Thứ Tư, 20 tháng 10, 2021

Người đặt nền móng cho Chủ nghĩa Mác-Lênin bén rễ vào cách mạng Việt Nam

    Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, lại tận mắt chứng kiến cảnh thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành tuy rất khâm phục các bậc tiền bối, song anh quyết định ra đi tìm con đường cứu nước mới. Anh đã sang châu Âu, đến các nước Pháp, Anh, nơi chủ nghĩa tư bản tự cho mình là trung tâm kinh tế, văn hóa thế giới, có sứ mệnh “khai hóa cho các nước chậm phát triển”, để xem các nước ấy “làm ăn” như thế nào, cái gì ẩn chứa đằng sau khẩu hiệu “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào ta đấu tranh giải phóng dân tộc.

    Trải qua gần 10 năm bôn ba, nhờ tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tận mắt chứng kiến những biến động xảy ra ở trời Âu và tội ác của giai cấp bóc lột ở nhiều nước trên thế giới; với sự cầu thị, ham học hỏi, vốn sống, kinh nghiệm đã tích lũy và trình độ ngoại ngữ ngày càng thông thạo, Nguyễn Ái Quốc đã có thêm những nhận thức mới.

    Nguyễn Ái Quốc đã rút ra những nhận xét, kết luận hữu ích, tìm thấy những tinh hoa tốt đẹp cần tiếp thu và cả những gì là hạn chế, bất cập cần phải khắc phục. Vì thế, tình yêu quê hương, ý thức dân tộc và giai cấp ở Nguyễn Ái Quốc từng bước phát triển; các mối quan hệ được mở rộng; ý thức đoàn kết, hợp tác quốc tế được nâng cao.

    Đó là hành trang cần thiết để Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản chân chính. Năm 1920, Người đã đọc được Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo).

    Bản Luận cương là lời giải đáp đầy đủ, sâu sắc và thuyết phục nhất đối với Người về những câu hỏi mà bấy lâu trăn trở, tìm tòi, khát vọng tìm kiếm. Người viết: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(1).

    Tiếp nhận thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp khoa học của bản Luận cương Lê-nin là luồng sinh khí mới, lại tích cực tham gia hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản.

    Đó là bước nhảy vọt về chất trong nhận thức của Người, là một sự kiện đặc biệt trọng đại, có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, quyết định tầm nhìn, quan điểm, lập trường; sự lựa chọn con đường cứu nước, cứu dân của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là sự hội tụ, kết tinh ý chí, khát vọng và là tinh thần của cả một dân tộc; phản ánh tâm nguyện của nhiều bậc tiền bối, các sĩ phu yêu nước nhưng chưa có điều kiện thực hiện.

    Ngoài việc công khai phát biểu ý kiến khẳng định vai trò tiên phong của lý luận khoa học và sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và quần chúng nhân dân lao động, Nguyễn Ái Quốc còn kêu gọi Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề thuộc địa. Để vạch mặt và tố cáo tội ác của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa và xuất bản Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) do Người trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

    Với sự ra đời của tờ báo ấy, việc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và các dân tộc thuộc địa ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn. Từ đây, tư tưởng giải phóng con người, nhất là giải phóng nhân dân các nước thuộc địa ở Hồ Chí Minh đã hình thành rõ nét và không ngừng phát triển; được truyền bá ngày càng sâu rộng vào các nước thuộc địa, được dân chúng đón nhận và đi theo.

    Tiếp cận và hiểu đầy đủ, sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng Chủ nghĩa Mác-Lênin, giá trị và ý nghĩa Cách mạng Tháng Mười Nga diễn ra trong thời gian Nguyễn Ái Quốc công tác, học tập ở Liên Xô (1923-1924), tham dự Hội nghị Quốc tế Công hội đỏ.

    Sau đó, Nguyễn Ái Quốc vào học lớp bồi dưỡng lý luận tại Trường Đại học Phương Đông. Tại quê hương của Lê-nin vĩ đại, Người đã nhiều lần phát biểu ý kiến ca ngợi Lê-nin, ca ngợi thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và kết quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.

    Người đã nghiên cứu bộ sách "Tư bản" của C.Mác và "Chính sách kinh tế mới" của Lê-nin, cùng với đó, tham khảo những bài học kinh nghiệm về cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước xô viết và viết tác phẩm "Nhật ký chìm tàu" để tuyên truyền giá trị, ý nghĩa của Chủ nghĩa Mác-Lênin, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Người đã rút ra kết luận: Việt Nam muốn giành độc lập dân tộc không có con đường nào khác là phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Lênin.

    Nguyễn Ái Quốc đã tới Quảng Châu (Trung Quốc), ở đó, Người đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, ra Báo Thanh niên và mở lớp đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Người khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu, học tập lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(2). Đồng thời, chỉ ra nhiệm vụ cấp bách của người cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc.

    Có thể nói rằng, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp Người phân tích, tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới, tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định những nội dung cốt lõi của Chủ nghĩa Mác-Lênin và nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu và truyền bá sâu rộng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và quảng đại quần chúng nhân dân. Các văn kiện đó đã trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta.

    Tổng kết kinh nghiệm, thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ, thắng lợi của chúng ta, trước hết là nhờ có vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người coi Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là “cái cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam cho hành động, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Vì lẽ đó, Người đánh giá rất cao cống hiến vĩ đại của Lê-nin đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa. 

  

Bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin

    Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng chỉ là một nhà yêu nước như bao nhà yêu nước khác ở Việt Nam đầu thế kỷ 20: Chung một khát vọng giải phóng dân tộc, mong muốn giành lấy tự do, độc lập nhờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài.

    Nếu không đọc Luận cương của Lê-nin, chưa đến được với Chủ nghĩa Lê-nin, chưa trở thành người cộng sản chân chính thì quan điểm, tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa thể tạo ra bước ngoặt cách mạng, không có điều kiện để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và do đó, Người không thể đặt nền móng cho tư tưởng mác-xít đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa kết trái trên quê hương Tổ quốc Việt Nam.

