Thứ Năm, 28 tháng 10, 2021

Già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay

 


Già hóa dân số: là thời kỳ quá độ chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già. Trong quá trình này tỷ trọng trẻ em trong dân số sẽ giảm dần và xuống thấp hơn so với tỷ trọng người già

Trong cơ cấu dân số trẻ: tỷ trọng người già 65+ thấp hơn 7,0%

Trong cơ cấu dân số già: Tỷ trọng người già chiếm từ 14% trở lên

Quá trình già hóa dân số: bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ chạm ngưỡng 10% hoặc khi tỷ trọng dân số 65+ chạm ngưỡng 7%

Thời kỳ dân số già:  bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ đạt ngưỡng 20% trở lên đến dưới 30%  (65+ đạt ngưỡng 14% trở lên đến dưới 21%)

Thời kỳ dân số rất già: bắt đầu khi tỷ trọng người 60+ đạt từ 30% trở lên (65+ đạt từ 21% trở lên)

Dân số Việt nam đang tăng chậm, nhưng sẽ đạt 100 triệu dân vào năm 2025. Từ năm 2011 tỷ lệ người 60 tuổi trở lên đạt tỷ lệ trên 10% tổng dân số và sẽ chạm ngưỡng 20% vào năm 2032. Quá trình già hóa dân số sẽ diễn ra trong khoảng 20 năm (từ 2012- 2032) là đạt ngưỡng dân số già, đến năm 2050 dân số Việt nam sẽ trở thành “siêu già”. Việt Nam có tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh, thời gian để chuyeẻn từ “già hóa dân số” sang “siêu già” mất khoảng 15-18 năm, ngắn hơn nhiều so với nhieèu nước, kể cả các quốc gia có trình độ phát trieẻn hơn. Pháp: 115 năm, Thủt Điển Mất 85 năm, Úc: 73 năm, Trung Quốc 26 năm (Trung quốc đến năm 2030 cứ 100 người có 25 người 65 tuổi trở lên), Nhật Bản: 26 năm. Việt Nam đang trong thời gian ngắn ngủi còn lại của cơ cấu dân số vàng

Tỷ trọng người già 65+  là 7,7% năm 2019 (có 7,4 triệu người già, đứng thứ 18 trong các nước có dân số già trên thế giới (khoảng từ năm 2012, tỷ trọng người gia 65+ bắt đầu vượt ngưỡng 7% dân số; ước tính đến năm 2035, có hơn 13 triệu người già; năm 2050 sẽ có hơn 21 triệu người già (từ 65+). Chỉ số già hóa cho thấy quá trình già hóa đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh)

 

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn cơ bản trong thời đại ngày nay

 


Đây là mâu thuẫn cơ bản, nổi bật xuyên suốt thời đại quá độ mang tính toàn cầu. Biểu hiện mới của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay thể hiện chủ yếu trên 2 mặt:

+ Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ cùng các thế lực phản động quốc tế tăng cường cấu kết chống phá hòng xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại bằng nhiều thủ đoạn, đặc biệt là thủ đoạn “diễn biến hòa bình” với cuộc đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới nhằm giữ vững và phát triển thành quả của chủ nghĩa xã hội.

+ Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và chủ nghĩa tư bản ra sức tận dụng quá trình toàn cầu hóa để thực hiện các mục tiêu chiến lược đối lập nhau. Đó là: chủ nghĩa tư bản sử dụng lợi thế về vốn, công nghệ, thông qua các hình thức đầu tư, hợp tác, viện trợ, chuyển giao công nghệ...thực hiện mưu đồ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Trong khi đó, các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam... cũng ra sức tận dụng toàn cầu hóa để thực hiện “rút ngắn” quá trình phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Từ đó dẫn tới hình thức mới của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là vừa hợp tác vừa đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa để giữ vững con đường phát triển.

Chính sách dân số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

 


- Quyết định số 216-CP (26/12/1961) về việc hướng dẫn sinh đẻ cho nhân dân

- Nghị quyết số 04-NQ/HNTW (14/01/1993) với trọng tâm là thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình “Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế- xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển vêg mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng này cư stiếp tục diễn ra tghì trong tương lai không xxa đất nước sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt” Vì vậy mục tiêu của chính sách dân số trong giai đoạn đó đã nhấn mạnh trọng tâm: “Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI. Tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo chuỷen biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này”

Nước ta đã đạt mức sinh thay thế khoảng năm 2005 (trước 10 năm so với mục tiêu đặt ra). Tuy nhiên mức sinh của ta có xu hướng tiếp tục giảm chậm trong những năm tiếp theo

Chẳng hạn: Quá trình này khó đảo ngượcdưới tác động của các yếu tố phát triển trong quá trình CNH-HĐH. Hiện nay 21 tỉnh/thành phố ở nước ta đang có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần thiết (các dấu hiệu về thiếu nguồn cung ứng lao động cho nhiều doanh nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ đã bắt đầu xuất hiện)

-Nghị quyết số 21-NQ/TW (25/10/2017), với mục tiêu: “ Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển” vơi 7 giải pháp đề ra. Bên cạnh đó chuyển trọng tâm chính sách dân số đòi hỏi công tác dân số phải cập nhật, phải tính đến các yếu tố “phát triển” về kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường…ngược lại, các kế hoạch phát triển cũng cần tính đến sự biến đổi nhanh về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số

- Đại hội XIII, định hướng “ tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; đảm bảo hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của người dân trong thực hiện chính sách dân số…Chăm lo phát triển về chất lượng, bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý…” (đưa lên màn hình)

- Chiến lược dân số Việt nam của chính phủ đến năm 2030 với 8 mục tiêu cụ thể…

Từ những văn kiện trên, có thể thấy rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm đến công tác dân số, luôn gắn dân số với phát triển, tất cả vì mục tiêu cuối cùng là vì sự phát triển của nhân dân

Những nội dung cơ bản của thời đại ngày nay

 


Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế họp năm 1957 và năm 1960 đã đưa ra nhận định về thời đại mới: “Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại. Là thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại chủ nghĩa đế quốc bị sụp đổ và hệ thống thuộc địa bị thủ tiêu, là thời đại ngày càng có thêm nhiều dân tộc tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa, là thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới”.

- Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 mở đầu cho thời đại mới.

+ Là cuộc cách mạng sâu sắc, triệt để giải phóng GCCN, nhân dân lao động ra khỏi tình trạng nô lệ, bất công, đưa nước Nga phát triển theo con đường XHCN. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cuộc cách mạng vô sản do GCCN và nhân dân lao động Nga tiến hành dưới sự lãnh đạo của Lênin và Đảng Bôn sê vích Nga. Cách mạng nổ ra là kết quả tất yếu từ sự chín muồi của những mâu thuẫn nội tại về kinh tế, chính trị, xã hội ở nước Nga.            

