Thứ Năm, 16 tháng 12, 2021

Rèn luyện đạo đức cách mạng - một nội dung quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

 

Giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đại hội XIII của Đảng xác định: trong những năm tới phải tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện, trong đó chú trọng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

 Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những vấn đề cốt lõi, là điều kiện quan trọng để bảo đảm cho Đảng luôn “đứng vững trong lòng dân tộc”, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo xã hội trên con đường đi tới của đất nước.

Xây dựng Đảng về đạo đức là vấn đề cấp bách hiện nay, điều này xuất phát từ vai trò của Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; từ thực trạng rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ đảng viên cán bộ của Đảng thời gian qua tuy đã đạt được nhiều kết quả quan trọng song chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá: Cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn một số hạn chế và nêu rõ: "Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bẹnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi "[1]. Tình trạng trên có thể từ một số nguyên nhân sau: Một là, do tác động của nhiều nhân tố phức tạp trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, kinh tế thị trường, mở cửa với bên ngoài. Hai là, công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên của các tổ chức đảng chưa được chú ý đúng mức, thậm chí còn buông lỏng. Ba là, không ít cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống.

Để chặn đứng đà suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, một mặt, phải chủ động phòng ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài; mặt khác, chủ yếu và quan trọng là phải tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự nghiêm túc tự rèn luyện, tự mình nâng cao đạo đức cách mạng.

Đạo đức cách mạng chứa đựng nội dung lớn, căn bản và hoàn toàn có thể thực hiện tốt nếu mỗi người chú trọng tu dưỡng rèn luyện. Tuân theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta trong công cuộc đổi mới, có thể hiểu đạo đức cách mạng hiện nay trên mấy điểm chính sau đây:  Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết sức mình cho sự thắng lợi, sự phát triển của công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân, theo nguyên tắc "Dĩ công vị thượng"; Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không tham nhũng, xâm phạm tài sản của Nhà nước và nhân dân, không lãng phí. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh. Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh; Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, thương yêu nhân dân.

Để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên, có thể và cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu:

Thứ nhất, phải coi trọng nhiệm vụ giáo dục cho cán bộ, đảng viên về đạo đức, phẩm chất, lối sống.

Thứ hai, tăng cường vai trò, hiệu lực của kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước, tập trung chỉ đạo đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả.

Thứ ba, cần tăng cường tuyên truyền, học tập những tấm gương về đạo đức cách mạng, xây dựng, bồi đắp cái tốt, cái đúng trong hành vi đạo đức, biểu dương người tốt, việc tốt, lên án cái xấu, cái ác một cách cụ thể.

Việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân là một nội dung quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, cũng là nội dung quan trọng trong cuộc vận động: Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến hành./.


MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 


Một là, tăng cường giáo dục chính trị tư tư tưởng, kết hợp chặt chẽ với huấn luyện quân sự để xây dựng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho bộ đội

Xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho bộ đội phải được quán triệt vào quá trình giáo dục, huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác, trước hết là nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.

          Giáo dục, huấn luyện phải hướng vào bồi dưỡng năng lực cụ thể trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình", "phi chính tri hoá" quân đội cho cán bộ, chiến sĩ. Trong huấn luyện, cần tổ chức huấn luyện cho bộ đội sát với yêu cầu nhiệm vụ phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình", phi chính trị hoá" quân đội. Thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án chiến đấu đặc biệt coi trọng thành thục về kỹ thuật, chiến thuật, hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng, các bộ phận. Nắm vững phương châm và nguyên tắc để giải quyết đúng đắn, linh hoạt các tình huống phức tạp, nhất là các tình huống A2. Các nội dung huấn luyện phải quán triện rõ phương châm: "Lấy xây dựng bên trong là chính để hỗ trợ cho bên ngoài" và ngược lại. Quá trình giáo dục, huấn luyện phải được cụ thể hoá vào trong nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình", sát với nhiệm vụ tác chiến khu vực phòng thủ, nhiệm vụ A2. Kết hợp giáo dục, huấn luyện toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các bộ phận hoạt động nhỏ bé, xa đơn vị và khi làm nhiệm vụ đột xuất.

          Công tác tư tưởng cần hướng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Trước khi bước vào giai đoạn huấn luyện mới, vào hình thức mới cần tổ chức quán triệt, nâng cao ý thức trách nhiệm trong huấn luyện cho bộ đội. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cần bám sát từng hình thức phù hợp. Đồng thời công tác tư tưởng cần bám sát từng đối tượng phân tích đúng, kịp thời diễn biến tư tưởng của bộ đội, để có biện pháp phối hợp với hoạt động giáo dục, huấn luyện tạo định hướng đúng đắn tư tưởng cho bộ đội.

Hai là: Tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình” của địch.

          Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, chức năng trong lãnh đạo, tổ chức đấu tranh chống "diễn biến hoà bình" của địch. Hàng tháng, hàng quý, trong từng nhiệm vụ, căn cứ vào nghị quyết của cấp trên, tình hình thực tiễn của đơn vị, nhất là tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, âm mưu, thủ đoạn cụ thể của địch ở khu vực đóng quân, xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp. Tập trung chăm lo giáo dục, rèn luyện đảng viên, nhất là nâng cao giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội, đơn vị, nhiệm vụ cụ thể của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Những yêu cầu về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống cho mọi cán bộ đảng viên, làm cho mỗi đảng viên của chi bộ, đảng bộ, thực sự mẫu mực về mọi mặt cho mọi người học tập và noi theo. Đồng thời, uốn ắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng. Động viên hướng dẫn đội ngũ đảng viên tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, đạo đức cách mạng. Coi đó là một nhiệm vụ bắt buộc của người đảng viên. Định kỳ kiểm tra rút kinh nghiệm kịp thời. Chi bộ, đảng bộ khuyết khích đảng viên tích cực tham gia và trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong đơn vị và khu vực đóng quân, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của địch.

