu công nghiệp Quang Châu, Vân Trung - Bắc Giang. Kết quả xét nghiệm ngày 2/6 họ dương tính với nCoV. Hải Dương Ca 7829, nữ, 48 tuổi, địa chỉ tại TP Hải Dương, phát hiện qua sàng lọc cộng đồng, kết quả xét nghiệm ngày 2/6 dương tính với nCoV. Một ca nhập cảnh Ca 7815 được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại tỉnh Tây Ninh là nữ, 21 tuổi, địa chỉ tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ngày 31/5, cô từ nước ngoài nhập cảnh cửa khẩu Mộc Bài, kết quả xét nghiệm ngày 2/6 dương tính với nCoV. Bệnh nhân điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Ngày 2/6 thêm 11.733 người được tiêm chủng vaccine Covid-19, nâng tổng số tiêm đến nay lên 1.110.111 liều. Trong đó, số người đã được tiêm đủ 2 mũi là 31.177 người.

Một số giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá Việt Nam

         Lợi dụng vấn đề dân tộc để xâm phạm đến an ninh quốc gia của Việt Nam là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, với nhiều thủ đoạn, nhất là xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, kích động đồng bào các dân tộc tham gia các cuộc biểu tình, bạo loạn gây thiệt hại về kinh tế, mất ổn định về chính trị - xã hội... Để vô hiệu hóa những âm mưu, thủ đoạn đó, cần thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc; quan tâm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tăng cường tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị, pháp luật; chủ động đấu tranh, phòng ngừa, xử lý kịp thời khi xuất hiện các điểm nóng...


    Ở Việt Nam, các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chống phá Đảng và chế độ ta. Mục đích của chúng là lợi dụng hạn chế, thiếu sót của ta trong việc thực thi chính sách dân tộc, sự chênh lệch về mức sống và thu nhập giữa các vùng dân tộc, trình độ dân trí của một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, kích động đồng bào tham gia các cuộc biểu tình, bạo loạn chống đối chính quyền, gây thiệt hại về kinh tế, mất ổn định về chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trên thực tế, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đang đi vào cuộc sống, mang lại sự bình đẳng, quyền và lợi ích hợp pháp trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc, tương trợ, tương thân, tương ái, cùng nhau tiến bộ, phát triển giữa các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, từng bước khắc phục tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho người dân; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; phòng, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, kỳ thị, chia rẽ các dân tộc; nghiêm khắc xử lý các cá nhân, tổ chức lợi dụng vấn đề dân tộc gây mất đoàn kết, chống phá Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, những chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, khi áp dụng vào đời sống vẫn còn những bất cập, hạn chế như, một số hệ thống chính sách còn dàn trải, chồng chéo, nhiều nội dung chưa rõ ràng, chưa có trọng tâm, trọng điểm; khả năng hiện thực hóa một số chính sách gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực, chưa phát huy tối đa thế mạnh của từng địa phương; công tác kiểm tra, đánh giá, tổng kết ở một số nơi chưa được thực hiện thường xuyên; việc rà soát, hoàn thiện nhiều chương trình, đề án còn chậm trễ... Thực tiễn cho thấy, công tác quản lý ở cấp cơ sở một số địa phương còn lỏng lẻo, chưa sâu sát, không nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do trình độ của đội ngũ cán bộ cơ sở còn thấp, việc triển khai chính sách chưa chuyên nghiệp, lúng túng trong khâu hướng dẫn thực hiện.

Những hạn chế, yếu kèm trên đã tạo cớ để các thế lực thù địch khoét sâu, lợi dụng vấn đề dân tộc để xâm phạm an ninh quốc gia, bằng cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề dân tộc nhằm bôi nhọ, bóp méo sự thật, chia rẽ đoàn kết dân tộc. Chúng lợi dụng những thiếu sót của ta trong việc thi hành các chính sách dân tộc để gây xung đột, mâu thuẫn trong nội bộ đồng bào các dân tộc, từ đó đẩy lên cao trào, tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ về chính trị - xã hội ở nước ta. Lợi dụng các ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn, các sự kiện chính trị - xã hội có liên quan đến chính sách dân tộc để kích động, lôi kéo đồng bào các dân tộc tham gia biểu tình, gây rối trật tự công cộng. Chúng gieo rắc tư tưởng ly khai, tự trị, “tôn giáo hóa vùng dân tộc”… Xây dựng, nuôi dưỡng nhiều tổ chức phản động dùng làm công cụ chống phá. Tạo mâu thuẫn, gây xung đột giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số hay giữa các dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên lãnh thổ, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo...