    Chính Chủ nghĩa Mác-Lênin đã trang bị cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để Người tìm ra con đường cứu nước mới, đưa Người vượt lên phía trước mọi thiên kiến hẹp hòi, khắc phục căn bản sự khủng hoảng về chính trị, sự bế tắc về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, “gieo mầm cộng sản” trên quê hương Việt Nam.

    Sự phát triển tư tưởng mác-xít ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là kết quả tất yếu của quá trình xâm nhập, thẩm thấu Chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, gắn liền với công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; nhờ đó mà tư tưởng yêu nước gắn liền với tư tưởng quốc tế vô sản.

    Mục tiêu cứu nước, cứu dân ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 được dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, vũ trang lý luận cho con đường đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, giúp họ thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

    Rõ ràng, với việc trang bị thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho đội ngũ cán bộ cốt cán ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã giúp họ hòa nhập vào cách mạng thế giới, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng mácxít-lêninnít kiểu mới, đội tiên phong của giai cấp công nhân, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.

    Từ đây, tinh thần “biện chứng pháp” của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thể hiện sâu sắc trong các văn kiện, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng. Các văn kiện thành lập Đảng như Chính cương vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi thảo và các nghị quyết của Đảng ta soạn thảo từ năm 1930 đến nay đều thể hiện tinh thần sống động của Chủ nghĩa Mác-Lênin, thấm nhuần sâu sắc giá trị khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học.

    Những điều nêu trên đã giải nghĩa sâu sắc lý do vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, nhất quán với lập trường, quan điểm lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; vì sao chúng ta phải kiên định, trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong bối cảnh mới; không được mắc sai lầm trong nhận thức, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam sao cho phù hợp.

    Đó cũng là điều giải thích rõ ràng vì sao bên cạnh Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Vì sao Bộ Chính trị khóa XII lại ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với mục tiêu và ý nghĩa là phải bảo vệ bằng được thành trì lý luận chính trị của Đảng, bảo đảm cho kim chỉ nam của Đảng luôn chỉ đúng hướng và ngày càng chi phối, thấm sâu vào tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên và đời sống tinh thần xã hội.

 


Virus SARS-CoV-2 tiếp tục đột biến có nguy hiểm?

    Các hãng dược phẩm đang nghiên cứu điều chỉnh vắc xin Covid-19 để đối phó với những biến thể mới của SARS-CoV-2 hiệu quả hơn.

    Đại dịch Covid-19 có xu hướng giảm trên toàn thế giới với số ca nhiễm mỗi ngày từ hơn 600.000 ca (giữa tháng 8) xuống còn hơn 400.000 ca hiện nay. Thêm vào đó, số người được tiêm chủng ngày càng tăng cao. Hiện có 36,6% dân số toàn cầu đã tiêm đủ 2 mũi vắc xin. Các nước đều kỳ vọng đại dịch sẽ nhanh chóng suy giảm.

    Tuy nhiên, điều này phụ thuộc rất nhiều vào chính virus SARS-CoV-2. Virus không tĩnh. Virus đột biến. Delta, biến thể của SARS-CoV-2, đang lan tràn ở khắp các quốc gia, có thể lây truyền gấp hơn 2 lần so với chủng xuất hiện ở Vũ Hán, Trung Quốc. 

    Trong những tuần gần đây, các nhà khoa học cho biết dường như virus SARS-CoV-2 vẫn còn cơ hội để tiến hóa.

    Họ đang theo dõi hàng chục nhánh trong dòng virus Delta, mỗi nhánh có một loạt đột biến hơi khác nhau. Một trong những nhánh đó đã lan truyền với tốc độ bất thường ở Vương quốc Anh gần đây.

    Cho đến nay, không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy bất kỳ nhánh phụ nào của Delta đã tiến hóa thành các biến thể mới, nguy hiểm hơn.

    Tuy nhiên, nhà dịch tễ William Hanage khẳng định: “Sẽ thật ngốc nghếch nếu nghĩ virus đã hết nguy hiểm bởi nó sẽ tiếp tục tiến hóa”.

    Joel O. Wertheim, nhà sinh vật học tại Đại học California (Mỹ), người nghiên cứu cách thức tiến hóa của virus, cho biết: “Bạn không thể đoán trước được tương lai - sinh học quá phức tạp”.

    Vào giai đoạn đầu của đại dịch, giới chuyên môn cho rằng virus SARS-CoV-2 không đột biến nhiều, chắc chắn không lan truyền như bệnh cúm.

    Nhưng virus đã khiến các chuyên gia ngạc nhiên. Bette Korber, nhà sinh học lý thuyết tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, đã xác định được sự thay đổi đáng kể đầu tiên của virus. Bà đã xem xét kỹ lưỡng bộ gene của các mẫu virus từ khắp các nước và nhận thấy một đột biến, được gọi là D614G, đã trở nên phổ biến ở hàng chục nơi.

    Hiện nay, không ai nghi ngờ rằng virus SARS-CoV-2 có khả năng phát triển nhanh chóng và nguy hiểm khi lây lan trong cộng đồng. “Virus này còn một không gian rất rộng lớn để tiến hóa”, bà Korber nói.

    Virus SARS-CoV-2 có thể thay đổi theo hai cách cơ bản. Đầu tiên, virus trở nên dễ lây lan bằng cách liên kết tốt hơn với các thụ thể trong mũi, tái tạo nhanh hơn khi xâm nhập vào cơ thể hoặc trở nên hiệu quả trong việc truyền qua khí dung.

    Thứ hai, virus có thể làm mất khả năng miễn dịch của cơ thể. Nhiều đột biến làm thay đổi protein gai trên bề mặt của virus khiến kháng thể khó nhận biết. 

    Hầu hết các đột biến đều có hại cho virus hoặc không có tác dụng. Nhưng một phần rất nhỏ giúp xuất hiện một biến thể mới.