          Chú trọng các biện pháp lãnh đạo quản lý tốt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Cần có kế hoạch quản lý chặt chẽ, phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo nắm chắc tình hình tư tưởng không để xẩy ra hiện tượng đột biến về tư tưởng. Kịp thời nắm bắt, giải quyết những tư tưởng mới nẩy sinh, nhạy bén trước những thủ đoạn, luận điệu chống phá của kẻ thù, những tác động tiêu cực của xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường. Nắm chắc diễn biến tình hình mọi mặt định hướng kịp thời đúng đắn nhận thức, tư tưởng cho mọi người khi có tình huống tư tưởng nảy sinh, hạn chế thấp nhất những sai sót, tiêu cực có thể xẩy ra.

          Trong củng cố xây dựng tổ chức, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là trong công tác kết nạp đảng viên, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ… Tiến hành thường xuyên, có chất lượng công tác kiểm tra, giám sát. Kịp thời xử lý đúng đắn những trường hợp vi phạm có liên quan đến vấn đề chính trị, không để xẩy ra hậu quả nghiêm trọng. Phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, nhất là vai trò cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cán bộ chuyên môn và vai trò của quần chúng trong các hoạt động nói trên. Kịp thời thông báo bằng những hình thức thích hợp tình hình đất nước, quân đội, đơn vị các hoạt động phá hoại của "diễn biến hoà bình" nhất là khu vực đóng quân của đơn vị. Định hướng nhận thức đúng đắn giúp mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có ý thức cảnh giác cao, tin tưởng và chủ động trong các hoạt động. Làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nhiệm đơn vị và trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" làm cho chi bộ, đảng bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng ở đơn vị cơ sở. Trực tiếp làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của địch từ cơ sở.

          Ba là: Không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của địch.

          Để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị, phải đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp giáo dục cho phù hợp với từng đối tượng và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị. Tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu, thủ đoạn chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Thường xuyên thông tin những diễn biến tình hình trong nước và trên địa bàn đóng quân, nhằm làm cho bộ đội thấy hết tính chất nguy hiểm, phức tạp của chiến lược "diễn biến hoà bình". Nắm vững phương châm: Tích cực, chủ động, kịp thời, kiên quyết, lấy phòng ngừa là chính. Trên cơ sở đó phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, luôn luôn đề cao cảnh giác với những phương thức tác động từ xa như: Đài phát thanh, tranh ảnh, băng hình, sách báo phản động đồi truỵ tác động thâm nhập vào đơn vị.

          Duy trì thường xuyên các hình thức thông báo chính trị, nói chuyện thời sự, đọc báo, điểm báo, bản tin truyền thanh, bản tin tuần, thi tuyên truyền viên cũng như các hình thức sáng tạo khác. Khi cung cấp thông tin cho bộ đội phải bảo đảm tính tư tưởng, chân thực, có tác dụng giáo dục cho bộ đội và đẩy lùi các luồng thông tin từ các kênh không chính thức khác.

          Tích cực tổ chức cho bộ đội luyện tập thành thục các phương án bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong đơn vị và khu vực đóng quân, thực hành tuyên truyền giáo dục về âm mưu thủ đoạn của kẻ thù trong thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" với cách mạng nước ta cho nhân dân khu vực đóng quân. Kết hợp chặt chẽ giữa xây với chống, kịp thời đấu tranh với nhận thức tư tưởng sai trái trong cán bộ, chiến sĩ, nhất là những biểu hiện hoang mang dao động trước sự tấn công của chiến lược "diễn biến hoà bình" do các thế lực thù địch tiến hành với cách mạng nước ta. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với tự giáo dục, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong tập thể đơn vị, khen thưởng và xử phạt nghiêm minh, chính xác và kịp thời.

          Bốn là: Quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết những tư tưởng mới nẩy sinh trong đơn vị.

          Thường xuyên làm tốt công tác quản lý con người, quản lý tư tưởng bộ đội. Thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, quản lý đơn vị mọi mặt, phát huy dân chủ đề cao kỷ luật, triệt để chấp hành mệnh lệnh trong bất kỳ tình huống và hoàn cảnh nào, chủ động kiên quyết làm thất bại chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, ý đồ móc nối phá hoại nội bộ của ta, kịp thời phát hiện ý đồ phá hoại của địch để chủ động đối phó làm thất bại mọi âm mưu hành động phá hoại của chúng từ khi mới manh nha. Chủ động phát hiện những sơ hở thiếu sót của đơn vị trong quản lý nội bộ, phòng gian bảo mật, chấp hành các nội quy, chế độ ra vào doanh trại để chấn chỉnh kịp thời. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của bộ đội, không để kẻ địch lợi dụng, kích động, lôi kéo mua chuộc.

Nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội là một nội dung rất quan trọng, cấp thiết trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cư­ờng sức mạnh chiến đấu của quân đội trong giai đoạn mới của cách mạng. Thực hiện tốt các giải pháp trên góp phần xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội  một nội dung biện pháp quan trọng trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động.

         

 

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Biện pháp quan trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

 


 

Đại Hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”

Như vậy vấn đề xây dựng, chính đốn Đảng luôn là nhiệm vụ rất quan trọng, không chỉ một nhiệm kỳ, một giai đoạn mà cần được tiến hành thường xuyên, liên tục. Trong tình hình hiện nay, để xây dựng Đảng vững mạnh, đáp ứng đòi hỏi yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới, cần đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức, một trong những yếu tố bảo đảm sự trưởng thành, vững mạnh của Đảng.

 Trong xây dựng Đảng về đạo đức, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là nội dung quan trọng vì nó là căn nguyên gây ra nhiều hệ lụy, thậm chí có nguy cơ làm tổn hại đến chế độ chính trị, làm suy yếu Đảng. Nhận diện và chống chủ nghĩa cá nhân là công việc không đơn giản bởi công tác này đòi hỏi đảng viên phải vượt lên chính mình.

1. Nhận diện chủ nghĩa cá nhân

Chủ nghĩa cá nhân (cá nhân chủ nghĩa) là sự lệch lạc thái quá của con người cá nhân mà cái tôi đối lập, mâu thuẫn với điều thiện, điều tốt; mâu thuẫn và làm tổn hại lợi ích cộng đồng. Chủ nghĩa cá nhân trong chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam là sự biểu hiện tư duy và hành động lệch lạc của con người cụ thể nào đó, chỉ coi trọng lợi ích cá nhân của mình, bất chấp lợi ích của Đảng, Tổ quốc và nhân dân; đó là thái độ và hành động có hại cho cộng đồng (Đảng, Tổ quốc, nhân dân).

Có thể nhận diện chủ nghĩa cá nhân trong Đảng hiện nay trên năm mặt chủ yếu nhất sau:

Một, tách rời lợi ích của cá nhân mình với lợi ích của Đảng

Hai, chỉ vun vén cho lợi ích của cá nhân mình

Ba, coi cái tôi cao hơn tất thảy, bất chấp đường lối, chủ trương, điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước

Bốn, quan liêu, tham nhũng, lãng phí: Hồ Chí Minh coi tham nhũng, lãng phí, quan liêu là giặc nội xâm, thứ giặc nằm ngay trong mỗi người, nằm ngay trong tổ chức của hệ thống chính trị, có khi nó nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm.

Năm, phản bội Đảng, phản bội chế độ chính trị: Đây là biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa cá nhân, đe dọa vận mệnh của Đảng, của chế độ chính trị, vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Nhà nước và kỷ luật Đảng.

2. Một số giải pháp phòng, chống chủ nghĩa cá nhân

Một là, chống chủ nghĩa cá nhân phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực, hiện nay cần coi trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng và xây dựng tư cách người đảng viên. Vì Đảng là vấn đề “cốt tử” của cách mạng; “cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh”, Đảng có vững cách mạng mới thành công;  Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do từng đảng viên tốt…

Ba là, làm trong sạch môi trường văn hóa, đạo đức vừa là điều kiện, vừa là nhiệm vụ trọng tâm của chống chủ nghĩa cá nhân. Vì,  Môi trường văn hóa đạo đức trong sạch thì không có đất sống cho chủ nghĩa cá nhân.

 Như vậy, yêu cầu đặt ra trong xây dựng Đảng về đạo đức là phải nhận diện rõ biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân để từ đó đấu tranh đẩy lùi, quét sạch từ trong Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng trong sạch, vững mạnh quyết định tới sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, sự tồn vong của chế độ. Hơn lúc nào hết, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải thấm thía lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(11). Làm được như vậy sẽ góp phần xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, đấu tranh làm thất bại với âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng của các thế lực thù địch.

PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 


Chiến lược "diễn biến hoà bình" là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta., giành thắng lợi cho chủ nghĩa tư bản mà không cần chiến tranh.

Hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang gia tăng các biện pháp “diễn biến hoàn bình” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với ý đồ đẩy nhanh sự chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt nam, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng lái chúng ta theo con đường tư bản chủ nghỉa. Đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, chúng tập trung chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm tạo sự chuyển hoá từ bên trong nội bộ Đảng, nhà nước về tư tưởng, quan điểm, đường lối,, nhất là nền tảng tư tưởng của Đảng. Lợi dụng sụ phát triển của khoa học truyền thông, các thế lực thù địch và bọn cơ hội, phản động ra sức xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ.

 Thực hiện ý đồ trên, các thế lực thù địch dùng các biện pháp thủ đoạn như móc nối kích động nhiều người, nhiều đối tượng tham gia viết bài, tuyên truyền bộc lộ quan điểm trái với đường lối quan điểm của Đảng theo phương châm "mỗi người chỉ là một giọt nước" nhưng nhiều giọt nước sẽ ngấm dần, nhằm phân hoá nội bộ, chuyển hoá dần từ trong Đảng ra ngoài xã hội. Mặt khác chúng đẩy mạnh tuyên truyền gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hoá phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước chuyển hoá tư duy, nếp nghĩ, quan điểm của cán bộ đảng viên, quần chúng, nhất là thế hệ trẻ theo hướng đối lập với quan điểm tư tưởng của Đảng. Hiện tượng cơ hội dưới nhiều hình thức cả về kinh tế, chính trị đang diễn ra hết sức phức tạp và có xu hướng ngày càng tăng, những hiện tượng đó không chỉ tác động xấu đến xã hội mà còn phản ánh tính chất phức tạp và quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội ta hiện nay.

Tình hình trên đặt ra đòi hỏi đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn  dân, cả cả hệ thống chính trị, trong đó quân đội cos vai trò đặc bietj quan trọng. Để góp phần làm thất bại “diễn hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, Quân đội với tư cách là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bảo vệ Đảng, Nhà hước và nhân dân cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:

Một là: thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho cán bộ chiến sỹ. Bởi vì bản lĩnh chính trị của bộ đội ta là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội và từng đơn vị, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi của bộ đội. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ quân đội vững vàng sẽ là điểm tựa vững chắc để quân đội đủ sức mạnh đấu tranh với các thế lực thù đich.

Hai là: Phải xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu , luyện tập thành thạo mọi phương án không để bị bất ngờ khi có tình huống sảy ra.

Đây là giải pháp quan trọng trực tiếp làm thất bại âm mưu thủ đoạn phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hoá sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị tư tưởng của mỗi cán bộ chiến sỹ trong quân đội. Là cơ sở bảo đảm cho mọi cán bộ chiến sỹ giữ vững niềm tin vào thắng lợi khi tình huống diễn biến phức tạp xảy ra.

Ba là: lãnh đạo duy trì chặt chẽ công tác quản lý nội bộ, ngăn chặn và đập tan các hoạt động chiến tranh tâm lý, gián điệp, tình báo của địch. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, một trong những nội dung của công tác đảng, công tác chính trị. Trong tình hình hiện nay, vấn đề này càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết,.

Bốn là: Phát huy vai trò của các tổ chức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên trong việc phòng chống diễn biến hoà bình về chính trị tư tưởng.

Năm là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan những biến động bạo loạn xảy ra.

Phòng chống "diễn biến hoà bình", của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức Đảng và người chỉ huy trong các cơ quan, đơn vị quân đội phải đề cao trách nhiệm, thường xuyên chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo; phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là chính ủy, chính trị viên, cán bộ chính trị các câp!TH

 

BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


 Nhìn lại lịch sử từ khi Học thuyết Mác ra đời, đặc biệt sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công đến nay, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, xét lại không lúc nào ngừng công kích, chống phá chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, sau khi, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu lâm vào thoái trào, làn sóng phê phán học thuyết Mác càng trở nên dữ dội. Những kẻ cơ hội, phản động hý hửng tuyên bố về sự “cáo chung” của chủ nghĩa xã hội. Chúng viện dẫn nhiều lý do nhằm tẩy chay, quy chụp, bài sích chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhưng với bản chất cách mạng và khoa học, Học thuyết Mác - Lênin đã khẳng định sức sống mãnh liệt, đồng hành cùng nhân lọai trong cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do của mỗi dân tộc. Trên thực tế, lý luận khoa học của học thuyết Mác - Lênin đã và đang soi đường cho nhiều dân tộc vùng lên đấu tranh giành quyền sống, quyền làm người.

Hiện nay, các thế lực thù địch cùng các phần tử cơ hội, xét lại vẫn không ngừng công kích, phủ bác chủ nghĩa Mác- Lênin, ra sức tán dương các quan điểm ngoài mác- xít. Đây là sự cố tình che đậy bản chất xấu xa của chủ nghĩa tư bản, con “quỷ giữ” của những người dân chân chính.

Thử hỏi, trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, liệu đã có học thuyết nào mang tính nhân văn, nhân đạo cao cả, có sức cổ vũ, thuyết phục, tập hợp được hàng trăm các dân tộc cùng hàng tỷ người trên thế giới đứng lên đấu tranh để xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột, lệ thuộc, như học thuyết Mác- Lê nin? Nếu không có Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, không có chủ nghĩa xã hội được xây dựng và phát triển trên đất nước Nga Xô- viết, thì làm sao loài người có thể tiêu diệt được những con “quái vật” chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai? Nếu không có một hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, thì nhân loại sẽ ra sao? Và chắc chắn nhân loại sẽ còn phải chứng kiến không ít cuộc chiến tranh tàn khốc do các thế lực hiếu chiến gây ra...

Trong những thập kỷ tới của thế kỷ 21, học thuyết Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Song, cần khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác- Lênin vẫn có ảnh hưởng rất sâu sắc trong đời sống nhân loại, vẫn đứng vững trong cuộc đấu tranh của những người cộng sản và nhân dân lao động, kể cả ở những nước mà chế độ xã hội chủ nghĩa tan rã. Giá trị bền vững của học thuyết Mác-Lênin, hình ảnh các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên...luôn vững vàng, hiên ngang trước mọi sự tấn công ác hiểm của các thế lực thù địch và bọn phản động quốc tế, là bằng chứng hùng hồn về sức sống hiện thực của chủ nghĩa Mác- Lênin, của chủ nghĩa xã hội. Đây chính là nguồn cổ vũ lớn lao cho những người cộng sản chân chính và nhân dân các dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp của nhân loại.

Đối với cách mạng Việt Nam, sức sống của chủ nghĩa Mác- Lênin đã thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của cách mạng từ khi thành lập Đảng đến nay. Chính Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, người có công truyền bá và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho chủ nghĩa Mác- Lênin luôn tràn đầy sức sống hiện thực. Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản; chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Từ đó, Người tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối, cương lĩnh độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đường lối đúng đắn đó đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong hơn 91 năm qua, đặc biệt những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 35 năm qua là bằng chứng sinh động chứng tỏ giá trị bền vững của học thuyết Mác - Lênin, chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trên Tổ quốc Việt Nam của chúng ta, củng cố vững chắc niềm tin, niềm tự hào cho mỗi đảng viên, cán bộ và nhân dân ta vào chủ nghĩa Mác- Lênin, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đúng như Nhà triết học người Pháp Đeriđa từng nói: “Tư tưởng của Mác đã làm nên lịch sử thế kỷ XX. Tư tưởng của Mác vẫn là tư tưởng của thế kỷ XXI. Nhân loại sẽ không có tương lai nếu không có tư tưởng của Mác”. Đó là sự khẳng định giá trị vĩnh hằng của Học thuyết Mác nói chung, tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Mác nói riêng. Đó cũng là sự phủ nhận những quan điểm, lý luận đòi phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lênin trong giai đoạn hiện nay.TH

 TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM “SỰ THẬT KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC”

Thời gian gần đây tiếp tục xuất hiện những thông tin sai lệch, tiêu cực, những đánh giá phiến diện về tình hình hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Thực tế đó càng cần thiết phải lên tiếng bảo vệ sự thật, bảo vệ lẽ phải, tái khẳng định chính sách đúng đắn cũng như những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Thực tế hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cho thấy rõ ràng chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các công dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân... Chính sách đó đã luôn được Nhà nước Việt Nam khẳng định và thực hiện nhất quán.
Cũng có thể khẳng định rằng, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay khá sôi động, đa dạng với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhiều tổ chức tôn giáo và mô hình tổ chức tôn giáo. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ trọng, lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành... được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Cùng với sự phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam cũng không ngừng gia tăng trong những năm gần đây.
Sự ra đời của các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt đối xử giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào, dù là nội sinh hay truyền từ nước ngoài, tôn giáo đã ổn định hay mới được công nhận, miễn sao hoạt động của họ nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dư luận của tuyệt đại bộ phận chức sắc, tín đồ cũng thừa nhận rằng, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, phù hợp, không có cản trở nào trong các hoạt động và sinh hoạt tôn giáo của họ.
Sự thật là thế, vậy mà những năm gần đây, trong các báo cáo tự do tôn giáo của một số nước lại đề cập đến Việt Nam với những thông tin sai lệch, vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân. Họ cho rằng Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp một số tín đồ tôn giáo. Bên cạnh đó, còn một bộ phận nhỏ chức sắc, tín đồ của một số tôn giáo cho rằng họ không được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; rêu rao rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, Nhà nước Việt Nam xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của giáo hội...
Những đánh giá ấy chẳng những không phản ánh đúng bản chất tình hình mà thậm chí cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thực chất đây không chỉ là những nhận thức sai lệch, mà xuất phát từ âm mưu, mục đích chính trị, nhằm lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta và chính quyền các cấp./.

 RẢ GIÁ THÍCH ĐÁNG.

Trịnh Bá Phương 10 năm tù và Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù về cùng tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Ngày 15/12, Tòa án nhân dân TP.Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm 2 bị cáo: Trịnh Bá Phương (SN 1985) và Nguyễn Thị Tâm (SN 1972), cùng trú quận Hà Đông, Hà Nội về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân TP.Hà Nội, vào các ngày 9, 10, 11/1/2020, lực lượng quân đội thực hiện xây dựng tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn và Công an TP.Hà Nội thực hiện công tác bảo vệ an ninh trật tự tại địa bàn xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Lợi dụng mạng xã hội Facebook, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm đã thực hiện việc phát trực tiếp các video, đăng tải các bài viết, trạng thái, chia sẻ trên tài khoản cá nhân “Trịnh Bá Phương”, “Nguyễn Thị Tâm”, “Tâm Dương Nội” các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm.
Những thông tin và nội dung phát tán, chia sẻ này đã xuyên tạc, bịa đặt tình hình diễn ra tại Đồng Tâm, phỉ báng chính quyền nhân dân, kích động nhân dân chống đối chính quyền, thóa mạ, hạ uy tín lực lượng chức năng, xúc phạm uy tín danh dự của người khác, gây hoang mang trong nhân dân, nhằm mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các thông tin và nội dung phát tán của Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm đã thu hút nhiều lượt người xem, tương tác, chia sẻ, bình luận có nội dung tiêu cực, phản đối chính quyền, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước.
Ngoài ra, Trịnh Bá Phương còn có hành vi tàng trữ 1 tài liệu dạng sách gồm 278 trang, trong đó trang bìa có in các dòng chữ “Phạm Đoan Trang”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Luật Khoa tạp chí”. Qua giám định đã kết luận tài liệu này có nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.
Hội đồng xét xử nhận định, hành vi của các bị cáo gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước; đe dọa phá vỡ sự vững mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây ảnh hưởng đến uy tín và sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cá nhân; gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội, chính trị của Nhà nước và từng địa phương.
Các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 2 lần trở lên” để xử phạt các bị cáo hình phạt tù nghiêm khắc, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Trịnh Bá Phương không khai nhận hành vi phạm tội, không thành khẩn, chống đối. Ngoài hình phạt chính, căn cứ quy định tại các Điều 43 và Điều 122 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là quản chế các bị cáo một thời gian sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
Trên cơ sở đó, Tòa đã tuyên phạt 2 bị cáo: Trịnh Bá Phương 10 năm tù và Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù về cùng tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngoài hình phạt tù, Tòa còn tuyên phạt quản chế bị cáo Phương 5 năm, quản chế bị cáo Tâm 3 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù./.

BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN ĐẤT

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

            

 

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 25/1 đến ngày 01/2/2021 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã thông qua Báo cáo Chính trị; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030; Báo cáo kết quả thực hiện  nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025; Báo cáo về công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng.

 Đại hội diễn ra tại một thời điểm lịch sử trọng đại: Đất nước trải qua hơn 35 năm đổi mới và đạt được những thành tựu quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bât. Thời điểm lịch sử đã đặt ra cho Đại hội nhiệm vụ nhận diện bối cảnh phát triển mới, đề ra đường lối chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, bảo đảm chủ quyền, quốc gia giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường hòa bình, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước.

Hai là, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong phát triển kinh tế - xã hội; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa ; giữa độc ;ập tự chủ và hội nhập quốc tế… Phải kịp thời đổi mới  tư duy và hành động, thực hiện tốt công tác dự báo, bảo đảm đánh giá đúng, đầy đủ, kịp thời, chủ động thích ứng với những biến động khó lường của thế giới; phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực , trong đó nội lực là quyết định.

Ba là, thể chế, pháp chế phải được xây dựng cơ bản đầy đủ, đồng bộ với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; cải cách bộ máy chính quyền các cấp, xây dựng nhà nước kiến tạo, phát triển, liêm chính, hành động là nền tảng. Coi trọng tính cân đối, hiệu quả trong tất cả các khâu huy động, phân bố, sử dụng các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Phải coi trọng đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, nhất là quản lý, phát triển và quản lý xã hội.

Bốn là, lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển  và sức mạnh của nhân dân.

 Năm là, xác định giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là nền tảng quan trọng và là động lực chủ yếu trong phát triển đất nước để bắt kịp sự phát triển của khu vực và thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu.

Những bài học trên đây có ý giá trị lý luận, thực tiễn to lớn, là cơ sở chính trị sâu sắc để Đảng ta đề ra đường lối lãnh đạo phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại trong những thập niên tiếp theo.

Những thành tựu của đất nước trong hơn 35 năm đổi mới mà trực tiếp là trong nhiệm kỳ Đại hội XII bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt, hợp quy luật của Đảng; tinh thần đoàn kết, thống nhất; sự chung sức, đồng lòng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là minh chứng cho sự lựa chọn đúng đắn mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Từ thực tiễn lãnh đạo đất nước, Đảng ta đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngang tầm nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới, đó là:

Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển  sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lên nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị.

Hai là, phải đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trước hết trong Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp. Người đứng đầu cấp ủy các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, nhân dân lên trên hết, trước hết. Thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng.

Ba là, phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt” của công tác xây dựng Đảng, có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ; cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy phải đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu thực sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân.

Bốn là, xây dựng Đảng phải gắn kết chặt chẽ với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài; chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách; đồng thời xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá.

Năm là, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, cách làm bài bản, dân chủ, chắc chắn và có bước đi phù hợp; kiên trì, cầu thị, lắng nghe; không cầu toàn, không chủ quan nóng vội, mất cảnh giác và không tự mãn với thành tích đã đạt được. Đối với việc mới, khó, phức tạp thì tiến hành thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, tìm ra cách làm phù hợp, hiệu quả nhất để nhân rộng.

Những bài học kinh nghiệm trên sẽ được Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát triển trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức, không ngừng phát triển trong bối cảnh và tình hình mới.

 

 

Xây dựng Đảng về tổ chức, nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy hiệu lực của công tác đảng, công tác chính trị

 

Xây dựng Đảng về tổ chức là xây dựng hệ thống tổ chức lãnh đạo của Đảng ở các cấp từ Quân uỷ Trung ương đến các đơn vị cơ sở, làm cho các tổ chức đảng thực sự trong sạch vững mạnh, có số lượng phù hợp, chất lượng cao, có lập trường tư tưởng vững vàng, trình độ lãnh đạo toàn diện. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, bảo đảm cho các tổ chức đảng thực sự là hạt nhân đoàn kết, hạt nhân lãnh đạo trong đơn vị; phát huy được sức mạnh của tập thể để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao; Đó là vấn đề cơ bản nhất về mặt tổ chức để tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, tập trung thống nhất về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Kết quả xây dựng Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định:

      - Một là : Để xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp, vấn đề cơ bản nhất là phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ; lãnh đạo tập thể đi đôi với cá nhân phụ trách, phát huy trách nhiệm cá nhân của người chỉ huy và người phụ trách công tác đảng, công tác chính trị.

Hai là: Tăng cường sự đoàn kết nhất trí, giữ vững kỷ luật tự giác và nghiêm minh là một biểu hiện tập trung sức mạnh chiến đấu của các tổ chức đảng.

Ba là: Nắm vững xây dựng tổ chức cơ sở đảng, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ đảng viên và đào tạo rèn luyện cán bộ là khâu then chốt.

Bốn là: Ra sức xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh, phát huy đầy đủ chức năng của các tổ chức quần chúng ở cơ sở, trước hết là tổ chức đoàn thanh niên ở đại đội và tổ chức công đoàn ở xí nghiệp.

Trên đây là những kinh nghiệm chủ yếu về xây dựng Đảng bộ quân đội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là sự kế thừa, phát triển kinh nghiệm xây dựng Đảng trong kháng chiến chống Pháp, là kết quả thực hiện nghiêm túc những quy định của Điều lệ Đảng và sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối, phương châm, nguyên tắc xây dựng Đảng phù hợp với thực tiễn chiến đấu của quân đội trong kháng chiến chống Mỹ. Đó là kinh nghiệm vừa chiến đấu, vừa xây dựng Đảng, là sự thành công trong việc xây dựng hệ thống tổ chức lãnh đạo trong các lực lượng vũ trang của Đảng ta. Bảo đảm cho các tổ  chức đảng Đảng trong các lực lượng vũ trang đủ sức lãnh đạo đơn vị hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.TH

 


Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng và công tác tổ chức trong xây dựng Đảng bộ quân đội vững mạnh về chính trị thời kỳ chống Mỹ


Đảng ta luôn nắm vững công tác tư tưởng, luôn xác định công tác tư tưởng có vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Kinh nghiệm cho thấy: bất cứ công việc gì muốn làm tốt, trước hết phải thông suốt tư tưởng và muốn làm tốt công tác cho toàn quân thì trước hết phải làm tốt công tác tư tưởng trong nội bộ Đảng, làm từ trong Đảng ra ngoài quần chúng.

Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng, tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trên mọi lĩnh vực là vấn đề có tính nguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, đồng thời cũng là nguyên tắc của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Để phát huy hiệu lực của công tác tư tưởng đòi hỏi:

Một là: Nắm vững tính giai cấp, tính đảng của công tác tư tưởng. Bởi công tác tư tưởng là vấn đề rộng lớn, bao gồm cả thế quan, nhân sinh quan, cả lý luận cách mạng và kiến thức văn hoá cần thiết; đấu tranh tư tưởng là biểu hiện của đấu tranh giai cấp; đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng giữa ta và địch trong chống Mỹ, chúng ta phải phấn đấu để tăng cường hiệu lực công tác tư tưởng, trước hết là nâng cao tính giai cấp, tính đảng của công tác tư tưởng.

Hai là: Phải nắm vững tính khoa học của công tác tư tưởng. Đó là tính khách quan, phản ánh đúng bản chất quy luật vận động của sự vật. Hơn nữa đối tượng tác động của công tác tư tưởng là con người và tổ chức, do đó quá trình tiến hành phải hết sức khoa học, tỉ mỉ, phải bám sát vào thực tiễn của đất nước và quân đội.

Ba là: Nâng cao tinh thần chiến đấu của công tác tư tưởng, đó là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, là cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng vô sản với hệ tư tưởng tư sản trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xã hội.

Trong cuộc đấu tranh đó, công tác tư tưởng đã không ngừng xây dựng cho cán bộ, đảng viên và toàn quân có lập trường chiến đấu kiên định, có quan điểm nhìn nhận, đánh giá đúng đắn về so sánh lực lượng địch - ta; luôn đấu tranh chống mọi biểu hiện hữu khuynh, tiêu cực. Trong công tác tư tưởng phải có sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, kiên quyết giữ vững những vấn đề thuộc về đường lối, nguyên tắc, đề cao phê bình và tự phê bình qua đó làm cho cán bộ, chiến sỹ thấy rõ ưu điểm, khuyết điểm, tạo sự đoàn kết thống nhất cao trong thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, không mất tự tin trong những tình huống gay go, ác liệt nhất.

Bốn là: Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức, phát huy đồng bộ sức mạnh của tư tưởng và tổ chức. Công tác tư tưởng nhằm phục vụ thực hiện thắng lợi đường lối nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng; tuy vậy tư tưởng dù tốt đến đâu cũng không thể thay thế được tổ chức, cũng như tổ chức mà không có tư tưởng tốt thì cũng không mạnh, không phát huy được hiệu lực. Vì vậy, phải kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức thì mới tạo nên sức mạnh tổng hợp. Giải quyết thông suốt tư tưởng phải đi đôi với giải quyết tốt về tổ chức, đó là biện pháp hữu hiệu làm cho công tác tư tưởng và công tác tổ chức gắn bó với nhau. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác đảng, công tác chính trị đã có nhiều cố gắng trong việc kết hợp giữa công tác tư tưởng và công tác tổ chức, do đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù.TH

 

 

 

 


Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị - vấn đề cơ bản nhất trong công tác xây dựng Đảng

 

Xây dựng Đảng bộ quân đội vững mạnh về chính trị phải căn cứ vào nguyên lý xây dựng Đảng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng; những nguyên tắc xây dựng Đảng, xây dựng quân đội cách mạng để xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội vững mạnh, xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối nhiệm vụ chính trị, quân sự của Đảng. Muốn vậy phải: Thường xuyên tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho các lực lượng vũ trang nhân dân, bảo đảm cho các lực lượng đó luôn trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng; Đoàn kết chặt chẽ xung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, chấp hành nghiêm chỉnh hiến pháp và pháp luật Nhà nước, phát huy dân chủ, đề cao kỷ luật, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu để đánh thắng kẻ thù, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thực hiện thống nhất nước nhà, hăng hái lao động sản xuất và làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị là nâng cao trình độ lãnh đạo chính trị của các tổ chức đảng. Đảng lãnh đạo mọi mặt, nhưng quan trọng nhất là lãnh đạo chính trị, định hướng chính trị đúng cho mọi hoạt động của quân đội. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, Đảng ta xác định: Quân đội phải từng bước tiến lên chính quy, hiện đại, để nâng cao sức chiến đấu, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Quân đội đã tích cực phấn đấu xây dựng, tạo ra được chất lượng mới của sức mạnh chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Cùng với quá trình đó, Đảng còn xác định nguyên tắc xây dựng quân đội chính quy, hiện đại phải lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Các tổ chức đảng trong quân đội vừa coi trọng xây dựng quân đội về chính trị, vừa đổi mới nâng cao trình độ lãnh đạo làm chủ vũ khí, khoa học kỹ thuật hiện đại. Khi miền Bắc tiến hành cải cách ruộng đất và sửa chữa những sai lầm khuyết điểm trong cải cách ruộng đất, thực hiện công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng đã xác định rõ thái độ và nhiệm vụ chính trị của quân đội ta là phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, tích cực tham gia cải cách ruộng đất, giữ vững những thắng lợi đã giành được, đồng thời khắc phục những khuyết điểm sai lầm trong cải cách ruộng đất, góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị xã hội, góp phần củng cố nền chuyên chính vô sản, thực hiện đường lối của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ chính trị. Trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, Đảng đã xác định rõ kẻ thù, đối tượng tác chiến, đường lối tiến hành chiến tranh và nhiệm vụ chính trị của quân đội trong từng thời kỳ, từng giai đoạn. Khi thời cơ đến, Đảng chủ trương kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, trong đó xác định rõ đấu tranh quân sự là quyết định, chức năng của quân đội là chiến đấu, nhiệm vụ của quân đội là đánh thắng địch trên chiến trường...

Nhờ có định hướng chính trị đúng đắn của Đảng trong suốt quá trình xây dựng và chiến đấu mà quân đội ta luôn vững vàng về mọi mặt, không ngừng lớn mạnh và chiến thắng. Giữ vững đường lối, quan điểm chính trị và bản chất giai cấp công nhân của Đảng là vấn đề sống còn của quân đội. Quân đội tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Ban Chấp hành Trung ương, kiên định nguyên tắc lãnh đạo tập thể và vấn đề sinh mệnh chính trị, đã làm cho quân đội luôn vững vàng, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, Đảng bộ quân đội và cán bộ chiến sỹ trong quân đội còn bộc lộ những điểm yếu kém cần khắc phục như tư tưởng hoài nghi, dao động nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, hy sinh ác liệt, trong những bước ngoặt của cách mạng...Những vấn đề đó ít nhiều đều ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu, tinh thần tích cực tiến công địch của bộ đội.

Qua kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cho thấy: Lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, các cấp uỷ đảng và cơ quan chính trị phải xác định rõ nội dung chính trị mà các tổ chức đảng phải nắm vững để lãnh đạo trong từng thời kỳ, từng thời gian, những lúc có nhiều nhiệm vụ khác nhau, phải làm rõ nhiệm vụ chính trị trong lúc tình hình phức tạp, tích cực đề phòng và ngăn ngừa những hiện tượng sai trái. Phải nắm vững những nguyên tắc để tránh xa vào những việc cụ thể mà chệch phương hướng, phải nhạy bén, nắm bắt và xử lý kịp thời những vấn đề mới phát hiện để có định hướng đúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ. Đồng thời phải dự kiến được sự tác động của các hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong đơn vị cũng như bên ngoài để chủ động ngăn ngừa, bảo đảm giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng của quân đội. Đó là nguyên tắc và là điều kiện cơ bản để phát huy hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong hoạt động thực tiễn.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta diễn ra trong tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau về giữ gìn hoà bình và cách mạng giải phóng dân tộc. Điều đó đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết tâm chiến đấu của bộ đội, ảnh hưởng đến niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, giảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng...Vì vậy, một nội dung rất quan trọng để xây dựng quân đội về chính trị là rèn luyện tinh thần triệt để cách mạng, thấu suốt quan điểm của Đảng về độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế. Đảng bộ quân đội đã chú trọng làm cho mọi tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên trong toàn quân thấu suốt quan điểm của Đảng, nhất trí cao với chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, làm cho mọi người hiểu đầy đủ sự thật, nắm vững chân lý, giữ gìn sự đoàn kết quốc tế. Thực tế đã chỉ rõ: Trong xây dựng Đảng bộ quân đội về mặt chính trị, cần phải coi trọng đến yêu cầu nhiệm vụ quốc tế, phải xây dựng tinh thần quốc tế vô sản trong sáng. Đảng ta đã xác định: Nhiệm vụ quốc tế là một nhiệm vụ lâu dài, lớn lao của quân đội, là vấn đề thuộc về bản chất giai cấp công nhân và là nguyên tắc chính trị trong xây dựng quân đội cách mạng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Đảng bộ quân đội đã quán triệt nhiệm vụ này vào công tác xây dựng Đảng, thường xuyên rèn luyện đảng viên, tăng cường mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa cách mạng Việt nam với cách mạng Lào và Căm pu chia trên cơ sở độc lập, tự chủ, sẵn sàng làm tốt nhiệm vụ quốc tế cao cả với quan điểm “ giúp bạn là tự giúp mình”, trong quan hệ quốc tế phải khắc phục mọi biểu hiện chủ nghĩa nước lớn, áp đặt, ích kỷ, hẹp hòi dân tộc, luôn cảnh giác chống sự phá hoại của kẻ thù và ảnh hưởng của mọi tư tưởng cơ hội.TH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Xây dựng đảng bộ quân đội bao giờ cũng phải xây dựng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức - Bài học quan trọng từ thực tiễn kháng chiến chống Mỹ cứu nước

  

Bài học quan trọng nhất về xây dựng Đảng là phải xuất phát từ yêu cầu của đường lối, nhiệm vụ chính trị và quân sự của Đảng, thường xuyên chăm lo xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng bộ có trong sạch vững mạnh thì đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mới được quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện có hiệu quả, mới có khả năng tập hợp lực lượng để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Quân đội ta đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung, thống nhất về mọi mặt của Đảng. Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, luôn luôn hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho. Với chức năng cơ bản là chiến đấu thắng lợi để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng và làm tròn nhiệm vụ Quốc tế; Vì vậy, nhiệm vụ chính trị cơ bản hàng đầu của quân đội là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Do đó, xây dựng Đảng bộ quân đội phải xuất phát đầy đủ từ yêu cầu thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị và quân sự của Đảng, làm tròn chức năng cơ bản của lực lượng vũ trang nhân dân. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác xây dựng Đảng đã bám sát theo phương châm đó, đã làm cho lực lượng vũ trang phát huy được bản chất cách mạng, nâng cao sức mạnh chiến đấu, vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành sứ mệnh là cùng toàn Đảng, toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ quân đội đã thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; công tác xây dựng Đảng luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của điều lệ Đảng, vận dụng sát thực tiễn, đặc điểm, nhiệm vụ quân đội, luôn lấy kết quả lãnh đạo nhiệm vụ chiến đấu làm cơ sở để đánh giá công tác xây dựng Đảng. Đồng thời kiên quyết đấu tranh khắc phục những khuynh hướng, tư tưởng lệch lạc như: không nắm vững đường lối chính trị để tập trung lãnh đạo, không lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị để đánh giá chất lượng đảng bộ...không nắm vững nguyên tắc, nội dung cơ bản trong xây dựng Đảng mà chạy theo  việc hoàn thành nhiệm vụ trước mắt, coi nhẹ việc rèn luyện đội ngũ đảng viên, chưa quan tâm đến kiện toàn cấp uỷ, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ thiếu nghiêm túc, phân công nhiệm vụ không rõ ràng...những khuynh hướng đó đều dẫn đến tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thiếu vững chắc về chính trị, chỉ nhất thời hoàn thành được một số nhiệm vụ trong hoàn cảnh nào đó, còn mặt khác thì sút kém, thiếu sự cố gắng vươn lên, dẫn đến khi gặp khó khăn thì phức tạp nản chí, cán bộ đảng viên đó dao động, bộc lộ nhiều quan điểm, tư tưởng sai trái...Kinh nghiệm cho thấy, trong xây dựng Đảng phải coi trọng xây dựng tất cả các mặt, nhưng trước hết phải xây dựng sự vững mạnh về chính trị; tất cả các mặt trong xây dựng Đảng có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau, do đó không được coi nhẹ bất cứ mặt nào, song trước hết phải chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị, vì chính trị bao giờ cũng giữ vai trò chỉ đạo, định hướng cho tư tưởng và tổ chức; tư tưởng, tổ chức phải nhằm phục vụ và bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ chính trị. Do đó, trong xây dựng Đảng phải kiên quyết đấu tranh, khắc phục mọi biểu hiện coi nhẹ, xem thường, hoặc tách rời, đối lập giữa các mặt trong công tác xây dựng Đảng...TH