Thời gian tới, để ngăn chặn và đẩy lùi các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp:

Trước hết, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho tất cả các cơ quan, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương, nhất là ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Cần lựa chọn nội dung tuyên truyền phù hợp với trình độ, văn hóa, tâm lý của đồng bào từng khu vực. Cần có sự thống nhất trong công tác phối hợp, để bảo đảm những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào có ý nghĩa và thiết thực nhất, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào. Củng cố thường xuyên khối đại đoàn kết các dân tộc.

Thứ hai, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch hướng đến lôi kéo, lợi dụng, kích động, giúp đồng bào có khả năng nhận biết được những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Đồng thời, cấp ủy, chính quyền cơ sở, các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự cần thường xuyên thăm hỏi, nắm bắt tình hình, tâm tư của bà con, kịp thời giải quyết những bức xúc, những vấn đề nổi cộm, không để xảy ra các điểm nóng về chính trị - xã hội.

Thứ ba, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Triển khai có hiệu quả các dự án, chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Tạo mọi điều kiện giúp đỡ đồng bào biết tự lực cánh sinh tạo sinh kế. Từ đó thu hẹp khoảng cách về mức sống cũng như thu nhập của đồng bào các dân tộc thiểu số so với mức bình quân của cả nước. Khi đời sống vật chất và tinh thần được nâng lên, đồng bào các dân tộc sẽ tin tưởng vào các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, không nghe theo lời kẻ xấu.

Thứ tư, cần làm tốt công tác nắm bắt tình hình, chủ động phòng ngừa, đấu tranh phát hiện, đi trước đón đầu và kịp thời xử lý những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc xâm phạm an ninh quốc gia. Khi phát hiện, cần tìm hiểu nguyên nhân, có biện pháp giải quyết kịp thời, triệt để, tránh để tạo cớ can thiệp, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm. Có những chính sách khoan hồng, giúp đồng bào trót nghe theo lời kẻ xấu quay trở về, tái hòa nhập cộng đồng./.

Đảng Cộng sản Việt Nam - lựa chọn tất yếu của lịch sử và của nhân dân

 


 

          Nhiều đảng phái chính trị ra đời nhưng đều bất lực trước đòi hỏi của dân tộc

          Lịch sử Việt Nam hơn 91 năm qua, nhìn bao quát, có thể nói là lịch sử của sự lựa chọn, khẳng định và thực thi mục tiêu phát triển gắn với sự lựa chọn đảng chính trị lãnh đạo đất nước, dẫn dắt dân tộc, vì mục tiêu đó. Ngay từ những thập niên đầu tiên tới những năm 50 của thế kỷ 20 đã và luôn là lịch sử thăng trầm của sự đào thải, sàng lọc, kiểm nghiệm và lựa chọn đó.  

          Năm 1930, qua hơn nửa thế kỷ, kể từ năm 1858, lúc bấy giờ, đất nước rên xiết trong vòng nô lệ của chủ nghĩa thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Nhu cầu tất yếu dân tộc phải độc lập, nhân dân phải được tự do và dân chủ, hoàn toàn bế tắc, chưa thấy tương lai. Độc lập tự do hay là chết? Hàng loạt cuộc khởi nghĩa do giai cấp nông dân, các sĩ phu yêu nước Việt Nam ngõ hầu trả lời câu hỏi lịch sử đó, nhưng đều lần lượt thất bại. Các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội ở nước ta, lúc bấy giờ, nhảy ra tranh đoạt vũ đài chính trị dân tộc, cũng đông đúc chưa từng thấy. Ai cũng biết, từ đảng của giai cấp nông dân (Nghĩa hưng, năm 1907); đảng của giai cấp tư sản, địa chủ (Lập hiến, năm 1923)... tới đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức tiểu tư sản (Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập (năm 1927), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927)... rồi đảng của bọn tay sai của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, (Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đại Việt quốc dân đảng (những năm 1940 tới khi Việt Nam giành được độc lập bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945); chen chúc các đảng phản động (Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... thật huyên náo, tới mức hỗn loạn chính trường. Trong số ấy, chỉ một số đảng mong chấn hưng đất nước nhưng “lực bất tòng tâm”, số còn lại những mưu toan tính biến đất nước thành nơi thử nghiệm những mưu đồ chính trị của giai cấp, tầng lớp họ.