    Các nhà khoa học cho biết nghiên cứu của họ củng cố nhu cầu tiêm chủng rộng rãi và nhanh chóng. Có quá nhiều virus đang lưu hành. Đột biến là một trò chơi số. Virus càng có nhiều cơ hội đột biến, càng có nhiều khả năng tạo ra một biến thể thích nghi tốt hơn.

    Alpha có khả năng lây truyền cao hơn 1,5 lần so với các dạng virus trước đó. Sau đó đến Delta. Lần đầu tiên được xác định ở Ấn Độ, ban đầu biến thể này ít có tác động ở Mỹ với 1% các ca nhiễm mới vào đầu tháng 5. Nhưng đến tháng 7, Delta chiếm ưu thế và đến tháng 8, gần như xóa sổ tất cả các đối thủ cạnh tranh.

    Virus có nguy cơ gây chết người nhiều hơn khi tiến hóa, có một số bằng chứng cho thấy Delta có nhiều khả năng gây bệnh nặng. Nhưng điều ngược lại cũng đúng: Virus có thể suy yếu dần theo thời gian.

    Mối nguy lớn nhất của các biến thể mới là ảnh hưởng như thế nào đến vắc xin Covid-19. Các nhà khoa học đánh giá, đến nay, không có bằng chứng nào cho thấy biến thể Delta đang phát triển thành một dạng né tránh vắc xin.

    Bởi vậy, để giảm lo ngại về sự tiến hóa của virus, các nước nên đẩy nhanh việc tiêm chủng. Một số nhà sản xuất vắc xin đang chuẩn bị các công thức tùy chỉnh, dành riêng cho từng biến thể. Pfizer-BioNTech điều chỉnh một dạng vắc xin của mình để nhắm mục tiêu vào protein gai của biến thể Delta nhưng chưa thử nghiệm trên người.

 


Đường Hồ Chí Minh trên biển - 'Huyền thoại và tương lai'

    Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021), tối 20/10, tại Hà Nội, Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội chủ trì tổ chức Chương trình giao lưu nghệ thuật “Huyền thoại và Tương lai”.

    Dự chương trình có các Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN.

    Cùng dự có Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Tuyên giáo Trung ương; Thượng tướng Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị của Bộ Quốc phòng.

    Thông qua nhiều câu chuyện xúc động, những tình tiết và góc nhìn mới, chương trình “Huyền thoại và Tương lai" nhắc nhớ cho thế hệ trẻ về chiến công của những con người quả cảm, can trường với ý chí và nghị lực phi thường, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ con đường, bến đỗ của những con tàu không số, đóng góp vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tiếp tục khẳng định tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ máu thịt giữa hậu phương và tiền tuyến không thể tách rời bởi "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một".

    Chương trình gồm hai phần chính. Phần một với chủ đề “Huyền thoại” là những câu chuyện xúc động, với tình tiết và góc nhìn mới về chiến công của những con người quả cảm, sẵn sàng hy sinh, bảo vệ bí mật cho tuyến đường, bến đỗ của những con tàu không số, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    Trong phần một, khán giả được nghe chia sẻ của các nhân chứng, chuyên gia để có cái nhìn khái quát về việc hình thành Đường Hồ Chí Minh trên biển, tầm vóc và ý nghĩa của con đường. Mặc dù đã có rất nhiều hy sinh mất mát, nhưng sự can trường chảy trong dòng máu của những thủy thủ tàu không số chưa một phút giây ngưng nghỉ. Đây là một yếu tố quan trọng góp phần đưa đến thành công của Đường Hồ Chí Minh trên biển.

    Trong suốt 14 năm, đã có 1.789 chuyến tàu không số, vận chuyển hơn 150.000 tấn hàng và 80.000 lượt cán bộ, chiến sỹ. Dù đã có nhiều lần chạm trán với địch, chiến đấu và phải phá hủy tàu, song những tổn thất về hàng chỉ khoảng 7%, nghĩa là 93% hàng tới đích. Điều này vượt qua cả sự kỳ vọng của chính những người hoạch định ra con đường này.

    Phần hai với chủ đề “Tương lai” là những câu chuyện, tiết mục thể hiện sự tiếp nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai: Trước, dựa vào biển để chiến đấu; nay, dựa vào biển để tiếp tục bảo vệ, phát triển, dựng xây đất nước. Những chiến công của Đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành huyền thoại - động lực thôi thúc thế hệ ngày nay phát huy truyền thống, xây dựng đất nước, góp phần thực hiện chủ trương đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng. Tròn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày Đường Hồ Chí Minh trên biển được mở. Tầm vóc, ý nghĩa lịch sử và những bài học được rút ra đã tiếp thêm sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với những người chiến sỹ và các lực lượng chuyên trách giữ biển hôm nay, tinh thần mưu trí, lòng quả cảm, lý tưởng cách mạng của thế hệ cha anh luôn là tấm gương sáng để noi theo, kế thừa và phát triển. Cùng với những phóng sự và phần giao lưu với khách mời, trong chương trình còn có các tiết mục ca múa nhạc đặc sắc, xúc động như: “Linh thiêng Việt Nam”, “Những con tàu huyền thoại”, “Thuyền và biển”, “Sức sống Trường Sa”, “Hào khí Việt Nam”, hoạt cảnh “Người lính và những hải trình sóng gió”...

 

Nhiều địa phương xuất hiện F0, có ca cộng đồng

    Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa đều phát hiện các ca mắc mới, trong đó Thanh Hóa có 17 ca Covid-19 cộng đồng. Các địa phương còn lại ca mắc chủ yếu là công dân trở về từ phía Nam và được cách ly từ trước.

    Hà Nam: 19 F0 mới

    Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam vừa công bố 19 trường hợp có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 trong ngày 19/10

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam, ngày 20/10, trên địa bàn tỉnh Hà Nam ghi nhận 19 trường hợp có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2, trong đó có 18 bệnh nhân có địa chỉ tại thành phố Phủ Lý, một bệnh nhân ở xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm.