+ Là bước ngoặt lịch sử của nhân loại mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Đây là thắng lợi của chủ nghĩa Mác- Lê nin, chủ nghĩa XHKH trong thực tiễn.

Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ:“ Với thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, cuộc cách mạng vĩ đại mở ra thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH ”.

- Cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên phạm vi  thế giới.

+ HTKTXH XHCN ra đời và phát triển

+ Cuộc đấu tranh lật đổ ách áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị phản động, giải phóng giai cấp, dân tộc diễn ra rất mạnh mẽ, đang chứng minh các giá trị hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội...

+ Giai cấp công nhân đang đứng ở vị trí trung tâm của thời đại

- Sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa.

HTKTXH Tư bản chủ nghĩa đã tỏ ra lỗi thời, lạc hậu khi nó đang kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Thế lực thực dân, áp bức, bóc lột đang ngày bị tấn công và tất yếu sẽ bị đánh bại, xã hội tự do, bình đẳng, bác ái nhất định sẽ chiến thắng. Giai cấp tư sản ngày cáng bộc lộ rõ bản chất bóc lôt, xâm lược, phản động và vai trò trung tâm của nó nhất định sẽ bị phế bỏ bởi sự phát triển của kinh tế- xã hội.

 

Từ nhận thức mới về thời đại ngày nay của Đảng ta, có thể chia thời đại ngày nay thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Từ 1917 đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai (1945)

Đây là giai đoạn đột phá thắng lợi của cách mạng vô sản ở nước Nga, một nước tư bản chủ nghĩa ở trình độ phát triển trung bình, khai sinh ra chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa, mở đầu của thời đại mới, thời đại ngày nay.

Giai đoạn 2: Từ sau năm 1945 đến đầu những năm 1970.

Đây là giai đoạn mở rộng và phát triển chủ nghĩa xã hội, hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Giai đoạn này còn đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc. Hàng trăm nước đã giành được độc lập dân tộc. Hệ thống thuộc địa cũ của chủ nghĩa tư bản sụp đổ. Tuy nhiên ở cuối giai đoạn này đã xuất hiện sự bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các Đảng Cộng sản và công nhân trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Giai đoạn 3: Từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm 1980.

Đây là giai đoạn nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng, dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu.

Giai đoạn 4: giai đoạn hiện nay.

Đây là giai đoạn chủ nghĩa xã hội thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, song đang có dấu hiệu hồi phục để tạo ra bước phát triển mới. Nhiều Đảng Cộng sản đang tự tổ chức lại và phục hồi những ảnh hưởng tích cực của mình trong xã hội. Sức sống và xu hướng phát triển của chủ nghĩa xã hội không mất đi. Chủ nghĩa xã hội vẫn là sự lựa chọn phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử trong thời đại ngày nay.

Nâng cao nhận thức về mối quan hệ giữa dân số và phát triển

 


Nếu coi phát triển là đối lập với nghèo khổ thì phát triển được coi là quá trình  giảm dần, đi đến loại bỏ nạn đói ăn, bệnh tật, mù chữ, tình trạng mất vệ sinh, thất nghiệp và bất bình đẳng

Trên thực tế, dân số ổn định thì phát triển kinh tế xã hội bền vững, đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho cộng đồng. Dân số và phát triển có tác động qua lại chặt chẽ, biện chứng với nhau. Bước tiến của lĩnh vực này thúc đẩy, tạo thuận lợi cho lĩnh vực kia và ngược lại.

Dân số có tác động qua lại đến kinh tế, giáo dục, xã hội, môi trường, y tế và ngược lại sự phát triển bền vững của các yếu tố đố sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng dân số.

Dân số và phát triển có liên quan chặt chẽ tới tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bền vững về môi trường. Những biến đổi về quy mô, cơ cấu và phân bvố dân số chính là sự thay đổi những chiều cạnh về dân số- kinh tế, dân số - xã hội và dân số - môi trường liên quan đến các mục tiêu phát triển bền vững.

 

Quan niệm về thời đại ngày nay

 


Thời đại hiện nay, Thời đại chúng ta, Thời đại mới  là những khái niệm đồng nghĩa và được V.I. Lênin sử dụng. Trên bình diện lịch sử toàn thế giới, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã “mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới”[1].

Theo tư tưởng của V.I Lênin, nội dung của thời đại ngày nay là xóa bỏ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đây là một quá trình lịch sử lâu dài, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga, sau đó là những cuộc cách mạng ở nhiều nước khác trên thế giới.

Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân họp ở Mát-xcơva năm 1957 và 1960, trên cơ sở tư tưởng của V.I. Lênin về thời đại ngày nay đã xác định: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga.

Đảng ta khẳng định: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, gắn liền với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên chủ nghĩa xã hội [2].



[1] V.I. Lênin: Sdd, 1978, t.4, tr.184.

[2] Hi đồng lý lun Trung ương: Mt s vn đề v ch nghĩa Mác - Lênin trong thi đại hin nay, Nxb, CTQG, Hà Ni. 1996, tr.139.

NHÀ GIÀN - BẢN LĨNH TRÍ TUỆ VIỆT NAM!

 

 Description: ♥Description: 🇻🇳


Ngay đến cả Trung Quốc, một quốc gia với tiềm lực mạnh hơn, kinh tế mạnh hơn, khoa học kỹ thuật nhỉnh hơn, cũng không thể tin được rằng Việt Nam dám làm, dám thực hiện một dự án đầy tính mạo hiểm như vậy giữa lúc bộn bề khó khăn.

Một số quốc gia ở Đông Nam Á cũng từng nghĩ vậy, người Việt chắc chắn không làm được, không thể được. Vì lúc ấy Việt Nam đang là quốc gia ở một khu vực vũng trũng của thế giới. Để triển khai các cụm nhà giàn như vậy là một điều phi lý và chưa từng có tiền lệ trên thế giới. Họ nghĩ rằng Việt Nam đang lãng phí lớn cho một dự án đầy mạo hiểm và không khả thi.

Và rồi Việt Nam đã chứng minh những điều ngược lại. Những công trình nhà giàn nhỏ bé mọc hiên ngang giữa Biển Đông đầy bao la, bốn bề đều là biển cả. Màu xanh của biển và của mây trời, màu xanh của áo lính.

Trong những năm cuối thập niên 80, kinh tế nước ta còn nghèo nàn, bị cấm vận, khối Đông Âu và Liên Xô gặp khó khăn, tình hình biên giới rất căng thẳng. Nhưng những nhà giàn như thế này, mọc lên giữa biển khơi, đã chứng tỏ rằng: Thứ gì đã thuộc về chủ quyền dân tộc, dù phải đánh đổi tất cả cũng vẫn phải giữ vững.