          Nhưng rốt cuộc, tất cả những đảng đó đã lùi vào dĩ vãng của lịch sử và bị lịch sử dân tộc chôn vùi rất lặng lẽ trái với sự huyên náo đến mức hỗn loạn lúc các đảng này xuất hiện và khua chiêng gõ mõ trên chính trường Việt Nam lúc bấy giờ. Các đảng này hoặc tự phải diệt vong hoặc bị giải tán. Theo đó, các giai cấp, tầng lớp đại diện cho các đảng đó cũng cáo chung vai trò lãnh đạo dân tộc. Thách thức của lịch sử về vị trí, vai trò của đảng chính trị đối với vận mệnh cứu đất nước khỏi vòng nô lệ, nhân dân khỏi xiềng xích vong quốc nô vẫn đang bỏ ngỏ. Điều đó ai nấy đều rõ.

          Đảng Cộng sản Việt Nam mở ra trang sử mới cho dân tộc Việt Nam

          Trong thời gian ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giữa “một rừng” đảng phái chính trị ở Việt Nam. Không ồn ào như các đảng trên ra đời từ sớm, mà trái lại, Đảng lặng lẽ hiện diện, thậm chí phải tạm lánh ở nước ngoài, vì Đảng “là con nòi” của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, được hun đúc bởi truyền thống yêu nước thương nòi Việt Nam, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyện chiến đấu và hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đảng Cộng sản bị kẻ thù vây bủa, đàn áp đẫm máu, bị các đảng khác đương thời chèn ép, tranh đoạt sự ảnh hưởng. Trong 15 năm đầu, bao lần Đảng bị thực dân Pháp vây ráp, khủng bố trắng, hàng nghìn đảng viên của Đảng bị tù đầy, chém giết, hàng vạn đồng bào bảo vệ Đảng bị bắt bớ, lưu đầy, chỉ riêng 31 Ủy viên Trung ương của Đảng đã bị thực dân Pháp “tặng” cho 221 năm tù khổ sai. Nhiều Tổng Bí thư của Đảng bị thực dân Pháp tử hình... Lịch sử của Đảng 15 năm đầu được viết bằng máu đào và xương trắng đảng viên, chiến sĩ, đồng bào cuộc đấu tranh song trùng: Giữa Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến bán nước của chúng và giữa các đảng chính trị Việt Nam trong việc giành vị thế cầm quyền đất nước... Tất cả được thử thách qua sự sàng lọc, lựa chọn và đào thải của lịch sử, của nhân dân. Đó là khí phách Việt Nam. Điều đó ai cũng đều thấy.

          Một đảng cộng sản như thế xứng đáng là một đảng gánh vác sứ mệnh lịch sử, đứng mũi chịu sào trước nhân dân, dẫn dắt dân tộc. Vì sự thật Đảng vốn là “đứa con nòi” phải thuộc về dân tộc, phải là của nhân dân và đảm đương sứ mệnh “phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”, dẫn dắt đất nước thực thi trọng trách nhân dân giao phó: Độc lập dân tộc và CNXH. Đảng Cộng sản Việt Nam là người kết tinh, chung đúc những tố chất của một đảng vô sản kiểu mới và thực tế đủ bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ lãnh nhiệm trọng trách ấy của đất nước đặt ra và được nhân dân tin theo và hy sinh vì nó. Và Đảng trở thành một đảng dẫn dắt dân tộc và sau nay trở thành một đảng cầm quyền. Không một lực lượng chính trị nào Việt Nam lúc bấy giờ và bây giờ đủ tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị có thể làm nổi, không một ai có đủ chính danh cho tới tận hôm nay để có thể, dù cả gan, dù bất chấp đạo lý và pháp lý, làm vấy bẩn nó.   