    Nam Định: Phát hiện 3 ca dương tính SARS-CoV-2

    Trong ngày 19/10, tỉnh Nam Định ghi nhận 3 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2. Đồng thời, thực hiện 12.775 mẫu xét nghiệm (Trong đó, Huyện Ý Yên thực hiện 12.257 mẫu xét nghiệm). 

    Thanh Hóa: Ca mắc cộng đồng tăng vọt

    Thông tin từ Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) Thanh Hóa, trong 24h qua, địa phương này ghi nhận 25 ca mắc Covid-19, trong đó có 17 ca cộng đồng. Trong ngày, Thanh Hóa có thêm 8 bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh.

Tính từ ngày 27/4 đến nay, Thanh Hóa ghi nhận 752 ca mắc Covid-19, có 499 người điều trị khỏi bệnh, 5 ca tử vong.

    Nghệ An: 29 F0, đã được cách ly từ trước

    Ngày 20/10, tỉnh Nghệ An ghi nhận 29 ca mắc Covid-19, tất cả được cách ly từ trước. Các ca bệnh từ phía Nam trở về chiếm số lượng chủ yếu với 22 trường hợp, 7 ca bệnh còn lại là F1 ở thành phố Vinh và huyện Nghi Lộc. Trong ngày có thêm 8 bệnh nhân Covid-19 ra viện, không có ca nào tử vong.

    Hà Tĩnh: 2 ca mắc được cách ly từ trước

    Trong ngày 20/10, Hà Tĩnh ghi nhận thêm 2 ca mắc Covid-19, tất cả đã được cách ly tập trung trước đó.

    Trong ngày, địa phương này có 369 người về từ vùng dịch các tỉnh phía Nam, tổng số người về từ 10/7 đến nay là 24.859 người.

    Từ 4/6 đến nay, Hà Tĩnh ghi nhận 508 ca mắc Covid-19, trong đó 451 ca đã khỏi bệnh ra viện, 51 bệnh nhân đang điều trị tại Hà Tĩnh, một bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, 5 ca tử vong.

    Quảng Bình: Triển khai tiêm vaccine cho người trên 50 tuổi

    Thông tin từ Trung tâm Chỉ huy phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh Quảng Bình, ngày 20/10, địa phương này chỉ ghi nhận 3 ca mắc Covid-19 mới, đều về từ các tỉnh phía Nam.

    Đến nay, Quảng Bình đã ghi nhận 1.873 ca mắc Covid-19, hiện có 1.794 ca đã điều trị khỏi, 73 người đang tiếp tục điều trị, 6 ca tử vong. Địa phương này cũng đã triển khai tiêm trên 280 ngàn mũi vaccine Covid-19, trong đó có hơn 55 ngàn người tiêm đủ 2 mũi.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN


          Kế thừa, tiếp thu, chọn lọc những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa ra tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân.Trong suốt quá trình tổ chức, xây dựng Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn coi trọng hai vấn đề cơ bản: một là. xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân; hai là, bộ máy nhà nước phải được tổ chức hợp pháp và hoạt động trên cơ sở hiến pháp.

          Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền của dân là nhà nước do nhân dân làm chủ, nhân dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực để xây dựng các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước pháp quyền do dân, tức là nhà nước đó phải do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình; nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước hoạt động; nhà nước do nhân dân phê bình và xây dựng, giúp đỡ. Mọi cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân, không có một ngoại lệ. Hồ Chí Minh khẳng định: “nước ta là nước dân chủ. Bao nhiều lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Và chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới có thể là nhà nước vì dân - phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính.

          Cũng theo Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đó pháp luật được đề cao. Nói cách khác, Nhà nước pháp quyền là nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ - trước hết phải là nhà nước hợp hiến; tiếp đó là nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trên thực tế. Trong một nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau mới bảo đảm cho chính quyền trở nên mạnh mẽ. Không thể có dân chủ ngoài pháp luật. Mọi quyền dân chủ của người dân nhất thiết phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế. Do đó, để tiến tới một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, theo Hồ Chí Minh, vấn đề căn bản cốt lõi là phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ, có đạo đức cách mạng trong sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Ngoại giao nước lớn

        

 (ngoại giao quyết đoán) một chiến lược ngoại giao được thực hiện ở một số nước lớn trong những năm qua.

Sức mạnh của ngoại giao nước lớn được tập trung vào 4 vấn đề cơ bản là: chủ động tận dụng các điều kiện quốc tế thuận lợi nâng ngoại giao kinh tế thành một kế hoạch tổng thể nhằm xây dựng một mạng lưới các hiệp định, thỏa thuận và thể chế để củng cố vị thế của họ; triển khai, trên quy mô lớn ngoại giao đa phương; xây dựng quân đội và nền quốc phòng hùng mạnh và coi đây là một phần quan trọng hướng tới chính sách thực dụng lẽ phải thuộc về kẻ mạnh trong các tranh chấp quan trọng và điểm nóng.

 

Cây gậy và củ cà rốt là một kiểu chính sách kết hợp ngoại giao với quốc phòng, quân sự. Nó thường được dùng bởi các nước lớn mạnh nhằm làm thay đổi hành vi của các nước nhỏ hơn. "Cây gậy'' tượng trưng cho sự đe dọa trừng phạt bằng quân sự, hoặc kinh tế. "Củ cà rốt" tượng trưng cho quyền lợi hay phần thưởng.

Mô hình Cây gậy và củ cà rốt hiện nay chắc  chắn sẽ không đứng vững nếu không được bổ sung những vấn đề mới từ thực tế cuộc sống. Nhân loại sẽ ngày càng dễ dàng nhận ra diện mạo thực sự của nó trong đời sống./.

KLM.Nh

PHAN THANH GIẢN ĐẠI DIỆN CHO TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN ĐẦU HÀNG THỰC DÂN PHÁP-TỘI BÁN NƯỚC LƯU DANH MUÔN THUỞ!