"Thực sự rất khủng khủng khiếp. Mình từng được nghe kể các chiến sĩ ngoài nhà giàn khi bão đến phải tự lấy dây thừng hoặc tương tự để buộc mình cố định vào vị trí nào đó để tránh bão cuốn phăng đi. Không ít chiến sĩ đã hi sinh. Ở trong đất liền thực sự thấy biết ơn các anh".

Chúng ta đã từng có những sự hi sinh ở đây, đại đa phần chúng ta không hiểu rõ được những khó khăn mà người lính gặp phải. Người ta nói: hi sinh giữa thời bình là như vậy. Ngay đến cả hiện tại, ở ngoài đảo xa, vẫn có những chiến sĩ im lặng về với đất mẹ. Đặt ra một câu hỏi rằng: Tại sao họ phải làm thế?

Dĩ nhiên là không phải là "nghĩa vụ thuế" của mấy bạn đóng được vài đồng VAT hay phí môi trường. Đừng đem sinh mạng của các chiến sĩ ra tính toán thiệt hơn.

"Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu…" - Đô đốc Giáp Văn Cương đã nói như vậy.

Trên mỗi nhà giàn, đều có lá cờ đỏ hiên ngang, dòng chữ "CHXHCN Việt Nam" và những ánh đèn chiếu rọi.. Giữa biển khơi, mỗi người ngư dân khi nhìn thấy dấu hiệu này, họ hiểu rằng biển cả là nhà, để những người trong đất liền có thể thấy rõ chủ quyền dân tộc giữa biển khơi được gìn giữ như thế nào. Lá cờ tuy nhỏ, dòng chữ cũng không lớn, thân người thì bé xíu. Nhưng Tổ Quốc Việt Nam, nhờ vậy mà ngày càng to lớn và vững chãi.

                                                                                                Theo Phù Đổng

NGUYÊN PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN THỊ BÌNH

 






Năm nay đã 94 tuổi. Ở tuổi xưa nay hiếm nhưng bà vẫn còn làm việc. Hiện nay bà là Chủ tịch danh dự của Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam và Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam. Và vào ngày 24/10 vừa qua, bà được trao tặng Huy hiệu 75 tuổi Đảng. Ở tuổi 94, sức khỏe đã yếu, mái tóc đã bạc trắng nhưng bà vẫn còn minh mẫn, vẫn còn làm việc, bởi với bà "Về hưu cũng rất bận rộn".

Từ những ngày đầu hoạt động cách mạng cho đến khi trở thành Ủy viên Trung ương phụ trách công tác đối ngoại Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Đến khi non sông thống nhất, bà giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục, sau đó là Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội. Và từ 9/1992-8/2002 bà Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam. Dù ở bất kỳ cương vị nào bà đều hoàn thành nhiệm vụ, thể hiện được bản lĩnh của dân tộc Việt Nam nói chung và người phụ nữ Việt Nam.

Báo chí phương Tây hay gọi bà với cái tên Madam Bình thể hiện sự ngưỡng mộ bà. Bà là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định Paris năm 1973.

Có lẽ bà là người Việt Nam có nhiều bạn bè nhất trên thế giới, từ những người dân thường, cho đến các nguyên thủ quốc gia nổi tiếng và thuộc nhiều chế độ chính trị khác nhau. Những năm tháng ấy, bà có mặt ở hầu khắp hành tinh, và thật lạ, thật đẹp, hình ảnh của một Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt lại được đại diện không phải bằng một chiến binh đằng đằng sát khí, mà là một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng, sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin... Bà gọi công việc đó là “ngoại giao nhân dân”, nghĩa là con người đến với con người, trái tim đến với trái tim. Bà đem bạn bè về cho dân tộc. Và đấy là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định thắng lợi kỳ lạ của Việt Nam trong thế kỷ qua.

Điều đáng khâm phục nữa ở bà là sức trẻ của trí tuệ và tâm hồn, sức sống và sức làm việc đáng khâm phục, tầm nghĩ rộng, sâu và sắc, thậm chí ngày càng phát triển cùng với tuổi tác. Hầu như trên tất cả các mũi nhọn nhất, sâu nhất của đời sống xã hội và con người hiện tại đều có mặt bà, ở hàng đầu, miệt mài, không mệt mỏi...

Ảnh: Getty Images, TTXVN, báo Lao Động

THƯ KHIẾU CHIẾN CỦA TƯỚNG PHÁP GỬI ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

 


Giữa tháng 12/1953, hai bộ chỉ huy quân Pháp và Việt Nam quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược cho cục diện chiến tranh Đông Dương. Hai bên dốc toàn lực cho trận đánh quyết định.

Tuy nhiên, Một ngày trước giờ G, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển từ phương án "Đánh nhanh, Thắng nhanh" thành "Đánh chắc, Thắng chắc", rút toàn quân ra chuẩn bị lại. Đồng thời ông đã điều Đại đoàn 308 đánh sáng Lào vừa để nghi binh, thu hút quân đội Pháp tạo điều kiện rút quân và bố trí lại lực lượng và cũng vừa để phá thế trận liên hoàn Luang Phrabang - Xốp Nao - Điện Biên Phủ.

Trước khả năng quân Việt Nam từ bỏ Điện Biên Phủ, qua truyền đơn, Đại tá de Castries đã gửi tới Đại tướng Võ Nguyên Giáp một bức thư khiêu chiến. Chi tiết này sách Việt Nam nhiều nơi đã nói, nhưng chắc chưa ai thấy bức thư này. Nay xin giới thiệu cả nhà nội dung bức thư nói trên.



Nguồn: Thư viện Bộ Quốc phòng Pháp.

Ảnh: Anh Võ Quốc Tuấn.

 


 

 

CẢNH GIÁC ÂM MƯU LỢI DỤNG BIỂU HIỆN “TỰ CHUYỂN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” ĐỂ XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT CHỐNG PHÁ ĐẢNG

 

Để thực hiện những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị thường khoét sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong nội bộ tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Hiện nay, chúng triệt để lợi dụng những biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, xuyên tạc, chống Đảng, Nhà nước..

Một trong những vấn đề chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc là căn bệnh giả dối của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thiếu trung thực “giả dối” là một trong những thói hư, tật xấu của con người, ai cũng có thể mắc phải nếu thiếu tu dưỡng rèn luyện, kể cả đối với cán bộ, đảng viên. Thói giả dối là do tàn dư lạc hậu của xã hội và lối sống thiếu trung thực đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Có thể nói bệnh giả dối nếu không được ngăn chặn triệt để, nó sẽ làm suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm giảm sút lòng tin của quần chúng với Đảng. Bởi vậy, “Giả dối - Thói xấu tệ hại, người cộng sản cần loại bỏ” là một bài báo được đăng tải trên Báo Quân đội nhân dân gần đây, góp phần đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Cần khẳng định căn bệnh giả dối chỉ tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu trung thực, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống chứ không phải là bản chất của Đảng ta, của chế độ ta.