          Sinh ra trong lòng dân tộc và đồng hành cùng dân tộc bẻ gãy gông xiềng nô lệ quàng lên cổ đất nước, giành lại độc lập cho Tổ quốc, lập nên chính quyền của nhân dân, và Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Điều đó làm nên địa vị lịch sử một cách tự nhiên và địa vị pháp lý của Đảng một cách tất yếu. Vấn đề quan trọng hơn hết và quyết định tất thảy là, địa vị cầm quyền đó của Đảng đã được bảo đảm bởi năng lực cầm quyền và uy tín cầm quyền trên thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam suốt hơn 91 năm qua; và, vị thế nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hơn 76 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng, trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và trọng thị.

          Vì không có trọng trách gì nặng nề và vẻ vang hơn, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng luôn là đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam-giai cấp đại biểu cho yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến. Đảng không có lợi ích nào cao hơn rằng, Đảng là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Mục tiêu phấn đấu của Đảng không có gì khác ngoài “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong vị thế vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành “Đảng ta”, “Đảng của chúng ta”, “Đảng của dân tộc chúng ta”... Đó là đạo lý Việt Nam. 

          Và đi trên con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) tới cái đích cao quý ấy được Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra ngay lúc mới ra đời. Qua hơn 76 năm cầm quyền, Đảng cùng toàn dân tộc xây dựng nên một nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã và đang giữ một vị thế mới trên trường quốc tế mà bất cứ ai cũng thấy. Qua 35 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta càng trưởng thành toàn diện. Trước thềm Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016), dư luận quốc tế nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là chính đảng duy nhất cầm quyền là một mô hình thành công đặc biệt và mô hình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển vì rất nhiều mô hình đã được thử nghiệm, nhưng chưa thấy mô hình nào thành công”.

          Trọng trách cầm quyền của Đảng, vinh dự được cầm quyền của Đảng trước nhân dân là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân Việt Nam thừa nhận, ủy thác và tin theo, chứ tuyệt đối không phải “từ trên trời rơi xuống” hay sự sắp xếp chủ quan của bất cứ ai, sự ngộ nhận của bất cứ giai cấp, tầng lớp nào.

          Nhân đây, cần được nói thêm về một số ý kiến lưỡng lự hoặc công kích về chuyện một đảng hay đa đảng và vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Rằng, từ những năm 40 tới những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, ở nước ta, còn có hai đảng là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời ngày 30-6-1944 và tự giải tán vào ngày 20-10-1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời ngày 22-7-1946 và tự giải tán tròn 42 năm sau đó, ngày 22-7-1988) đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng dân tộc Việt Nam tranh đấu vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng CNXH. Nghĩa là, Việt Nam đã từng và có một thời kỳ lịch sử không ngắn, ngót nửa thế kỷ, sau khi dân tộc giành lại nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được hưởng nền tự do, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng có nhiều đảng chính trị khác hoạt động và tự giải tán, chứ đâu phải câu chuyện hão về “đảng toàn trị”, “độc đảng” hoặc đâu cần ai khuyến nghị “muốn có dân chủ, phải đa đảng”(!).

          Tới đây, lại nhớ và nhắc lại lời người xưa, rằng nếu như đem dục vọng, tạp niệm của mình lắng xuống, có đạo lý nào mà chúng ta không thể thông suốt? Rằng, nếu đem chí hướng của mình mạnh mẽ khơi dậy, có việc gì mà ta không thể làm? Mấy vị ngày nay ấy, danh chính gì mà luận chính danh hay chính pháp về Đảng, khi các vị chỉ biết ôm trong lòng sự kiêu ngạo vô lối mà quan sát sự tình, mang tinh thần uể oải sa sút, thậm chí đem con mắt hạt đậu mà định luận sự việc, chẳng qua cũng chỉ là hồ đồ sống hết cuộc đời mình. Chỉ thế mà thôi!