 “Phan-thanh-Giản ba lần dụ Trương-Ðịnh bãi binh, bốn lần làm môi giới cho Pháp đưa thư của giặc cho Trương và khuyên nhân dân không nên “bội nghịch” với giặc, vậy chúng ta có thể tặng hai chữ yêu nước cho Phan cả về mặt khách quan lẫn chủ quan được không?”


BÀI CỦA VIỆN SĨ TRẦN HUY LIỆU TỔNG KẾT CUỘC THẢO LUẬN VỀ PHAN THANH GIẢN

Lời của Tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử: Cho đến hôm nay, chúng tôi vẫn kế tiếp nhận được những bài của các bạn đọc gửi đến phê phán về Phan-thanh-Giản, nhưng những tài liệu và ý kiến cũng không có gì khác với những bài đã đăng. Chúng tôi rất hoan nghênh các bạn đã sốt sắng tham gia cuộc khảo luận, đặc biệt là những ý kiến đều hầu như nhất trí cả. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cuộc bình luận về Phan-thanh-Giản đến đây là kết thúc và chúng tôi đăng bài sau đây của đồng chí Trần-huy-Liệu có tính cách như một bài tổng kết.

Nhân vật lịch sử, qua Hồ-quý-Ly, Nguyễn-trường-Tộ, Lưu-vĩnh-Phúc cho đến Phan-thanh-Giản, không lần nào bằng lần này, những bạn tham gia cuộc thảo luận, mặc dầu có những khía cạnh khác nhau, nhưng về căn bản đều nhất trí ở chỗ kết án tội nhân của lịch sử. Trong những bài mà chúng tôi nhận được, có bài đăng nguyên văn, có bài trích đăng và một số bài xin miễn đăng, nhưng nhiều tác giả đã có những dẫn chứng giống nhau và hòa chung một thứ tiếng cáo giác người đã đóng vai “tích cực” trong việc làm mất ba tỉnh miền Ðông Nam-kỳ và sau đó là ba tỉnh miền Tây Nam-kỳ. Ðiều đáng chú ý là: trong quá trình thảo luận, hai bạn Chương-Thâu và Ðặng-huy-Vận, trong chỗ không ngờ, đã trở nên “đối tượng” cho một loạt súng bắn vào chỉ vì hai bạn còn có chỗ chưa “dứt khoát” về tình cảm với họ Phan! Một điều nữa cũng đáng chú ý là: trong số người gửi bài tới tham gia thảo luận lên án Phan-thanh-Giản có đông đủ cả các bạn miền Bắc và miền Nam. Thì ra, nếu chúng ta xuất phát từ một lập trường giống nhau thì chúng ta sẽ đi tới một kết luận giống nhau. Cuộc thảo luận này đã chứng minh như vậy. 

Là một người viết bài cuối cùng, tôi còn phải nói gì thêm nữa? Tôi không muốn nhắc lại những tài liệu mà các bạn đã dẫn ra và những ý kiến mà các bạn đã phát biểu; mà qua cuộc thảo luận, tôi muốn đề ra một vài nét lớn trong những điểm nhận định chung. 

Ðiều thứ nhất mà chúng tôi nhận thấy là: Trong khi bình luận một nhân vật lịch sử nào, chúng ta phải đặt người ấy vào hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Chúng ta không đòi hỏi những người sống xa thời đại chúng ta, không cùng một giai cấp với chúng ta, cũng phải có một lập trường tư tưởng như chúng ta. Nhưng để đánh giá họ, chúng ta chỉ cần xem tư tưởng và hành động của họ có phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của đông đảo nhân dân đương thời không? Có theo chiều hướng tiến lên của thời đại không? Ðối với Phan-thanh-Giản hồi ấy, chúng ta không đòi Phan phải thoát ly ý-thức-hệ của giai cấp phong kiến. Nhưng trong khi những nhân sĩ yêu nước trong giai cấp phong kiến và đông đảo nhân dân kiên quyết đánh Tây để giữ lấy nước, thà chết không làm nô lệ thì Phan trước sau vẫn theo chiều hướng đầu hàng, từ ký nhượng ba tỉnh miền Ðông đến ký nhượng ba tỉnh miền Tây. Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân. Tuy vậy, trong số các bạn tham gia thảo luận, vẫn còn có bạn không phủ nhận tội lỗi của Phan, nhưng vẫn muốn “giảm nhẹ tội cho Phan một bậc” [1] . Trước tòa án lịch sử, vị “trạng sư bất đắc dĩ” ấy viện cớ rằng: chủ trương đầu hàng không phải riêng gì họ Phan, mà là cả giai cấp phong kiến nói chung, mà người đứng đầu là vua Tự-đức, cũng như Nam-kỳ và toàn bộ đất nước bị mất vào tay giặc Pháp còn vì nhiều duyên cớ khác, đâu phải chỉ vì mấy chữ ký của Phan-thanh-Giản. Vậy chúng ta có muốn kết án thì phải kết án giai cấp phong kiến mà thủ phạm phải là Tự-đức. Còn Phan-thanh-Giản chỉ là tòng phạm thôi. 