Thế nhưng, các thế lực thù địch đang ra sức rêu rao rằng: “Xảo trá, lật lọng là bản chất và thuộc tính mang thương hiệu cộng sản” và “Lừa bịp, xảo trá là những căn bệnh xấu xa đặc trưng thời cộng sản” … Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, phủ nhận bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Đảng và sự hy sinh, cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước. Chúng ta cần đề cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của công cuộc đổi mới./.

 

Nhận diện quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay

Chúng ta đều biết, do tính chất phức tạp, quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ hiện đại, chúng ta thường sử dụng thuật ngữ kép là “sai trái, thù địch” để chỉ các quan điểm đối lập với lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân, của Ðảng Cộng sản Việt Nam và cả dân tộc.

Ngày 22/10/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Lâu nay, chúng ta thường nghe nói về “đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch”.

Nhưng, quan điểm sai trái như thế nào và làm gì để đấu tranh bác bỏ, không hẳn ai cũng hiểu một cách thấu đáo. Việt Nam đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và cũng lắm khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau. Nhiều vấn đề mới quan trọng, phức tạp đã và đang đặt ra. Một trong những thách thức đó là sự chống phá của các cá nhân, tổ chức thiếu thiện cảm với chế độ, họ không muốn thấy một Việt Nam phát triển. Thậm chí, họ xem những khó khăn (tạm thời) của đất nước như một cơ hội, một miếng mồi để thể hiện thái độ hả hê của cá nhân. Họ thường nhân danh những điều tốt đẹp nhưng hành động ngược lại.

Quan điểm sai trái, nói một cách ngắn gọn, là thể hiện sự lệch lạc về nhận thức lý luận cũng như hoạt động thực tiễn (không phải thực tế). Sự lệch lạc đó có thể do hạn chế về trình độ nhận thức (nhận thức sai, không đúng đắn), thiếu thông tin chính thống, tiếp nhận thông tin từ những nguồn không chính thức, thông tin bị xuyên tạc, bóp méo hoặc chỉ một nửa sự thật… Do đó, trong một số trường hợp nhất định, người có quan điểm sai trái không hẳn là những kẻ thù địch, bởi vì họ nhận thức chưa tới chứ không phải “cố ý làm trái”.

Quan điểm thù địch là những quan điểm mà bản thân nó đã chứa đựng luận điểm sai trái, đối lập với lợi ích, lập trường giai cấp. Chủ thể của nó thường là những người đối lập về tư tưởng chính trị, về lợi ích giai cấp, quốc gia, dân tộc hoặc có hận thù giai cấp.

Quan điểm sai trái, thù địch: do tính chất phức tạp, quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ hiện đại, chúng ta thường sử dụng thuật ngữ kép là “sai trái, thù địch” để chỉ các quan điểm đối lập với lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân, của Ðảng Cộng sản Việt Nam và cả dân tộc. Thuật ngữ “sai trái” được sử dụng để nhấn mạnh phương diện phản khoa học, phi thực tiễn của loại quan điểm nói trên. Còn thuật ngữ “thù địch” là để nhấn mạnh tính chất đối lập với lợi ích, lập trường của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.

Bản chất

Theo các nhà nghiên cứu, bản chất của quan điểm sai trái, thù địch cần được nhận diện trong sự so sánh, phân biệt với các ý kiến khác với các quan điểm, đường lối của Ðảng. Bởi vì, sự so sánh này sẽ làm nổi bật động cơ, mục đích, nội dung khái quát, chủ thể, phương pháp, cách thức thể hiện các quan điểm sai trái, thù địch. Sự khác nhau giữa những quan điểm sai trái, thù địch với các ý kiến khác với quan điểm, đường lối của Ðảng thể hiện ở một số điểm cụ thể.

Thứ nhất, về chủ thể, những người đưa ra các ý kiến khác có thể là cán bộ, đảng viên hoặc nhân dân, do hạn chế về trình độ nhận thức, có phương pháp tư duy giản đơn, thiếu biện chứng, do ngộ nhận hoặc chịu ảnh hưởng nhất định của những quan điểm sai trái, thù địch được tuyên truyền, phát tán trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng.

Còn những người có quan điểm sai trái, thù địch chủ yếu là các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước, các đảng phái phản động ở nước ngoài hoặc những người từng vi phạm pháp luật Việt Nam, hận thù chế độ.

Một số trường hợp thuộc nhóm những người từng là cán bộ, đảng viên nay trở thành các đối tượng chống đối, thù địch như một số cá nhân đã và đang gây ồn ào trên không gian mạng hiện nay. Những tổ chức, cá nhân này có trình độ, có hiểu biết nên họ thường sử dụng ngòi bút của mình như một thứ vũ khí để chĩa mũi giáo vào đất nước.

Thứ hai, về động cơ, mục đích, thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra các quan điểm sai trái, thù địch một cách công khai nhằm đả kích Ðảng, vai trò lãnh đạo của Ðảng, hướng tới phủ nhận, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, những ý kiến của cán bộ, đảng viên đôi khi khác, hay trái với một số chủ trương, chính sách cụ thể của Ðảng trong một thời điểm nhất định; thậm chí là những ý kiến quá tâm huyết, bức xúc đến mức phê phán gay gắt, mạnh mẽ trước những tiêu cực xã hội và sự yếu kém trong lãnh đạo, quản lý của các cơ quan Nhà nước nhưng là vì mục đích xây dựng, giúp Ðảng, Nhà nước thực hiện tốt hơn vai trò, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý thì không thể coi là những quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ ba, về nội dung các quan điểm, những ý kiến khác thường lẻ tẻ, rời rạc, không có hệ thống; tập trung vào những vấn đề có tính chất công khai, cụ thể, những hiện tượng tiêu cực nổi bật trong thời gian qua. Tác giả của các ý kiến này thường bày tỏ quan điểm, suy nghĩ thông qua một số bài viết thiên về cảm xúc, để cảm tính chi phối. Tuy nhiên, cũng có những bài viết, công trình nghiên cứu bàn bạc, thảo luận về quan điểm, đường lối của Ðảng, cách vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam, đặt vấn đề xem xét lại một số sự kiện, kết luận lịch sử, đề xuất kiến giải cho các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội một cách khoa học và có ý nghĩa nhất định. Các quan điểm sai trái, thù địch thường phủ nhận, bác bỏ thẳng thừng những nội dung cốt lõi, then chốt trong hệ thống lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Ðảng.

Thứ tư, về phương pháp, giới nghiên cứu, học thuật chỉ rõ, những người đưa ra ý kiến khác thường có tính cá nhân, tức thời, chưa có sự tập hợp, phối hợp lực lượng. Cách thức phản ánh của họ thường là đề đạt ý kiến lên cấp trên, cấp có thẩm quyền hoặc yêu cầu bảo lưu, trình bày ý kiến trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học, hội nghị nội bộ…; không tuỳ tiện phát tán trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nếu là đảng viên thì chấp hành điều lệ Ðảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; có ý thức giữ gìn đoàn kết nội bộ, bảo vệ bí mật Nhà nước…

Ngược lại, những người có quan điểm sai trái, thù địch, không từ một thủ đoạn nào để chống Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, nhân dân. Nhóm đối tượng này sẵn sàng bịa đặt, nói xấu, đổi trắng thay đen, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất tổ chức Ðảng với một số đảng viên tham nhũng, thoái hoá biến chất. Họ phủ nhận công lao của Ðảng, phủ nhận lịch sử, cực đoan, phiến diện, siêu hình, quy chụp mọi sai lầm, khuyết điểm về cho Ðảng Cộng sản Việt Nam, lấy hiện tượng thay cho bản chất.

Ðể thực hiện mục tiêu này, các thế lực thù địch - chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch tận dụng các nền tảng mạng xã hội để phát tán quan điểm sai trái trên phương tiện thông tin đại chúng, chĩa mũi nhọn phá hoại vào Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong giai đoạn hiện nay, phương thức sử dụng internet, blog cá nhân, mạng xã hội để phát tán các quan điểm đang trở nên phổ biến và tạo hiệu ứng rộng rãi. Các lực lượng thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước tư bản phát triển, thì những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đấu tranh lẫn nhau.

Cuộc đấu tranh này không chỉ diễn ra ở đất nước chúng ta mà còn trên phạm vi thế giới. Các nhóm cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với số chống đối, bất mãn ở trong nước. Nhóm thứ ba, là một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Lực lượng này len lỏi, phức tạp, không khó để nhận ra nhưng lại rất khó để đấu tranh. Ðây là những người phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

Do vậy, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hình hiện nay đã khó khăn, phức tạp, khó lường, nhưng để phản bác, chống lại những quan điển sai trái đó không đơn giản chỉ là một sớm, một chiều mà đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải vào cuộc mọt cách quyết liệt và triệt để. Một trong những cách phòng, chống hiệu quả nhất chính là ở chỉnh trong mỗi người cán bộ, Đảng viên các cấp, các nghành, các tổ chức phải nếu cao tinh thần đạo đức cách mạng, nhất là đạo đức công vụ trong phục vụ Nhân dân. Đây luôn là “kẽ hở” để các thế lực thù địch, lượng lượng bất mãn xã hội, bất đồng chính kiến tạo cớ, xoáy vào tấn công. Chúng ta phải tạo ra môi trường phép nước thật sự kỷ cương, công bằng và dân chủ; phải có cơ chế giám sát hiệu quả để mọi người, mọi tổ chức được bình đẳng trong các vấn đề xã hội, chung tay vào xây dựng đât nước Việt XHCN ngày càng nâng tầm trong khu vực và trên trường Quôc tế.


 


 

ĐẢNG LUÔN CHĂM LO CHU ĐÁO ĐỜI SỐNG MỌI MẶT CỦA NHÂN DÂN

Vừa qua các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã tăng cường các hoạt động chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Một trong những nội dung, thủ đoạn quen thuộc mà chúng sử dụng là xuyên tạc, vu cáo, gây chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Chúng cho rằng Đảng không quan tâm đến dân, bỏ mặc dân, nhất là những khi đất nước gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh. Lợi dụng đại dịch Covid - 19, chúng trắng trợn bịa đặt, vu khống, kích động nhân dân. Nổi lên là phản động Việt Tân tuyên truyền xằng bậy: “Rất nhiều người chết vì kiệt quệ, đói khát, vì khủng hoảng thần kinh, vì tuyệt đường mưu sinh và bị ngân hàng, xã hội đen đòi nợ, bị chủ nợ đuổi ra ngoài đường” và bịa đặt rằng người dân không còn tin vào Đảng, đã xuống đường biểu tình để chống đối…

 Nhưng thực tiễn đã chứng minh đó chỉ là những âm mưu, thủ đoạn, thông tin xấu độc, sai trái để chống đối mà thôi.

 Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam là luôn vì dân, gắn bó máu thịt với nhân dân. Hiến pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ghi rõ: “ Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”.

 Trong bài viết “Phải theo đúng kỷ luật của Đảng”, đăng báo Nhân dân ngày 24 - 8 - 1954, Bác Hồ viết “ Nhiệm vụ của Đảng là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Hồ Chủ tịch cũng dạy: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng, Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”

  Tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng vào tối 5 - 1 - 1960. Bác Hồ chỉ rõ: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh  tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân”.

 Và chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Đảng, người đảng viên số 1 của Đảng cũng gương mẫu vì dân. Năm 1946, khi giữ cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã trả lời các nhà báo: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Năm 1969, trước lúc đi xa, Hồ Chủ tịch đã để lại Bản Di chúc lịch sử, trong đó Người viết “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Ngay từ năm 1945, chính Hồ Chí Minh đã là tấm gương mẫu mực nhịn ăn để giúp dân cứu đói…

 

 

Một số giải pháp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận trong giai đoạn hiện nay

 Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn... Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”.

Do đó, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, sự mất còn của chế độ XHCN, đến vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam. Do vậy, phải quán triệt sâu sắc quan điểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”. Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh. Trong điều kiện bình thường, nếu chúng ta chủ quan, lơ là, không thường xuyên quan tâm đầy đủ, thấu đáo đến công tác tư tưởng, thì khi xuất hiện những tình huống bất thường, những biến động về kinh tế-xã hội... sẽ rất dễ dẫn đến sự phân tâm, hoang mang, dao động, thậm chí mất phương hướng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Khi quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nhận rõ vai trò, trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận giai đoạn hiện nay; trong đó cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng, lý luận; nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Căn cứ tính chất, đặc điểm của từng loại hình tổ chức đảng để xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Cần nhận rõ công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho Đảng có nền tảng tư tưởng vững chắc, có cương lĩnh chính trị và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước được xây dựng trên cơ sở khoa học; có quan điểm, đường lối và chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động phát triển của xã hội và hợp lòng dân, giữ vững được sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy, chính quyền cũng như trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, tạo được lòng tin và sự ủng hộ của toàn dân. Đồng thời, xây đắp nền tảng chính trị-tinh thần của chế độ và sự đồng thuận xã hội, định hướng và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

   Thứ hai, đề cao vai trò của cán bộ chủ trì, cơ quan tuyên giáo và ban chỉ đạo 35 các cấp.

   Căn cứ đặc điểm, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị trong từng thời kỳ, đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp phải đề ra được các biện pháp chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận có hiệu quả; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành. Cơ quan tuyên giáo phải phát huy vai trò là cơ quan tham mưu, đồng thời trực tiếp tổ chức tiến hành các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Ban chỉ đạo 35 của Trung ương cần có sự chỉ đạo thường xuyên, tạo sự thống nhất giữa các bộ, ban, ngành trong định hướng đấu tranh; có cơ chế cung cấp thông tin cho ban chỉ đạo 35 cấp trực thuộc Trung ương và các cơ quan thông tấn, báo chí; định hướng kịp thời trước những vấn đề nảy sinh tác động đến dư luận, tâm trạng xã hội.

   Thứ ba, xây dựng lực lượng nòng cốt và cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận.

   Phải tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn, các phóng viên, biên tập viên của các cơ quan báo chí... Cần nghiên cứu tăng cường lực lượng thường trực tham gia đấu tranh trên internet, các trang mạng xã hội. Lực lượng này phải được tổ chức có hệ thống, trang bị đầy đủ phương tiện và có kỹ thuật tác nghiệp cao.

   Thứ tư, có cơ chế phối hợp chặt chẽ ở các cấp và phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận.

   Do tính chất hệ trọng và nhạy cảm của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phải coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp đấu tranh trên mặt trận này. Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Cần công khai hóa các thông tin cần thiết liên quan đến đấu tranh tư tưởng, lý luận trước hết trong cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng, để định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch./.


 

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

Ngày 28 tháng 10 năm 1950

“Cán bộ phải thương yêu đội viên. Đối với anh em ốm yếu, thương tật, cán bộ phải trông nom, thăm hỏi.”

Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II, họp từ ngày 23 đến ngày 28 tháng 10 năm 1950 tại Lam Sơm, tỉnh Cao Bằng.

Tình đồng chí, đồng đội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của quân đội cách mạng, vừa là cơ sở tạo nên sức mạnh của quân đội, trong đó quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ là mối quan hệ đặc trưng bản chất. Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một mặt, nó dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; mặt khác, nó dựa trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, đoàn kết gắn bó chặt chẽ keo sơn với nhau như ruột thịt “lúc thường cũng như lúc ra trận” giữa những con người cùng chung lý tưởng, mục tiêu, cùng thực hiện nhiệm vụ cao cả của người quân nhân cách mạng. Đó là nguồn sức mạnh vô tận để bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Chính vì vậy, đòi hỏi cán bộ phải luôn luôn là tấm gương sáng cho chiến sĩ học tập, noi theo; chiến sỹ phải “tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Tình thương yêu đồng chí, đồng đội được tôi luyện, thiết lập vững chắc trong Quân đội ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, và trở thành nét đẹp truyền thống, thành bản chất không thể phai mờ của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sỹ, là một trong những nhân tố gốc cấu thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ kính yêu căn dăn, đội ngũ cán bộ các cấp trong Quân đội các thời kỳ đã luôn quan tâm thiết thực và chu đáo đến đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân tay”, do vậy cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu óc”, như người thân; từ đó họ sẽ mang hết khả năng của mình để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Trái lại, nếu cán bộ không làm “mực thước” cho cấp dưới, quan liêu, hách dịch, bè cánh thì chắc chắn cấp dưới sẽ xa lánh họ; chỉ thị, mệnh lệnh mà họ đưa ra sẽ được cấp dưới tiếp thu một cách khiên cưỡng, hiệu quả thấp, thậm chí bị chối bỏ. Bởi vậy hơn ai hết, lãnh đạo, chỉ huy phải thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện xứng đáng là người anh, người “chị hiền” tận tuỵ chăm lo cho tập thể, cho từng chiến sỹ, là hạt nhân đoàn kết thống nhất xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện./.

 

Nỗi khổ 'giỏi ngữ pháp, kém giao tiếp' tiếng Anh

Tôi lên mạng tải một đống tài liệu tiếng Anh về để học, mấy tháng sau tôi giỏi ngữ pháp nhưng giao tiếp thì vẫn cứ đơ đơ. Hồi đại học, tôi quen một cô bạn đạt 9,5 điểm tiếng Anh thi đầu vào. Cả nhóm tôi đều ngưỡng mộ bạn, luôn mong được truyền đạt bí quyết học hỏi. Nhưng có một sự cố khiến chúng tôi nhớ mãi. Vài ngày sau khi nhận lớp, khoa chúng tôi có tổ chức đi tham quan khu trung tâm Sài Gòn. Khi đến khu vực nhà thờ Đức Bà, một vài khách Tây hỏi đường. Cả nhóm ú ớ bèn đẩy cô bạn giỏi tiếng Anh ra trả lời. Nhưng cô bạn này giao tiếp mãi mà vị khách Tây kia cũng không hiểu. Đến khi kết hợp ngôn ngữ hình thể họ mới tạm hiểu. Ngay từ thời điểm đó, tôi mới phát hiện ra cô bạn đạt điểm cao tiếng Anh là giỏi nhớ từ vựng và giải các bài tập ngữ pháp. Còn chuyện giao tiếp như nghe nói thì bạn không tốt. Suốt thời gian phổ thông học ở quê, bạn đó, cũng như chúng tôi, không có điều kiện tiếp xúc, trao đổi và trò chuyện bằng tiếng Anh. Sau này, một giảng viên nói với chúng tôi rằng đó là tình huống "hư tai, hư mồm" của người học tiếng Anh. Chúng tôi phải dành khá nhiều thời gian để sửa những lỗi phát âm, ngữ điệu thì mới dần cải thiện được. Luyện thi IELTS tràn lan Tiếng Anh vẫn là nỗi niềm gây đau khổ cho nhiều người. Từ sinh viên cần chứng chỉ tiếng Anh để ra trường cho đến người đã đi làm cần chứng chỉ để xin việc, thăng tiến. Và khi nhắc đến học tiếng Anh, nhiều người tự tin rằng mình sẽ giỏi, sẽ học thành công mà không cần phải ra trung tâm làm gì cho tốn kém. Tôi thấy suy nghĩ này không sai nhưng cũng chưa đúng lắm. Để cải thiện kỹ năng nghe nói, tôi đã đăng ký một khoá học tiếng Anh giao tiếp ở trung tâm. Tôi được trò chuyện với giảng viên là người bản xứ, đồng thời lên mạng chat với người nước ngoài, đến vài quán cà phê có nhiều người nước ngoài rồi tập tành làm quen, trò chuyện với họ. Lúc này thì những từ vựng, ngữ pháp đã học là cái nền tảng để giúp có một vốn từ, mẫu câu trò chuyện với họ. Họ sẽ dạy lại mình vấn đề phát âm, ngữ điệu nếu chịu để ý. Tôi thấy không ít bạn mang suy nghĩ có thể tự học tiếng Anh ở nhà bằng cách lên mạng tải về một đống tài liệu rồi in ra, rồi tự học ngày qua ngày suốt vài tháng trời (lúc trước tôi cũng giống hệt như thế). Nhưng kết quả nhận được nếu các bạn chịu học nghiêm túc thì đó là giải các bài tập ngữ pháp nhoay nhoáy, nhưng giao tiếp vẫn sẽ không tốt. Mà đối với việc học một ngoại ngữ, giao tiếp kém là thất bại. Vì thế, các bạn vẫn cần phải có môi trường giao tiếp.

Khắt khe với người trẻ

Nhiều người áp đặt các bạn trẻ phải làm theo ý họ, ngược lai sẽ bị quy tội "dám cãi lại người lớn tuổi". Hôm nay tôi thấy bài viết của một em gái cấp ba xin lời khuyên về chuyện tình cảm. Em đang bối rối và khó xử khi cho rằng có bạn cùng lớp để ý mình. Và đúng như dự đoán của tôi, nhiều người bảo em "lo học đi, yêu đương gì". Từ những bình luận này tôi có một cảm nhận rằng trong con mắt của những vị "người lớn từng trải" ấy, thanh thiếu niên chỉ là những cỗ máy, có nghĩa vụ phải phấn đấu học hành. Còn tâm lý tình cảm của các em hoàn toàn không quan trọng. Trong thành ngữ Trung Quốc có một cụm từ gọi là "cậy già lên mặt", chỉ những người lớn tuổi tự cho mình quyền được lên mặt dạy bảo, xách mé, thậm chí xúc phạm những người ít tuổi hơn. Tôi cảm thấy xã hội bây giờ có rất nhiều người ứng với câu thành ngữ này. Trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào, khi đối mặt với người trẻ tuổi, đặc biệt là thanh thiếu niên đang ngồi ghế nhà trường, những vị anh chị, cô chú này thường chỉ đứng từ góc nhìn của bản thân, cho rằng các bạn trẻ phải thế này thế kia, ở tuổi này thì chỉ nên thế này mà không được thế khác. Khi bị đối phương phản ứng thì quy cho họ cái tội "hỗn láo, mất dạy" vì "dám cãi lại người lớn tuổi hơn mình". >> Người trẻ chơi tiền ảo, trung niên buôn đất để giàu nhanh Trong khi đó những vị lớn tuổi ấy chưa bao giờ nghiêm túc nhìn lại bản thân xem mình đã cư xử cho ra dáng bậc cha chú hay chưa; ngôn hành cử chỉ của bản thân có thực sự đáng cho người trẻ tuổi kính trọng và học hỏi; kiến thức và hiểu biết của mình ở thời hiện đại liệu có thực sự đủ để lên tiếng chỉ bảo người ít tuổi hơn? Hay họ chỉ có mỗi cái mác "lớn tuổi" để dựa vào mà lên mặt với đời? Tôi đồng ý rằng tuổi trẻ còn có nhiều thứ cần học hỏi, suy nghĩ chưa chín chắn, kinh nghiệm cuộc sống không đủ, họ có nhiều khiếm khuyết so với người đi trước. Nhưng chính vì người lớn có lợi thế về kinh nghiệm, chẳng lẽ đứng từ cương vị một người từng trải, không thể bao dung và kiên nhẫn hơn với các bạn trẻ đang chập chững bước vào đời? Thay vì lên giọng dạy đời chẳng lẽ không thể đặt mình vào vị trí của các bạn trẻ, nhớ lại xem khi mình ở tuổi các bạn thì tâm sinh lý mình như thế nào, mình cũng từng phải đối mặt với những khó khăn và rắc rối ra sao, để đưa ra cho họ những tư vấn tích cực, thân thiện hơn? Cụ thể như trường hợp em gái ở trên, cấp 3 đang là độ tuổi mới lớn nhạy cảm, xốc nổi và dễ rung động. Ở độ tuổi này quả thật cần nhiều sự quan tâm, quản giáo từ gia đình và nhà trường để đảm bảo các em đi đúng hướng. Nhưng sự quan tâm và quản giáo đó phải xuất phát từ yêu thương, tế nhị, chứ không phải từ kiểm soát và áp đặt. >> Người trẻ xa lánh vì bị hỏi chuyện riêng tư Độ tuổi 15-16 đang là tuổi niên hoa rực rỡ, nếu được định hướng đầy đủ và đúng đắn thì hoàn toàn có thể phát triển những tình cảm đẹp đẽ và trong sáng nhất, cho dù sau này không đến đích thì cũng sẽ trở thành ký ức đáng trân trọng của một đời người. Tại sao lại bắt các em phải gạt bỏ tình cảm của bản thân để chỉ vùi đầu vào học hành? Tôi chỉ so sánh đơn giản, người lớn ngoài 8 tiếng làm việc một ngày, không lẽ không có mối quan tâm hay hứng thú nào khác? Ví dụ khi các bạn muốn bàn luận hay hỏi ý kiến về một bộ phim truyền hình mình thích, bị người khác ném vào mặt một câu "lo làm việc kiếm tiền nuôi con đi, phim ảnh cái gì" thì các bạn nghĩ sao? Tất nhiên mọi so sánh đều khập khiễng, tôi chỉ đơn cử một ví dụ nhỏ để các vị hiểu về việc quan tâm đến cảm nhận của người khác. Xã hội nào muốn phát triển cũng đều phải trông chờ vào lớp trẻ. Chúng ta cần bồi dưỡng họ thành những con người chăm chỉ, có trách nhiệm, yêu lao động và gia đình. Nhưng chúng ta cũng cần họ hạnh phúc và lạc quan để cống hiến càng hiệu quả và tích cực hơn. Xin hãy yêu thương và dịu dàng hơn với họ. Xin hãy tôn trọng họ và đừng quá khắt khe.

Cái tôi vị kỷ

Tôi quan sát và ngẫm thấy một điều, ở nhiều môi trường, người ta ít khi nói về danh dự. Ai đề cao danh dự dễ trở nên “lạc điệu”. Trong khi đó, những suy nghĩ và hành động “khôn lỏi”, vị kỷ có vẻ dễ được bỏ qua. Vài lần, tại buổi giảng bài hay trên trang cá nhân, khi tôi bàn luận về vai trò của việc đề cao danh dự trong việc kiểm soát tư duy và hành động vị kỷ, nhiều bạn phê phán là "hão huyền, xa vời", rằng chúng ta cần những giải pháp dễ nhìn thấy bằng mắt hơn. Cũng không ít lần tôi trao đổi với đồng nghiệp về bản năng "tham" của con người. Mỗi cá nhân hành động đều trước hết là vì mình. Bởi thế, ý thức về danh dự và sự liêm chính sẽ là yếu tố khiến cá nhân phải cân nhắc mỗi khi đối diện tình huống có thể hành động vị kỷ. Tuy nhiên, những cuộc trao đổi về danh dự hay sự liêm chính đều diễn ra rất ngắn. Mọi người cũng thường im lặng hoặc ít ý kiến bàn luận. Mười năm trước, khi theo học chương trình tiến sĩ về Quản trị công và chính sách tại Mỹ, tôi thấy danh dự là phạm trù luôn được đề cao trong văn hóa công vụ ở xứ này. Một trong những chủ đề mà tôi và giáo sư hướng dẫn hay "đàm đạo" là đạo đức của cán bộ công quyền, nhất là những người làm lãnh đạo và quản lý. Những câu hỏi của tôi như: Làm thế nào để có được những nhà lãnh đạo và quản lý liêm chính? Làm sao có thể kiểm soát được cái tôi vị kỷ để họ không dám tiêu cực hay tham nhũng? Giáo sư giới thiệu với tôi vài tài liệu để đọc. Những ý niệm đầu tiên về đạo đức công vụ ở các nước phương Tây gắn với truyền thuyết về Lucius Cincinnatus. Năm 458 trước Công nguyên, khi thành Rome bị đe dọa bởi ngoại bang, Cincinnatus, vốn là một nông dân, được thượng viện bổ nhiệm làm thống chế quân đội. Sau 16 ngày, ông đánh bại kẻ thù, từ chức và trở về công việc đồng áng của mình. Cho đến nay, truyền thuyết về Cincinnatus không màng danh lợi sau khi thực hiện trách nhiệm với cộng đồng vẫn được giới lãnh đạo, hành chính và nhân viên công quyền ở nhiều nước phương Tây coi như một biểu tượng về danh dự công vụ. Quy định 37 của Ban chấp hành Trung ương về 19 điều Đảng viên không được làm mới ban hành hôm qua có nội dung, Đảng viên không được chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi. Khi đảm nhiệm các vị trí công quyền, mỗi cá nhân đều luôn có những lợi ích riêng tư trong khi hành động của họ phải tuân thủ nguyên tắc bảo vệ lợi ích công. Đây chính là căn nguyên cho những tình huống tiềm ẩn nguy cơ "tiêu cực" hay "tham nhũng". Điều này cũng có nghĩa, sự liêm chính của mỗi cá nhân thực thi công vụ luôn đứng trước thách thức - đó là khi họ có thể ban hành những quyết định theo hướng có lợi cho bản thân hoặc liên quan đến họ nhưng lại thiệt hại nhất định cho lợi ích xã hội. Nếu không được kiểm soát, hệ quả dễ thấy nhất của tình trạng trên là có thể gia tăng tham nhũng, giảm chất lượng chính sách, giảm hiệu quả hoạt động của chính quyền. Và trên hết, bào mòn lòng tin của người dân vào thể chế công và chính quyền nói chung. Báo cáo mới đây của Chính phủ cho biết, năm 2021, ngành Công an đã thụ lý điều tra hơn 580 vụ án với khoảng 1.300 bị can về tham nhũng. Thiệt hại trong các vụ án thụ lý là trên 800 tỷ đồng, hơn 398.600 mét vuông đất... Chỉ có bốn trường hợp nộp lại quà tặng theo quy định cho đơn vị với số tiền 350 triệu đồng. "Tham nhũng tiếp tục được kiềm chế, nhưng tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho dân ngày càng tinh vi, chưa được ngăn chặn hiệu quả", Chính phủ nhận định. Trong một động thái liên quan, gần đây, "Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng" được đổi tên thành "Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực". Để chống tiêu cực, chúng ta nói nhiều đến việc "truy quét" chủ nghĩa cá nhân, phê phán những cán bộ vị kỷ. Tôi cho rằng, đây mới chỉ là vế thứ nhất của vấn đề. Vế thứ hai là, sau khi phê phán rồi thì cái chúng ta hướng đến là gì? Hẳn nhiên, đó phải là hệ giá trị đạo đức công mà đầu bảng phải là danh dự và sự liêm chính. Liệu ý thức về danh dự, liêm chính có thể góp phần ngăn chặn hành vi vị kỷ và tiêu cực? Trên thực tế, hành vi của các nhà lãnh đạo và nhân viên công quyền ở các nước phát triển bị kiểm soát chặt chẽ bởi các quy định trong nội bộ hệ thống chính quyền cũng như sự giám sát từ xã hội. Ngoài ra, các hội nghề nghiệp luôn có các bộ "chuẩn mực hành vi" hay "quy tắc đạo đức nghề nghiệp", bao gồm những quy tắc rất cụ thể để áp dụng với đội ngũ công chức. Quan sát thực tế ở nước ta, tôi thấy những cá nhân khi được bổ nhiệm thường phát biểu cảm ơn sự quan tâm của cấp trên, sự ủng hộ của đồng nghiệp và hứa "sẽ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ". Tuy nhiên, tôi không thấy họ cam kết về sự liêm chính hay sẽ bảo vệ danh dự bản thân và tổ chức. Vì thế, nhà nước có thể bổ sung quy định các cán bộ cần tuyên bố cam kết sẽ làm việc liêm chính, bảo vệ danh dự của bản thân, tổ chức và cả hệ thống khi nhận quyết định bổ nhiệm vào vị trí quản lý. Bởi lẽ, với mỗi người, danh dự như chiếc la bàn, giúp chúng ta xác định được hành vi nào là đúng đắn trong cuộc sống riêng tư cũng như khi hành xử với người khác. Người làm việc cho chính quyền coi trọng danh dự sẽ tạo ra sợi dây ràng buộc giữa hành động của họ với trách nhiệm và bổn phận gắn với vị trí đảm nhiệm. Nhờ đó, mỗi người có thể kiềm chế tốt hơn cái tôi vị kỷ, không để nó tự tung tự tác. Nhiều người có thể cười suy nghĩ của tôi. Nhưng tôi vẫn tin rằng, chỉ khi mỗi cá nhân và cả cộng đồng ý thức sâu sắc về các giá trị như danh dự và sự liêm chính thì họ sẽ tự khắc giảm thiểu hành động vị kỷ. Lợi ích công chỉ thực sự được bảo vệ nếu mỗi cán bộ công quyền thấm đẫm những giá trị đạo đức phổ quát.