          Có thể nói gọn lại, lịch sử dân tộc Việt Nam sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đến lượt mình, Đảng đáp lại yêu cầu của lịch sử dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô, tốc độ, chiều sâu của công cuộc phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Đó là biện chứng phát triển tự nhiên và tất yếu của dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhu cầu phát triển tất yếu của đất nước hiện nay, trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, dưới ngọn cờ của Đảng. Đó là tính tất yếu cầm quyền của Đảng, tính chính danh, chính pháp, bảo đảm tư cách pháp lý và đạo lý để Đảng cầm quyền.

 

Phòng ngừa, đấu tranh âm mưu lợi dụng “xã hội dân sự” tuyên truyền chống phá

1. Mưu đồ lợi dụng “xã hội dân sự” (XHDS) tuyên truyền chống phá

Thực tiễn ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Liên Xô và các cuộc “cách mạng màu” trên thế giới trong thời gian qua cho thấy vấn đề “XHDS”, tổ chức “XHDS” đã được Mỹ và phương Tây cùng với các lực lượng đối lập lợi dụng, sử dụng để tập hợp lực lượng cho các hoạt động chống đối chính quyền, từ “phản biện” hướng đến “phản đối” và cuối cùng thành tổ chức phản động, chống đối chính quyền, nơi tập trung lực lượng, xây dựng “ngọn cờ”, cung cấp vật chất để tổ chức xuống đường, biểu tình, bạo loạn chính trị. Nói cách khác, vấn đề “XHDS” đã được Mỹ và phương Tây sử dụng như một cách thức hiệu nghiệm thực hiện “diễn biến hòa bình”, “thúc đẩy dân chủ” ở các nước trên thế giới.

Các thế lực thù địch khai thác, sử dụng các khía cạnh về tư tưởng, chính trị, xã hội để tác động, thúc đẩy chuyển biến từ bên trong nội bộ hệ thống chính trị và xã hội Việt Nam, hình thành các tổ chức, phong trào “XHDS” đối lập, tạo tiền đề cho sự ra đời của lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua môi trường “XHDS” gây áp lực chuyển hóa thể chế chính trị, hòng làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hiệu lực quản lý của Nhà nước hướng đến mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Được sự hậu thuẫn của Mỹ và phương Tây, các đối tượng phản động lưu vong triệt để lợi dụng danh nghĩa các NGO để lập các dự án “thúc đẩy dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”, móc nối, lôi kéo người trong các hội, nhóm chống đối ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện về “XHDS”, “cách mạng màu”, nổi lên là VOICE (“Sáng kiến lương tâm của người Việt hải ngoại”, Tổ chức ngoại vi của “Việt Tân”) câu kết với các NGO về dân chủ, nhân quyền nước ngoài tổ chức các khóa huấn luyện về “XHDS” cho số chống đối trong nước. Các nội dung được chúng chú trọng như kỹ năng lập dự án “XHDS”, kỹ năng móc nối, phát triển lực lượng, hình thành các hội, nhóm trá hình, kích động biểu tình, gây rối an ninh, kiến thức luật pháp, và cả cách đối phó với cơ quan an ninh. Đáng chú ý, “Việt Tân” đã xây dựng kế hoạch hình thành, phát triển hội, nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập, âm mưu khi lực lượng đủ mạnh sẽ công khai hóa các hội, nhóm, thành lập các tổ chức chính trị đối lập.

Số chống đối trong nước triệt để lợi dụng danh xưng “XHDS” để hoạt động chống đối. Chúng đã lập ra 292 hội, nhóm trên không gian mạng dưới vỏ bọc “XHDS” với hơn 2.000 thành viên ở hầu hết các tỉnh, thành phố, phát triển hầu hết các giai tầng xã hội, như trí thức, văn nghệ sĩ (như “Văn đoàn độc lập Việt Nam”; “Hội nhà báo độc lập”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Liên danh vì công lý”…); cán bộ hưu trí, lão thành cách mạng (“Câu lạc bộ Trí thức”, “Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng”); thanh niên, sinh viên (“NO-U FC”, “Hoang Sa FC”, “Mạng lưới blogger Việt Nam”, “Diễn đàn sinh viên Việt Nam”…); công nhân, nông dân (“Công đoàn độc lập”, “Hội dân oan”, “Cứu lấy dân oan”); đối tượng chống đối (“Hội cựu tù nhân lương tâm”, “Hội những người bị cấm xuất cảnh”); giáo dân (“Cộng đoàn doanh trí Công giáo”, “Hội đồng liên tôn Việt Nam”, “Truyền thông Công giáo”…)… nhằm tranh giành quần chúng, lôi kéo công nhân, nông dân để tiến hành các hoạt động chống phá.

2. Hoạt động lợi dụng “XHDS” để tuyên truyền chống phá Việt Nam được tiến hành thông qua nhiều phương thức.

Các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là Internet, mạng xã hội để truyền bá vấn đề “XHDS” vào xã hội ta. Một số tổ chức quốc tế, NGO nước ngoài, các tổ chức phản động lưu vong mở các chuyên mục về “XHDS” trên các trang web của mình để tuyên truyền quảng bá về cái gọi là “XHDS”. Một số trang thông tin điện tử do các đối tượng chống đối ở trong nước thiết lập cũng không ngừng truyền bá đề cao, tuyệt đối hóa vấn đề “XHDS”, cổ vũ cho việc mở rộng, phát triển “XHDS”. Các thế lực thù địch bên ngoài câu kết với số đối tượng chống đối ở trong nước, số phần tử trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, đối lập thông qua hệ thống phương tiện thông tin đại chúng, lợi dụng các vấn đề xã hội phức tạp, vấn đề dư luận quan tâm để tuyên truyền kích động gây áp lực dư luận nhằm thay đổi chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, thay đổi pháp luật theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi định hướng xã hội chủ nghĩa, mở đường cho sự hình thành “XHDS” theo tiêu chí xã hội tư bản.

Thông qua hợp tác về giáo dục, đào tạo, các dự án truyền thông, các thế lực truyền bá mô hình “XHDS” tư bản phương Tây vào Việt Nam. Các lực lượng thiếu thiện chí ở Mỹ triệt để lợi dụng hợp tác song phương, mở rộng các chương trình, dự án, tài trợ học bổng… để thâm nhập, tác động chuyển hoá đội ngũ cán bộ trẻ, trí thức, thanh niên, học sinh, sinh viên nhằm truyền bá giá trị “dân chủ, nhân quyền”, “XHDS” theo tiêu chí của họ (như các chương trình học tập, tham quan, nghiên cứu mà Đại sứ quán Mỹ triển khai “Khách tham quan quốc tế” (IVP), “Khách tham quan tình nguyện” (VVP), “Viết văn quốc tế” (IWP), Humphey, Fulbright…).

Các thế lực xấu truyền bá, lôi kéo một bộ phận quần chúng hình thành các phong trào xã hội, gây dựng tâm lý phản kháng mang màu sắc “XHDS” chính trị đối lập, hình thành “làn sóng chống đối ngầm” trong các tầng lớp xã hội, từ đó hướng đến phát triển, nhân rộng cái gọi là “phong trào dân chủ”, “phong trào bất đồng chính kiến”, kích động các hoạt động khiếu kiện, đình công, biểu tình. Hướng lái các hoạt động phản biện chính sách, phản biện xã hội nhằm hình thành các phong trào chống đối chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội phức tạp, khoét sâu các mâu thuẫn xã hội kích động, tổ chức một bộ phận quần chúng biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, như nhóm kích động khiếu kiện Dương Nội do Cấn Thị Thêu cầm đầu, hậu thuẫn “Tổ đồng Thuận” do Lê Đình Kình cầm đầu, kích động số cực đoan trong tôn giáo hoặc các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, cơ sở thờ tự…

Một thực tế đáng chú ý, khái niệm “XHDS” gần như hoàn toàn bị các thế lực thù địch, số chống đối trong nước hướng lái theo cách hiểu thoát ly khỏi sự quản lý của nhà nước. Không ít người có những ngộ nhận sai lầm về bản chất của “XHDS”, chưa nhận thức một cách đầy đủ về âm mưu, hoạt động và tính chất thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch lợi dụng cái gọi là “XHDS” vào hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ.

3. Thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ triệt để lợi dụng những kẽ hở của luật pháp (Luật về hội, Luật về hoạt động trên không gian mạng), lợi dụng khoa học công nghệ và sự hậu thuẫn của chính giới Mỹ, các nước phương Tây để tiếp tục tuyên bố thành lập các hội, nhóm chống đối, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tổ chức các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Việc đấu tranh, ngăn chặn âm mưu lợi dụng “XHDS” để hoạt động chống phá cần sự vào cuộc của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng xã hội. Hệ thống truyền thông, các cơ quan trong hệ thống chính trị cần thường xuyên truyền thông nâng cao nhận thức trước hết cho cán bộ, đảng viên đủ sức “đề kháng”, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nâng cao nhận thức kỹ năng nhận diện lợi dụng “XHDS” nhất là của cộng đồng trên mạng xã hội; thường xuyên vạch trần, phản bác các quan điểm xuyên tạc về bản chất “XHDS” của các thế lực thù địch, phản động. Các tổ chức chính trị – xã hội các cấp cần làm tốt công tác dân vận, đi sát đi sâu gắn bó với các giai tầng xã hội, thể hiện vai trò là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân, giúp người dân hiểu rõ các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, có đủ kỹ năng nhận diện và góp phần làm thất bại các âm mưu lợi dụng “XHDS” hoạt động chống phá…/.

Đừng cố tình bóp méo vấn đề dân chủ ở Việt Nam!

Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên thời gian qua, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng công nghệ hiện đại và cơ chế lan truyền để tung ra các thông tin xuyên tạc, sai trái về vấn đề dân chủ ở Việt Nam, gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với đời sống xã hội, trong đó có quan điểm cho rằng “một Đảng lãnh đạo sẽ không thực sự có dân chủ!”.

Những luận điệu của các thế lực thù địch ngày càng bộc lộ đầy đủ nhất những ý đồ chính trị đen tối nhằm tạo cớ cho sự hình thành các tổ chức chính trị phản động đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình” với kịch bản gây bất ổn chính trị – xã hội đi đến bạo loạn, lật đổ. Chúng tập trung tuyên truyền chống phá vấn đề dân chủ về cả lý luận và thực tiễn.

Về lý luận, các luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về dân chủ khi cho rằng, quan điểm Mác-Lênin về dân chủ là sai lầm ngay từ “gốc”, từ việc lựa chọn thế quan duy vật, dựa trên nguyên lý nhất nguyên trong triết học dẫn tới một đảng phái đại diện cho một giai cấp về thể chế chính trị, một đảng lãnh đạo nên không tạo ra cơ sở khách quan cho việc thực hành và phát huy dân chủ. Từ đó, chúng cho rằng Việt Nam chỉ có thể có dân chủ khi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập (!).

Về thực tiễn, chúng cho rằng, Việt Nam duy trì chế độ một đảng sẽ đồng nghĩa với độc tài, không có tiếng nói đối lập sẽ cản trở quá trình phát triển của đất nước, chỉ có thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì Việt Nam mới có dân chủ thực sự, xã hội Việt Nam mới sánh kịp được với các quốc gia khác trên thế giới, mới có thể phát triển (!).

Vậy, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” có phải lựa chọn duy nhất để có dân chủ thực sự và phát triển xã hội ở Việt Nam hay không?

Thực tiễn lịch sử phát triển của các nước trên thế giới cho thấy, việc thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ thực sự hay không có dân chủ thực sự.

Dân chủ là một phạm trù có tính lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ đều gắn với nhà nước nhất định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn lịch sử tương ứng. Bởi “quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”[1]. Mỗi quốc gia có những đặc thù về trình độ phát triển, về kinh tế, về chính trị, về lịch sử…, do đó sẽ có những nền dân chủ khác nhau. Chính những điều kiện lịch sử đó quy định xu hướng dân chủ chứ không phải là cơ chế đa nguyên hay nhất nguyên, đa đảng hay một đảng quy định.

Vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là vấn đề mới, nó xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã bàn đến sự đa nguyên về sự khởi nguyên của thế giới, sau đó vấn đề này được các nhà tư tưởng vận dụng trong phân tích về đa nguyên trong chính trị. Đến thời kỳ cận đại, khi giai cấp tư sản lên cầm quyền, vấn đề đa nguyên chính trị được luận bàn một cách phổ biến. Thế giới quan của chủ nghĩa đa nguyên là phủ nhận tính thống nhất của thế giới vật chất, cho rằng thế giới là sự kết hợp của các nguyên thể, các yếu tố, nhưng đã được cường điệu, thổi phồng cái riêng. Chủ nghĩa đa nguyên dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và cho đó là mẫu hình các nước phải tuân theo. Họ chủ trương xây dựng và quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức này quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Chính vì vậy, “Nếu chủ nghĩa đa nguyên được áp dụng vào chủ nghĩa xã hội thì sẽ dẫn đến nguy cơ phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản, hạ thấp đảng thành một tổ chức xã hội bình thường. Nó đối lập hoàn toàn với lý luận đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Trong thực tiễn, việc một quốc gia thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với việc quốc gia đó sẽ có dân chủ, sẽ phát triển. Điều này đã được chứng minh trên thực tế, có những quốc gia thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhưng vẫn thuộc nhóm nghèo nhất thế giới, chính trị xã hội thì bất ổn. Ngược lại, có những quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng vẫn là một nước phát triển về kinh tế, chính trị – xã hội ổn định, đời sống nhân dân được no ấm. Điều đó nói lên rằng: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là cứu cách, là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của đất nước như các luận điệu sai trái, xuyên tạc rêu rao. Thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không đồng nhất với việc đưa đất nước phát triển, đời sống nhân dân được no ấm. Mặc khác, việc lựa chọn chế độ chính trị và mô hình phát triển đất nước còn phụ thuộc vào thực tiễn lịch sử, điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia.

Mặc dù bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về Nhân dân, là quyền lựa chọn của Nhân dân, nhưng các thế lực thù địch lại cho rằng: “nền dân chủ tư sản được sản sinh ở Phương Tây được tạo ra là để áp dụng trên khắp thế giới”. Điều này cho thấy, chính họ rêu rao về dân chủ nhưng không hề tôn trọng những nguyên tắc sơ đẳng nhất của dân chủ.Lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó, nên các giá trị của dân chủ phải được hình thành từ thực tiễn lịch sử. Hơn nữa, thực tiễn luôn biến đổi nên không bao giờ có một giá trị vĩnh hằng, càng không có chân lý áp dụng cho mọi quốc gia. Một mặt họ rêu rao, truyền bá quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với lí lẽ là để có tiếng nói đa dạng, có tính đối trọng kiềm chế lẫn nhau, nhưng mặt khác, chính họ lại tuyên truyền cho sự độc tôn, tuyệt đối của nền dân chủ tư sản, coi đó như một “khuôn mẫu lý tưởng” mà không muốn có sự hiện hữu của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chỉ riêng điều này đã cho thấy, sự tuyên truyền về dân chủ của các quan điểm sai trái, thù địch chỉ là giả hiệu với mục đích đen tối, không vì quyền dân chủ thực sự của nhân dân mà vì những toan tính, mưu đồ phá hoại, lật đổ!

Cần phải khẳng định rằng, dù các thế lực thù địch sử dụng mạng xã hội hòngáp đặt, vu khống đến đâu thì cũng không thể phủ nhận một thực tế rõ ràng là: Việt Nam “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân”[2]. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và từ thực tiễn đời sống xã hội.

Do đó, một nền dân chủ thực sự chỉ được quyết định bởi “bản chất cách mạng của đảng cầm quyền”, đảng đó đại diện cho lợi ích của ai và có nhận được sự ủng hộ của số đông dân chúng đối với sự cầm quyền ấy hay không,sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế !


[1]C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 1995, t.19, tr.36.

[2]Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2021, tr.38.

Anh Đặng