Lời bào chữa của vị “trạng sư” kể trên có lý không, có đứng vững được không? Chúng ta không phủ nhận giai cấp phong kiến nhà Nguyễn hồi ấy đã hết sứ mạng lịch sử và đương đi theo chiều hướng thỏa hiệp và đầu hàng. Nhưng một sự thực mà chúng ta không được phép chối cãi là: trên bước đường phân hóa, chính trong giai cấp phong kiến lúc ấy cũng còn có phái chủ chiến và phái chủ hòa (nghĩa là phái đầu hàng). Chưa nói đến sự cơ lúc ấy: giặc Pháp mới để chân đến Nam-kỳ, các tầng lớp nhân dân đương hăng hái đánh giặc cứu nước; mà ngay chính Tự-đức, một tên vua phải đứng “trước vành móng ngựa” về tội làm mất nước ta, cũng từ chỗ lưng chừng đến chỗ đầu hàng, chớ chưa phải đã can tâm dâng nước cho giặc ngay từ đầu. Nếu ngày nay, trước từng sự kiện lịch sử phải tìm ra trách nhiệm, cái gì cũng đổ chung cho giai cấp phong kiến theo lối “hầm bà là” cả, vậy thì thế nào để phân biệt những người yêu Tổ quốc, theo chính nghĩa, giết giặc cứu nước với những kẻ hàng giặc dâng nước cho giặc? Làm thế nào để phân biệt những người giữ thành chết theo thành như Nguyễn-tri-Phương, Hoàng-Diệu, Nguyễn-thúc-Nhận v.v... với những người dâng thành hiến đất cho giặc theo kiểu Phan-thanh-Giản? Không. Chưa nói đến bản án lịch sử muôn đời; dư luận nhân dân đương thời biểu hiện trong tám chữ đề cờ của dân quân Tân-an Gò-công mà thủ lĩnh là Trương-Ðịnh cũng đã rõ ràng lắm. Nó kết án giai cấp phong kiến mà triều đình Huế là đại diện đã “bỏ dân” và kẻ trực tiếp phụ trách là Phan-thanh-Giản, Lâm-duy-Hiệp đã ký nhượng đất nước cho giặc. Dư luận nhân dân rất sáng suốt cũng như bản án rất công minh. Nếu vị “trạng sư” nào còn muốn bào chữa cho một bị cáo đã bị bắt quả tang từ non một trăm năm trước thì chỉ là tốn công vô ích! 

Nói cùng mà nghe, ngay đến Tự-đức, một người đứng đầu trong hàng ghế bị cáo, đã có than: “Theo họ thì có nước như không, đã chịu nhục mà đời đời bị vạ...” và khi nghe tin Phan-thanh-Giản, Lâm-duy-Hiệp ký nhượng ba tỉnh miền Ðông, đã phải nói: “hai tên kia không những là tội nhân của bản triều, mà còn là tội nhân của thiên cổ”... Thì ra, trên bước đường đầu hàng của giai cấp phong kiến nói chung, Phan-thanh-Giản còn bước mau, bước trước hơn Tự-đức và trước dư luận phẫn khích của nhân dân, Tự-đức cũng không dám thốt ra những câu nói ngược lại ý chí của họ. Như vậy, trong giai đoạn đau thương của Tổ quốc, kẻ làm mất nước ta là bọn phong kiến đầu hàng mà đứng đầu là Tự-đức. Nhưng trước từng sự kiện lịch sử, mỗi người lại có trách nhiệm riêng tùy theo cương vị của mình. Vị trạng sư nào ngụy biện đến đâu cũng không thể lập luận hồ đồ, đem giai cấp phong kiến và Tự-đức làm cái “bung xung” để che giấu tội lỗi của Phan-thanh-Giản đã dâng toàn bộ lục tỉnh Nam-kỳ cho giặc được! 

Ðiều thứ hai mà chúng tôi nhận thấy là: trong khi quy định trách nhiệm của Phan-thanh-Giản trước lịch sử, chúng ta đã phân tích rõ ràng với những án từ phân minh. Tuy vậy, còn có người viện những đức tính liêm khiết của Phan ra để mong được “chiếu cố” và “thông cảm”. Cũng có người còn cho Phan là một nhà ái quốc và thức thời, chỉ vì thương dân, muốn tránh nạn binh đao nên đã chủ trương hòa hiếu với giặc. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại điều kiện chủ quan và khách quan bấy giờ để chứng minh rằng: nếu vua tôi nhà Nguyễn biết dựa vào nhân dân để kiên quyết kháng chiến thì nước ta hồi ấy sẽ không bị mất; tôi chỉ nhấn mạnh vào cái quan niệm về đạo đức tư cách của con người thế nào cho đúng. Những người có lòng chiếu cố đến Phan-thanh-Giản chỉ mới nhìn vào tư đức của ông mà không nhìn vào công đức của ông. Ở vào thời thế nước ta hồi ấy, mỗi người công dân còn có cái đạo đức nào cao hơn là yêu nước thù giặc, hy sinh quên mình, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trái lại, còn có cái gì xấu hơn là theo giặc, chống lại cách mạng, phản lại quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Ðối với Phan-thanh-Giản, công đức như thế là đã bại hoại rồi; mà công đức đã bại hoại thì tư đức còn có gì đáng kể? Trong số các bạn tham gia thảo luận, có bạn còn viện những chứng cớ tỏ ra rằng ngay cả đến tư đức của ông cũng không có gì đảm bảo. Nói thế thôi. Ðiều này không quan trọng lắm. Chúng ta đánh giá con người của Phan không phải nhìn vào những đức tính thông thường, mà chính là nhìn vào tiêu chuẩn đối với dân, với nước của Phan. 

Ở đây còn một điểm phải trang trải nữa là Phan có yêu nước không? Những người thương Phan còn có cắt nghĩa rằng: Phan chủ trương sai lầm nhưng không phải không có lòng yêu nước. Thực ra, yêu nước không phải là một danh từ trừu tượng, mà phải biểu hiện một cách cụ thể. Trong lúc quân giặc bắt đầu dày xéo lên Tổ quốc, bao nhiêu văn thân nghĩa sĩ, hào lý cùng các tầng lớp nhân dân đều lao mình vào cuộc giết giặc cứu nước, bài phú “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh” vang lên, vậy mà riêng Phan-thanh-Giản ba lần dụ Trương-Ðịnh bãi binh, bốn lần làm môi giới cho Pháp đưa thư của giặc cho Trương và khuyên nhân dân không nên “bội nghịch” với giặc, vậy chúng ta có thể tặng hai chữ yêu nước cho Phan cả về mặt khách quan lẫn chủ quan được không? Phạm vi “yêu nước” cũng rất rộng, nhưng danh từ ái quốc không thể chứa một nội dung phản quốc. Một người đã có “thành tích” như Phan, dù ai muốn nhìn theo cách nào chăng nữa, cũng không thể lạm dụng hai chữ ái quốc để gắn vào một cách dễ dàng, vì như thế chẳng những hồ đồ trong việc nhận thức Phan mà còn làm nhòa nhoẹt cả ý nghĩa yêu nước nữa.

Ðiểm thứ ba mà tôi muốn nhấn mạnh vào là cái chết của Phan. Thật ra, với những hành động kể trên, nếu Phan không kết thúc bằng một cái chết khá “đặc biệt” thì có lẽ dư luận đối với Phan cũng không có gì phức tạp lắm vì hành động của Phan đủ nói lên Phan là người như thế nào rồi. Theo tôi, chủ trương của Phan đã dẫn Phan đến chỗ bế tắc mà chỉ có thể kết cục bằng một cái chết. Nói một cách khác, cái chết của Phan là tất nhiên, là rất biện chứng trong chỗ bế tắc của Phan. Tuy vậy, có người vẫn ca tụng Phan là không tham sống sợ chết. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại những cái “ngoắt ngoéo” trong giờ phút cuối của Phan mà nhiều bạn đã vạch ra để chứng tỏ là Phan không phải không tham sống sợ chết. Tôi chỉ đặt câu hỏi là: có những trang hào kiệt không tham sống sợ chết để làm nên một việc gì tốt đẹp thì cái tham sống sợ chết ấy mới có ý nghĩa; còn Phan-thanh-Giản nếu quả có không tham sống sợ chết chăng nữa thì để làm nên cái gì? Nói rằng Phan chết để giữ trọn tiết nghĩa chăng? Thì cái sống của Phan đối với dân, với nước đã mất hết tiết nghĩa rồi, còn nói gì đến chết. Nói rằng Phan là một tín đồ chăng? Thực ra, cái chết của Phan, khác với cái hy sinh của các bậc nghĩa liệt khác, không phải để giữ “đạo lành” cho đến chết, cũng chẳng phải liều chết để làm nên một điều “nhân” vì cái gọi là “đạo lành” là điều “nhân” lúc đó chính là giết giặc cứu nước, là theo nguyện vọng của nhân dân; trái lại là đạo dữ, là bất nhân, là phản bội. Thôi, chúng ta hãy làm một việc ngay thẳng là trả cái chết của Phan-thanh-Giản lại cho Phan-thanh-Giản, cái chết do chính “tác giả” tạo ra, qua một quá trình dài lâu dẫn đến chỗ không lối thoát. Dầu sao, cái chết của Phan cũng chỉ có thể chấm dứt con đường bế tắc của Phan, chớ không thể xóa được tội danh của Phan trước tòa án dư luận nhân dân và lịch sử. 

Ðiểm thứ tư mà chúng ta không thể bỏ qua được là: trong khi kết án Phan-thanh-Giản, chúng ta một mặt không để Phan trốn tránh trách nhiệm do Phan trực tiếp phụ trách; một mặt khác chúng ta không quên gắn liền Phan với triều đình Huế mà Phan là đại diện với giai cấp phong kiến mà Phan là tiêu biểu. Như mọi người đều biết, khi thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm nước ta thì cũng là lúc giai cấp thống trị tức giai cấp phong kiến nước ta đã hết nhựa sống, đương hãm vào thế bí. Do đó, trước nạn ngoại xâm, tư tưởng thỏa hiệp đầu hàng đã dần dần thấm vào tầng lớp trên của giai cấp phong kiến. Mặc dầu trong quá trình phân hóa còn có phái chủ chiến, nhưng tư tưởng đầu hàng vẫn ngày càng phát triển và trở nên tư tưởng chủ đạo của giai cấp phong kiến. Bị uy hiếp trước uy vũ của văn minh Tây phương, luận điệu cầu an của Phan-thanh-Giản nhắc lại chuyện cũ như “Hán Văn đế hòa với Hung-nô” hay “Tống Chân tôn hòa với Khiết-đan” đã nói lên tư tưởng của giai cấp thống trị bấy giờ một mặt thì tự kiêu, cho những nước bên ngoài đều là mọi rợ; trái lại, một mặt khác, lại tự ty sợ địch, dọn sẵn con đường đầu hàng. Thật thế, nếu triều đình Huế mà kiên quyết kháng chiến, Tự-đức không có những chỉ thị “nước đôi” thì Phan-thanh-Giản và Lâm-duy-Hiệp sẽ không dám tùy tiện dâng đứt ba tỉnh miền Ðông Nam-kỳ cho giặc. Chẳng những thế, sau khi Phan-thanh-Giản đã ký nhượng ba tỉnh miền Ðông, trước sự công phẫn của nhân dân, Tự-đức cũng đã phải kết án Phan, Lâm là “tội nhân của thiên cổ” nhưng rồi Phan vẫn là người tín nhiệm của triều đình Huế, được triều đình giao cho trọng trách, để rồi một lần nữa, dâng nốt ba tỉnh miền Tây cho giặc. Như thế Phan-thanh-Giản phải chịu trách nhiệm trực tiếp những việc mà ông đã làm, nhưng cũng quán triệt tinh thần và đường lối đầu hàng của triều đình Huế mà ông là đại diện. Ấy là chưa kể sau khi sáu tỉnh Nam-kỳ đã mất và Phan-thanh-Giản đã chết, triều đình Huế vẫn đi theo chiều hướng đầu hàng cho tới khi nước ta bị mất hoàn toàn về giặc Pháp. Như vậy, kết tội Phan-thanh-Giản phải gắn liền Phan với triều đình Huế và bản án Phan-thanh-Giản là nằm trong hồ sơ bản án hàng giặc bán nước của triều Nguyễn. 

Tóm lại, qua cuộc thảo luận, chúng ta đã thành công trong việc đánh giá Phan-thanh-Giản, một nhân vật có nhiều khía cạnh phức tạp. Xung quanh Phan-thanh-Giản còn “viền” nhiều sự việc khác của giai đoạn lịch sử chồng chất những sự biến phức tạp. Nếu chúng ta không nhằm vào khâu chính của sự vật, không dùng phương pháp khoa học để phân tích đặng nhận rõ người và việc thì không thể giải quyết được vấn đề. Sau khi đánh giá xong Phan-thanh-Giản, chúng ta sẽ chuyển sang một nhân vật lịch sử khác./.

8-1963

Giáo sư - Viện sĩ Trần Huy Liệu.

Yêu nước ST.


Ngoại giao pháo hạm!

 

Cho đến nay, trên thế giới đã xuất hiện nhiều mô hình về kết hợp đối ngoại với quốc phòng, an ninh.

Ngoại giao pháo hạm là một trong những mô hình kết hợp đối ngoại với quốc phòng, an ninh xuất hiện trong thời kỳ diễn ra các cuộc xâm chiếm thuộc địa trên thế giới  của các cường quốc Châu Âu (khoảng nửa sau thế kỷ 19). Trong thời kỳ này, các cường quốc Châu Âu thường cho tàu chiến neo đậu ngoài khơi các quốc gia mà họ muốn đe dọa và gây áp lực trong quá trình đàm phán các hiệp ước bất bình đẳng. Các quốc gia theo chủ trương này luôn lấy việc phô trương sức mạnh quân sự với mục đích đe dọa chiến tranh và thông qua đó nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách đối ngoại, như buộc quốc gia bị đe dọa phải nhượng bộ quyền lợi trong các vấn đề lãnh thổ hay thương mại./.

KML/Nh

Đối ngoại hòa hiếu của Việt Nam

 Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã đúc kết nên bài học kinh nghiệm quý báu về kết hợp đối ngoại với quốc phòng, an ninh tạo nên sức mạnh tổng hợp để giải phóng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Bài học quốc phú - binh cường - nội yên- ngoại tĩnh được thực hiện trong nhiều triều đại phong kiến. Đây được coi là là bốn trụ cột của "quốc thái dân an", "thái bình thịnh trị" của các triều đại phong kiến thịnh trị ở Việt Nam trải mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Lý Thường Kiệt đã khẳng định rằng, cùng với hoạt động quân sự thì đồng thời dùng "biện sỹ bàn hoà, không nhọc tướng ta, khỏi tốn máu mủ mà bảo an được tông miếu".

Trần Quốc Tuấn đã đúc kết: Hoà mục là một đạo rất hay cho việc trị nước, dùng binh; hoà ở trong nước thì ít dụng binh, hòa ở biên cương thì không sợ báo động.

Nguyễn Trãi coi trọng kết hợp giữa tác chiến với ngoại giao tâm công để đánh vào lòng địch. Những bức thư binh vận, địch vận của Nguyễn Trãi với những lý lẽ đầy sức thuyết phục là "vũ khí mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao", "có sức mạnh của 10 vạn quân".

Sau kết thúc thắng lợi những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, các triều đại phong kiến luôn chú trọng củng cố phên dậu, xây dựng binh cường, kết tình "giao hảo" khôn khéo, mềm dẻo để gìn giữ hoà bình, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, ngăn ngừa chiến tranh./.

KML/Nh

          

Tư tưởng của V.I.Lênin về nhận thức thời đại

 

V.I. Lê nin chĩ rõ rằng, chỉ khi nào các quốc gia, dân tộc thông qua, mở rộng không ngừng mặt trận đối ngoại, ngoại giao thì mới “xác định nội dung căn bản, phương hướng phát triển chính của thời đại ấy, những đặc điểm chủ yếu của bối cảnh lịch sử của thời đại ấy... thì mới có thể định ra đúng đắn sách lược” để đưa cuộc đấu tranh đến thắng lợi mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và giải phóng nhân loại.

Như vậy, việc nhận thức đúng thời đại là quy luật chung trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới. Giai cấp vô sản hay bất cứ gia cấp nào đều phải tuân thủ quy luật này nếu họ muốn giành thắng lợi./.

KML.Nh


Ủy ban Thượng viện Mỹ thông qua dự luật về Biển Đông

 

Ủy ban Thượng viện Mỹ thông qua dự luật về Biển Đông

Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã thông qua dự luật nhằm trừng phạt tổ chức, cá nhân của Trung Quốc tham gia các hoạt động liên quan tới tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Hãng tin Sputnik dẫn thông báo của Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Bob Menedez viết: “Trong cuộc họp hôm nay, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện đã thông qua dự luật trừng phạt về vấn đề Biển Đông và Biển Hoa Đông 2021. Tiếp theo, dự luật sẽ được trình lên Thượng viện”.

Trước đó, trang web của Thượng nghị sĩ Marco Rubio – Phó Chủ tịch Ủy ban Chọn lọc về Tình báo của Thượng viện, thành viên cấp cao của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện ngày 19/10 cho biết, dự luật trên sẽ trừng phạt các cá nhân, tổ chức của Trung Quốc tham gia các nỗ lực khẳng định các tuyên bố trái phép về chủ quyền đối với Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Thượng nghị sĩ Rubio viết: “Bắc Kinh và Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc là mối đe doạ lớn đối với sự tự do và rộng mở của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những rủi ro với lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia của Mỹ trong khu vực là có thật. Mỹ cần có các công cụ bổ sung để ứng phó với Trung Quốc khi Bắc Kinh tiếp tục nỗ lực khẳng định quyền kiểm soát bất hợp pháp đối với lãnh hải ở Biển Đông và Biển Hoa Đông".   

Theo Thượng nghị sĩ Rubio, việc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện thông qua dự luật "là một bước quan trọng đầu tiên", ông kêu gọi toàn thể Thượng viện "nhanh chóng thông qua dự luật này ”.

Cùng lúc, Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Ben Cardin - Chủ tịch Tiểu ban Đối ngoại Thượng viện nói: “Dự luật của chúng tôi gửi đi thông điệp lưỡng đảng mạnh mẽ rằng, Mỹ sẽ bảo vệ dòng chảy tự do hàng hải và thương mại, bảo vệ chủ quyền của các đồng minh và thúc đẩy giải pháp ngoại giao hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế".