Thứ Bảy, 18 tháng 12, 2021

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: NGÀY NÀY NĂM XƯA "ĐÊM 18/12/1972, MỸ MỞ CUỘC TẬP KÍCH CHIẾN LƯỢC BẰNG B52 VÀO HÀ NỘI, HẢI PHÒNG"!

      Để thực hiện âm mưu gây sức ép buộc Hà Nội phải trở lại Hội nghị Paris, Mỹ điên cuồng mở cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 và nhiều loại máy bay khác vào thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng vào đêm 18-12-1972.

Chúng đã tập trung một nửa lực lượng không quân chiến lược và hầu hết lực lượng không quân chiến thuật mà chúng có ở Đông Nam Á để tiến hành cuộc tập kích này. Nhưng quân và dân ta cảnh giác cao, chiến đấu giỏi, đã thắng trận đầu hết sức giòn giã, bắn rơi 7 máy bay Mỹ trong đó có 3 chiếc B-52 và 1 chiếc F111, bắt sống nhiều giặc lái./.






Yêu nước ST.

CÂY TRE VIỆT NAM

      Trong ngày Hội nghị bàn về công tác ngoại giao, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có đưa ra hình tượng cây tre cho chính sách ngoại giao nước nhà. Từ xưa, cây tre Việt Nam là nguồn cảm hứng của nhiều tác phẩm thi ca.

Nhà thơ Viễn Phương khi ra Hà Nội, đứng trước lăng cụ Hồ, đã phải thốt lên:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

“Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

“Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng…”

Bài hát đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc, mỗi lần lời ca cất lên làm rung động bao con tim.


Vâng, có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm “bão táp mưa sa” nhưng “vẫn đứng thẳng hàng”. Phải, chỉ có những người có tấm lòng yêu nước mới nhận ra điều đó.


Làng Nguyễn của tỉnh Thái Bình, được nhà nước phong tặng danh hiệu “anh hùng” trong thhời kỳ chống Pháp vì suốt 9 năm kháng chiến, chưa một lần giặc có thể vào làng. Chỉ nhờ có lũy tre ken dầy quanh làng, cùng với hào sâu ngay bên ngoài lũy tre, dưới hào là những chiếc chông tre. 


Thật không khác gì cây tre trong bài thơ của nhà thơ Nguyễn Duy, trong đó có những câu:

“Thân gầy guộc, lá mong manh

“Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?...”


Viết đến đây lại nghĩ đến bài hát “Cô gái vót chông” mà người đẹp Việt Nam cất lên trên đất Mỹ, qua tiếng đàn T’rưng, một nhạc cụ cũng lại được làm bằng tre. Sau buổi trình diễn này có nhiều người lo sợ “sẽ làm mất lòng Mỹ”! Ơ hay sao hèn thế? Cả dân tộc ta đánh nhau với Mỹ suốt 20 năm, cuối cùng Mỹ phải cuốn cờ leo lên máy bay trực thăng để chạy khỏi nước Nam mà ta còn chẳng sợ mất lòng ai, huống chi chỉ là một bản nhạc không lời?


Nhà văn Thép Mới, khi nói về cây tre Việt Nam đã có một câu kết: “Cây tre Việt Nam! Cây tre xanh, nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. Cây tre mang những đức tính của người hiền là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam”. Thế đấy! Thế mà có những kẻ không nhận ra sức mạnh của tre, lại bắt chước kẻ thù, quay lại chê bai dân tộc mình. Chúng là những kẻ đớn hèn, là những cây tre tuy đứng trong cùng một khóm nhưng bên trong thân đã để cho sâu đục khoét. Những cây tre loại này không thể dùng làm rường cột cho ngôi nhà, chúng chỉ xứng đáng để làm chuồng trâu, chuồng lợn.


Trong thời gian chống Mỹ, nhà nước đã cử hàng chục ngàn học sinh qua nhờ Liên Xô đào tạo thành các nhà khoa học để sau này về xây dựng đất nước. Có những kẻ thấy sao người Việt giống cây tre quá, họ không hiểu được bản chất của cây tre, chỉ thấy rằng chúng có thể tồn tại và phát triển trên những môi trường cằn cỗi. Thế là có một bài viết, chê bai cả một dân tộc và có ý phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, đòi nhổ bỏ bụi tre nào đó.


Nhìn bề ngoài mà đánh giá thì có phần đúng, vì tre có thể trồng trên bất cứ chỗ nào miễn chỗ đó là đất của nước; tre không cần phân bón và những chiếc rễ tre bò lan đến đâu, đều có thể sinh con ở đó. Những cây măng tre, dù mới trồi lên khỏi mặt đất, chúng được bao bọc chỉ là một lớp áo mong manh, song cái đầu đã nhọn như một mũi mác chĩa thẳng lên trời đầy khí phách.

Bàn về cây tre Việt Nam thì còn dài lắm. Chúng ta là người Việt hãy tự hào về cây tre cũng như tự hào về những đức tính của dân tộc mình mà phần nào được thể hiện trong tố chất của những cây tre./.
Yêu nước ST.

NHIỀU BÀI HỌC SÂU SẮC TỪ THỰC TIỄN

     Đánh “giặc Covid-19” là nhiệm vụ chưa có tiền lệ, song qua hai năm quân đội tích cực hỗ trợ các địa phương phòng, chống dịch (PCD), một số bài học kinh nghiệm sâu sắc đã được rút ra. Đây là cơ sở quan trọng để toàn quân vận dụng, phát huy, nâng cao khả năng ứng phó với các bệnh truyền nhiễm mới cũng như các thách thức an ninh phi truyền thống...


Phản ứng nhanh, huy động tổng lực


Trước khi dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh là hai trọng điểm dịch ở miền Bắc. Đề cập đến công tác chỉ đạo quân đội hỗ trợ hai địa phương này PCD, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, để đảm bảo chi viện kịp thời cho các tỉnh, Bộ Quốc phòng đã tổ chức họp ngay trong ngày nghỉ.

Bộ trưởng cho phép chỉ huy các đơn vị vừa nhận nhiệm vụ, vừa triển khai kế hoạch công tác về đơn vị mình ngay trong cuộc họp. Nhờ đó, các lực lượng, phương tiện đã có mặt tại các tỉnh sớm hơn dự kiến, qua đó tạo ra lợi thế bước đầu vì đã tận dụng được tối đa thời gian cho công tác PCD.


Tại Bắc Ninh và Bắc Giang, Bộ Quốc phòng đã chi viện hơn 1.000 cán bộ, nhân viên quân y; triển khai 3 bệnh viện dã chiến truyền nhiễm (DCTN); một số xe và labo xét nghiệm SARS-CoV-2; thu dung, điều trị hơn 1.200 bệnh nhân, xét nghiệm hơn 475.000 mẫu, phát hiện hơn 2.200 ca dương tính. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bệnh viện Quân y (BVQY) 110 (Quân khu 1) cùng các đơn vị: Sư đoàn 3 (Quân khu 1), Sư đoàn 325 và Lữ đoàn 219 (Quân đoàn 2), Trường Quân sự Quân đoàn 2 đã điều động cán bộ, chiến sĩ tham gia làm nhiệm vụ ở các khu cách ly, bệnh viện dã chiến, các chốt kiểm soát; bảo đảm hậu cần; nhường doanh trại, cơ sở vật chất bảo đảm sinh hoạt cho hàng nghìn công dân về cách ly... Sau khoảng hai tháng, dịch Covid-19 đã được khống chế tại các tỉnh nói trên.


Tuy nhiên, khi dịch bùng phát tại TP Hồ Chí Minh, tiếp đến là một số tỉnh phía Nam, việc hỗ trợ các địa phương trở thành nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với quân đội, do phải huy động quân số tham gia lớn, đảm nhiệm nhiều công việc quan trọng. Đại tướng Phan Văn Giang cho biết, để giúp đỡ các địa phương PCD, quân đội đã huy động tối đa lực lượng, phương tiện. Các lực lượng đã được tăng cường huấn luyện bổ sung, nhất là thành phần tham gia lấy mẫu xét nghiệm Covid-19.


Ngoài lực lượng, phương tiện có thể được chuyên chở bằng máy bay vào phía Nam, một số trang bị, phương tiện phải cơ động bằng đường bộ. Để rút ngắn thời gian cơ động, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã yêu cầu các đơn vị bố trí 3 lái xe đảm nhiệm một phương tiện để có thể luân phiên lái, thay nhau nghỉ nhưng xe không nghỉ. Nhiều trang bị được nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất từ đòi hỏi của thực tiễn PCD; sản xuất xong, đưa ngay vào sử dụng ở tâm dịch, tiêu biểu như các xe labo xét nghiệm.


Ngay đầu đợt dịch, trong các cuộc họp của Bộ Quốc phòng về công tác PCD, Đại tướng Phan Văn Giang đã khẳng định, quân đội sẵn sàng xuất các loại vật chất, thuốc men và điều động các loại phương tiện, kể cả điều động máy bay để phục vụ công tác cấp cứu, điều trị, nhằm bảo vệ tính mạng của nhân dân.


Đợt dịch thứ tư, lực lượng quân đội tham gia hỗ trợ TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam PCD thời điểm cao nhất là hơn 138.000 người, riêng lực lượng quân y đã tăng cường hơn 9.700 đồng chí của 34 đầu mối đơn vị, 55 xe cứu thương, hàng chục xe và máy xét nghiệm; triển khai 13 cơ sở điều trị bệnh nhân Covid-19 với 6.500 giường bệnh; thành lập 660 tổ quân y cơ động, 510 tổ tiêm vaccine, hơn 1.100 tổ lấy mẫu xét nghiệm; chủ động dự báo, phối hợp sản xuất, đáp ứng nhu cầu oxy y tế để điều trị bệnh nhân.

Ngoài ra, trong năm 2021, quân đội cũng đã chi viện lực lượng, phương tiện hỗ trợ TP Hà Nội và tỉnh Hà Nam PCD. Thời điểm cao nhất trên toàn quốc đã huy động hơn 230.000 bộ đội, dân quân tự vệ (DQTV); sử dụng hơn 6.100 chuyến ô tô, 56 toa tàu hỏa, 156 chuyến máy bay và nhiều chuyến tàu thủy, vận chuyển gần 25.500 tấn hàng phục vụ PCD, trong đó có hơn 4.000 tấn vật chất hậu cần, hàng nhu yếu phẩm, nông sản, lương thực, thực phẩm, lương khô...


Phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng


Đợt PCD Covid-19 thứ tư tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam có thể coi là một chiến dịch lớn, phức tạp, với nhiều lực lượng tham gia. Chia sẻ với báo chí, Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổ trưởng Tổ công tác đặc biệt của Chính phủ về công tác PCD Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, cho biết: Việc áp dụng cơ chế của Bộ Chính trị về xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc vẫn còn nguyên giá trị, kể cả đối với an ninh truyền thống và phi truyền thống. Về tinh thần của cơ chế, Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, hệ thống chính trị làm tham mưu, giao cho cơ quan chức năng chỉ huy, xử lý. Cụ thể ở đây, Chính phủ đã giao 3 bộ: Y tế, Quốc phòng, Công an và đã xác định rõ Bộ Y tế là bộ quyết định trong "chiến dịch" này.


Trong cả giai đoạn chống dịch đầy cam go, phức tạp, đội ngũ phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã trực tiếp tác nghiệp, phản ánh hoạt động PCD tại các tỉnh, thành phố phía Nam, đặc biệt là tại TP Hồ Chí Minh, qua đó nhận thấy sự phối hợp rất chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các lực lượng của quân đội với các cấp chính quyền, y tế, công an và tình nguyện viên của các địa phương.


BVQY 175, Bệnh viện Quân dân y miền Đông và các bệnh viện DCTN đã tiếp nhận, cấp cứu, điều trị, chăm sóc bệnh nhân theo sự điều tiết từ Sở Y tế thành phố. Các tổ quân y cơ động khám, cấp cứu ban đầu, tư vấn điều trị F0 tại nhà được tổ chức ở các trạm y tế xã, phường, với thành phần gồm nhân viên y tế địa phương, dân quân, tình nguyện viên, do tổ trưởng tổ quân y chỉ huy, hoạt động hiệu quả. Thiếu tướng Đặng Văn Hùng, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 7 cho biết, bà con nhân dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ đánh giá cao trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của các tổ quân y cơ động.


Căn cứ vào sự điều phối của địa phương, một lực lượng lớn của quân đội đã tham gia lấy mẫu xét nghiệm; tiêm vaccine; phối hợp vận chuyển, chuyển tuyến bệnh nhân khi có yêu cầu. Ngoài ra, có hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ tham gia thực hiện các nhiệm vụ, như: Vận chuyển lương thực, thực phẩm, đi chợ giúp dân, lo hậu sự cho người tử vong vì Covid-19...


Cùng với thực hiện nhiệm vụ PCD, Bộ Quốc phòng luôn chủ động nắm chắc tình hình, phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương và lực lượng chức năng liên quan, kiểm soát tốt tuyến biên giới đất liền, trên biển, ngăn chặn hoạt động xuất, nhập cảnh trái phép; thường xuyên duy trì gần 2.000 tổ, chốt tại các cửa khẩu, đường mòn, lối mở với khoảng 13.000 cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng.


Ngoài ra, quân đội cũng chủ động phối hợp tham gia nghiên cứu sản xuất vaccine; hợp tác quốc tế trong PCD; triển khai, tổ chức tốt công tác điều phối, tiếp nhận, cách ly tập trung công dân theo nhiệm vụ Chính phủ giao; phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế, tích cực triển khai, cải tạo, sửa chữa, đưa vào sử dụng 8 kho bảo quản và huy động, sử dụng trên 1.400 ô tô các loại để vận chuyển vaccine.


Cùng với tổ chức phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ với các lực lượng liên quan, quân đội cũng đã phát huy hiệu quả “4 tại chỗ”. Ngay từ sớm, Bộ Quốc phòng đã cử đại diện các cơ quan chức năng vào TP Hồ Chí Minh hỗ trợ địa phương và chỉ đạo, hướng dẫn các lực lượng quân đội tại đây PCD. Ngày 21-7-2021, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ban hành quyết định về việc thành lập Ban chỉ đạo PCD Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam do Thượng tướng Võ Minh Lương làm trưởng ban, với thành phần là lãnh đạo các cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng.


Bộ Quốc phòng đã huy động kịp thời các lực lượng, phương tiện của các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn, như các quân khu 5, 7, 9; các quân đoàn 3, 4; BVQY 175, HVQY phân hiệu phía Nam và Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga chi nhánh phía Nam... chủ động tham gia PCD trước khi các lực lượng từ ngoài Bắc được điều động tăng cường.


Tuyên truyền sâu rộng, khen thưởng kịp thời


Có thể nói, 2021 là một năm đầy thử thách đối với quân đội, đặc biệt là lực lượng trực tiếp tham gia hỗ trợ PCD tại các địa phương. Coi đây là một trận chiến thực sự với loại “giặc” vô hình, nguy hiểm, nên ngay từ những ngày đầu, Bộ Quốc phòng và các đơn vị đã chú trọng tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, động viên, khích lệ tinh thần cán bộ, chiến sĩ, để toàn quân vừa nhận thức được sự nguy hiểm của đại dịch, vừa đề cao trách nhiệm, sẵn sàng cùng cả nước tham gia PCD.


Tại Lễ phát động Phong trào thi đua đặc biệt với chủ đề “Quân đội cùng cả nước chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19”, do Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức, Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị nhấn mạnh: Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tiếp tục sâu sát bám nắm tình hình cơ sở và diễn biến của dịch, nhất là các địa bàn trọng điểm để kịp thời tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổ công tác đặc biệt của Chính phủ ở khu vực phía Nam, lãnh đạo, chỉ huy và ban chỉ đạo PCD các cấp chỉ đạo hiệu quả công tác PCD.


Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và LLVT địa phương duy trì chặt chẽ hoạt động của các tổ, chốt trên tuyến biên giới, biển, kiên quyết ngăn chặn xâm nhập trái phép. Tổ chức tốt các khu cách ly, bệnh viện dã chiến, tích cực tham gia xét nghiệm và tiêm phòng vaccine cho nhân dân, điều trị bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nặng tại các bệnh viện trong và ngoài quân đội... Tăng cường các hoạt động phối hợp, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết khó khăn, giúp thu hoạch và tiêu thụ nông sản, hoa màu, cung cấp hàng hóa thiết yếu phục vụ đời sống và chăm sóc sức khỏe nhân dân.


Hưởng ứng phong trào thi đua do Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phát động, toàn quân đã tích cực tham gia công tác PCD của cả nước. Thi đua cùng các đơn vị trực tiếp chi viện lực lượng cho các địa phương, các đơn vị trong toàn quân chủ động tiến hành hiệu quả các biện pháp PCD, bảo đảm an toàn đơn vị, duy trì chất lượng huấn luyện, SSCĐ, đồng thời tích cực tổ chức các chương trình có ý nghĩa thiết thực, qua đó hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho nhân dân các vùng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Hoạt động khoa học công nghệ như phối hợp sản xuất vaccine, sản xuất phương tiện, trang bị phục vụ công tác PCD cũng được đẩy mạnh, mang lại hiệu quả thiết thực.


Cùng với thực hiện phong trào thi đua đặc biệt do Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phát động, Quân khu 7 đã tổ chức phát động phong trào thi đua đặc biệt “chống dịch, cứu dân” trong toàn LLVT quân khu, qua đó vừa động viên hàng vạn cán bộ, chiến sĩ tham gia xét nghiệm, cấp cứu, điều trị, chăm sóc bệnh nhân và bảo đảm an ninh trật tự, vừa huy động được hàng triệu lượt cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân giúp nhân dân thu hoạch, vận chuyển và tiêu thụ nông, thủy sản tại các địa bàn bị ảnh hưởng do dịch Covid-19; đồng thời chuyển hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, rau, củ, quả, cùng hàng trăm ngàn phần quà đến với bà con nhân dân vùng dịch.


Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, cổ vũ, động viên, khen thưởng, nên mặc dù phải đối diện với khó khăn, gian khổ, song cán bộ, chiến sĩ quân đội đã đề cao quyết tâm, trách nhiệm, xông pha vào những nơi nguy hiểm nhất, trực tiếp cứu chữa bệnh nhân, đồng thời thực hiện những nhiệm vụ mới mẻ như đi chợ giúp dân, đặc biệt là tổ chức khâm liệm, vận chuyển thi hài đồng bào tử vong do dịch Covid-19 đi hỏa táng, mang tro cốt về lo hương khói, chuyển giao đến tận các gia đình nạn nhân...


Có những y, bác sĩ lên đường vào tâm dịch trong điều kiện gia đình còn nhiều khó khăn như con nhỏ, cha mẹ già yếu. Có cán bộ, chiến sĩ đang trong tâm dịch thì nhận tin người thân qua đời. Song vượt lên hoàn cảnh, tất cả vẫn vững tâm trụ lại ở tuyến đầu, chung sức cùng cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng kiên cường chống dịch.


Trong quá trình quân đội tham gia hỗ trợ các địa phương PCD Covid-19, còn có nhiều bài học có ý nghĩa thiết thực được rút ra, như bài học về đánh giá đúng tình hình để có kế hoạch tác chiến hiệu quả; bài học về tinh thần đoàn kết, đồng lòng vượt qua khó khăn, gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ; bài học về huy động nguồn lực xã hội cho công tác PCD; bài học về tự bảo vệ an toàn cơ quan, đơn vị, bản thân trước dịch bệnh để có đủ khả năng hỗ trợ, giúp đỡ cấp ủy, chính quyền, nhân dân các địa phương trong cuộc chiến cam go, chưa từng có tiền lệ... Việc phân tích, đánh giá, đúc rút những bài học kinh nghiệm của quân đội trong PCD Covid-19 là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện, làm cơ sở để vận dụng hiệu quả trong điều kiện mới, bảo đảm giành chiến thắng trước "giặc Covid-19" cũng như đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống trong tương lai./.

Môi Trường ST.

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2021

NGA CHỌN VIỆT NAM LÀ NƠI ĐỂ XÂY DỰNG CẢNG VŨ TRỤ ĐẦU TIÊN TẠI ĐÔNG NAM Á!

      Các giảng viên đại học ở thành phố Saint-Petersburg của Nga đã đưa ra những tính toán thích hợp. Theo đó, họ đã chọn Việt Nam là nơi khả thi nhất để xây dựng cảng vũ trụ.

Một nhóm các nhà khoa học Nga, bao gồm những tên tuổi nổi tiếng như M. Grigoriev, M. Okhochinsky, S. Chirikov và A. Khramov, đã đưa ra lập luận về lợi ích của việc xây dựng sân bay vũ trụ quốc tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhằm thúc đẩy sự phát triển sáng tạo vượt bậc trong lĩnh vực không gian của Nga và các đối tác. Trong đó, Việt Nam được tất cả công nhận là địa điểm chính và khả thi nhất để xây dựng công trình này.

Dự kiến, cảng vũ trụ sẽ cho phép các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, một trong những người bạn tốt nhất và ổn định nhất của Nga trong nhiều thập kỷ qua, đi đầu về tốc độ phát triển của thế giới, đồng thời mang lại thu nhập đáng kể.


Tại sao chọn Việt Nam?

Việt Nam hoàn toàn không còn là một nước nằm ngoài cuộc trong lĩnh vực thám hiểm vũ trụ. Bởi trên thực tế, công dân Việt Nam là phi công vũ trụ Phạm Tuân đã từng tham gia chương trình Intercosmos của Liên Xô. Sau khi hoàn thành khóa đào tạo thích hợp, năm 1980 ông đã thực hiện chuyến bay vào vũ trụ trên tàu Soyuz-37 và trở về Trái đất trên tàu Soyuz-36, cũng như làm việc trên trạm quỹ đạo Salyut-6. Với thành tích này, ông đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô và Anh hùng Lao động Việt Nam.

Nói cách khác, Việt Nam không phải là đối tượng lựa chọn ngẫu nhiên để xây dựng sân bay vũ trụ trên lãnh thổ của mình. Các tác giả dự án của Nga đã tính toán cẩn thận thậm chí cả từng chi tiết như địa điểm phóng mà theo họ, mũi Cà Mau rất có khả năng trở thành địa điểm này.


Có cần cảng vũ trụ riêng cho khu vực Đông Nam Á không? 

Chẳng hạn, chính phủ Trung Quốc đã trả lời là có, là cần thiết và đây sẽ là một cảng vũ trụ của Trung Quốc; và người Trung Quốc đã xây dựng cảng vũ trụ trên đảo Hải Nam. Tổng thống Indonesia cũng từng nói: “Vâng, tôi cần một cảng vũ trụ”.


Tại sao công trình này lại được các nhà khoa học Nga thực hiện? 

Vì Nga là một trong 3 cường quốc vũ trụ, nhưng tất cả các cảng vũ trụ của nước này đều nằm ở phía Bắc, nơi cách quá xa đường xích đạo. Nga cần một cảng vũ trụ lớn nằm gần đường xích đạo. Và lẽ dĩ nhiên, Việt Nam cần kinh nghiệm và khả năng trong lĩnh vực không gian vũ trụ của Nga. Bởi ở đây có lợi ích chung, là cơ sở cho sự hợp tác hiệu quả. Trong tất cả các nước Đông Dương, thì Việt Nam là nước gần gũi và hiểu Nga nhất, thuận lợi nhất cho hợp tác giữa hai bên./.

Môi Trường ST.

Giáo dục đạo đức công dân – “chất đề kháng hữu hiệu” để phòng, chống tham nhũng

 

          Đạo đức công dân là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh nhận thức, hành vi của công dân trong quan hệ với Nhà nước, nó được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, sức mạnh của dư luận xã hội và pháp luậtHồ Chí Minh coi giáo dục đạo đức công dân là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Bởi vì, đạo đức công dân chính là nền tảng tinh thần định hướng, dẫn dắt công dân hướng tới những giá trị dân chủ mới, đề kháng với những biểu hiện phi dân chủ, ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy nhà nước, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng. Nó được thể hiện ở hai khía cạnh: tạo ra môi trường chính trị - xã hội trong sạch, lành mạnh và tạo ra sức đề kháng từ bên trong để ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng.

          Xét ở khía cạnh thứ nhất, bản chất của đạo đức công dân chính là việc đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với nhà nước. Với tư cách là người chủ quyền lực, khi đạo đức công dân được nâng cao họ sẽ sáng suốt lựa chọn những đại biểu ưu tú để “ủy thác quyền lực”, tránh hiện tượng trao nhầm quyền lực dẫn đến các hành vi tham nhũng và các căn bệnh xấu xa, hư hỏng khác. Đồng thời, nó tạo ra dư luận xã hội tích cực mà ở đó các hành vi tham nhũng bị phát hiện, theo dõi, lên án và phê phán kích liệt vì tham nhũng là ăn cắp, là “tội lỗi đê tiện nhất”. Hồ Chí Minh khẳng định: “...nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân đã giao phó cho”. Mặt khác, trong xã hội dân chủ, chuẩn mực đạo đức công dân quan trọng nhất đó là “tuân theo pháp luật nhà nước”, thể hiện ở tinh thần “thượng tôn pháp luật”, không ai được phép đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy mọi công dân tham gia đấu tranh phòng chống tham nhũng. Theo đó, kể từ nay, bất cứ ai, dù giữ cương vị gì trong nhà nước, nếu phạm phải tham nhũng thì đều bị nghiêm trị.

          Xét ở khía cạnh thứ hai, cán bộ, đảng viên của Đảng là người thực hiện chức năng kép, vừa là người thừa hành quyền lực ủy thác của nhân dân vừa là những “công dân đứng đắn”, “công dân tốt”, “công dân kiểu mẫu”. Theo Hồ Chí Minh: sự tha hóa đạo đức của đối tượng này thể hiện rõ rằng họ “Chẳng những không làm tròn nhiệm vụ của người cán bộ, mà còn không làm tròn bổn phận của người công dân; đã đặt lợi ích riêng của cá nhân lên trên lợi ích chung của Nhà nước”. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên toàn Đảng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Do đó, việc tu dưỡng đạo đức công dân, biểu hiện cao nhất ở tuân thủ tính nghiêm minh của pháp luật chính là chất đề kháng hữu hiệu giúp cán bộ, đảng viên “không muốn tham nhũng” và “không dám tham nhũng”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Mọi hành vi bất liêm sẽ dễ dàng bị phát hiện, bị tố giác nếu cán bộ, đảng viên không đề cao nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của mình. Trách nhiệm nêu gương của những “công dân kiểu mẫu” không chỉ thể hiện trong công tác mà còn biểu hiện sinh động trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình và nơi cư trú. Dự luận cũng đồng tình theo quan điểm: “Bộ mặt đạo đức thực sự của con người biểu hiện trong cách sống ở gia đình. Người ích kỷ nhỏ nhen và độc đoán trong gia đình không thể là một công dân chân chính”. Càng gần dân, cọ sát với dân càng học hỏi được ở nhân dân nhiều điều hay, nhiều kiến thức của cuộc sống bổ ích và chắc chắn sẽ càng vì dân, tránh xa các hành vi tham nhũng.

          Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành tựu to lớn, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Tuy nhiên, sự nghiệp đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ. Tình trạng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” từ chỗ chỉ là “một bộ phận” đã lây lan sang “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên; làm sói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng….

          Thực tế, trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, “đã thi hành kỷ luật 2209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý cả đương chức và nghỉ hưu”. Quyết tâm của Đảng ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ trong lời phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Chính phủ với địa phương: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, trái lại rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người”.

          Quan điểm “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng” được thể hiện rõ trong phát biểu của người đứng đầu Đảng: “Tinh thần là phải tiếp tục làm, làm quyết liệt, làm tập trung, dứt điểm những việc đang dở dang, những khâu còn yếu, những địa bàn trọng điểm. Toàn Đảng, toàn Dân quyết tâm. Không có chuyện dừng lại hay ngập ngừng. Mà cũng không thể ngừng lại được. Đây là yêu cầu của cách mạng, yêu cầu, tình cảm của Nhân dân, mong muốn của Đảng ta. Phải khẳng định quyết tâm ấy. Còn trong chúng ta có ai dao động, ngập ngừng thì tự giác báo cáo, xin tự thôi đi!”.

          Lịch sử nhân loại đã có hàng nghìn năm bàn đến nạn tham nhũng dưới các chế độ nhà nước, với nhiều tên gọi khác nhau. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cha ông ta còn lưu truyền một lễ hội quan trọng thường được tổ chức dịp đầu năm - Lễ hội “Thề không tham nhũng”. Điều đó nói lên rằng, cũng giống như phần còn lại của thế giới, nhân dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận hành vi tham nhũng trong đời sống xã hội. Đồng thời, cũng cho thấy tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài, gian khổ của cuộc đấu tranh ấy. Bằng những tư tưởng đúng đắn, sáng tạo, độc đáo, tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng đã, đang và mãi mãi là kim chỉ nam định hướng cho toàn Đảng và toàn dân tộc trong cuộc “chiến đấu khổng lồ” nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, để Đảng ta thực sự xứng đáng với sứ mệnh thiêng liêng, cao cả và vĩ đại - là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

NHỮNG BÀI HỌC THẤT BẠI TỪ ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ


          Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu không đánh dấu sự kết thúc của chủ nghĩa xã hội; trái lại, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội thời kỳ mới là một minh chứng cho sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa xã hội.

          Mặc dù vây, có thể nói,chừng nào còn các Đảng Cộng sản với mục tiêu xã hội chủ nghĩa trên thế giới thì những bài học kinh nghiệm lịch sử xương máu của Đảng Cộng sản Liên Xô và sự tan rã của Liên bang Xô-viết và các quốc gia xã hội chủ nghĩa Đông Âu mãi mãi còn nguyên vẹn. Đó chính là sức sống bất diệt của những bài học lịch sử thất bại: Nếu coi thường hoặc lãng quên chúng, nhất là những thất bại, dù khi đang đứng trên đỉnh cao những thắng lợi lịch sử của những người cộng sản Xô-viết, thì cũng sẽ bị trả giá.

          Với nhãn quan chính trị chiến lược, hai năm trước khi chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, ngày 24/8/1989, tại Hội nghị Trung ương 7, khóa VI, Đảng ta nhìn nhận và cảnh báo nghiêm khắc 6 nguy cơ của Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản và công nhân ở những nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, gồm: Một là, thực hiện đa nguyên chính trị; hai là, dân chủ quá trớn không giới hạn; ba là, vừa không coi trọng củng cố, nâng cao chất lượng lãnh đạo, vừa hạ thấp vai trò lãnh đạo của đảng; bốn là, để tuột khỏi tay sự lãnh đạo đối với các phương tiện thông tin đại chúng; năm là, có khuynh hướng phủ nhận những thành tựu vĩ đại của chủ nghĩa xã hội; sáu là, đặt quá nhiều hy vọng vào việc mở cửa với phương Tây.

          Với tầm nhìn chiến lược đó, cảnh giới những nguy cơ “diễn biến hòa bình”, vượt qua chặng đường hơn ba thập niên với bao nhiêu bão táp chống phá, tấn công từ bên ngoài, nguy cơ tự thoái hóa, suy thoái và phá hoại từ bên trong, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa vẫn đứng vững và phát triển. Nhưng, chúng ta không được phép lơ là và lãng quên mối họa sinh tử này. Vì chủ nghĩa đế quốc với chiến lược công khai “chiến thắng không cần chiến tranh” không bao giờ từ bỏ âm mưu và hành động tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.

Với tư cách là một Đảng cầm quyền, Đảng của chúng ta càng không mơ hồ và được phép lãng quên những bài học sinh tử đó về sự sụp đổ của chế độ xã hội ở Liên Xô và một số nước Đông Âu.

          Bài học trước hết,  cần đặc biệt chăm lo vị thế và tư cách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc: nắm lấy công tác tư tưởng chính trị, xây dựng hệ thống chính trị từ Đảng, Nhà nước đến các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở thật sự trong sạch, vững mạnh, thật sự trung thành và tin cậy về chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng... là công việc có ý nghĩa thành bại.

          Lịch sử hơn 91 năm của Đảng cho tới nay cho thấy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là công tác chính trị tư tưởng và tổ chức luôn là những nhiệm vụ cấp bách, nóng bỏng và mang tầm chiến lược. Sai lầm về đường lối, chệch hướng về tư tưởng chính trị và lệch lạc về tổ chức sẽ đưa tới sai lầm, rạn vỡ, có khi không cứu vãn nổi.

          Đại hội XIII của Đảng

          Đặc biệt, trước tình hình mới, phải luôn đề cao cảnh giác trước những tác động xấu từ bên ngoài và kịp thời ngăn chặn sự suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa từ bên trong. Tháng 1-2021, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời... một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu... một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, quyết sách của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII: Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Trong đó, nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút ý chí chiến đấu và tình cảm đồng chí, đồng bào; thậm chí phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc, tình trạng “cát cứ”, “sứ quân”... chủ nghĩa cơ hội, phản bội...

          Đặc biệt hiện nay, sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trên phương diện này là vô cùng chuẩn xác và mang tầm chiến lược.

          Tiếp tục đổi mới cơ chế vận hành tập trung dân chủ của toàn bộ hệ thống chính trị, lấy Quốc pháp làm đầu, Đảng cương làm cốt, sự tín nhiệm của Nhân dân làm động lực và sự cương tỏa kiểm soát. Nắm chắc công tác tổ chức, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chiến lược, người đứng đầu hệ thống chính trị các cấp bảo đảm: trung thành, bản lĩnh, trí tuệ, trong sạch, liêm sỉ, vì Dân và kỷ luật. Bảo vệ nghiêm nhặt chính trị nội bộ. Ngăn chặn và thải loại kiên quyết những người tiêu cực, phe nhóm, tham nhũng; trừng phạt nghiêm khắc những người xâm hại sự đoàn kết thống nhất của Đảng, tha hóa, thoái hóa về chính trị, nhất là tệ ăn cắp quyền lực, tức tệ “đạo vị”, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh; thải loại và trừng trị những kẻ mưu đồ lợi ích nhóm, rắp mưu bè phái, cát cứ trong Đảng, trừng trị sự bất tuân kỷ luật, đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật và ngoảnh mặt với Nhân dân.

          Hơn lúc nào hết, lúc này, cần ghi xương khắc cốt rằng, nếu sự thoái hóa, biến chất, tự chuyển hóa diễn ra tại trung tâm quyền lực của Đảng, của hệ thống chính trị thì nguy cơ tan vỡ đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ tính bằng tháng, bằng năm. Đây là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ không tránh khỏi. Đảng Cộng sản Liên Xô và các “phiên bản” Đông Âu đã cảnh báo nghiêm khắc rõ điều này.

          Bài học thứ haivới tư cách là “đứa con nòi của giai cấp lao động” cầm quyền mọi quyền lực, mọi nguồn lực của đất nước và chịu trách nhiệm trước Nhân dân, phải chăm lo cơ sở chính trị - xã hội của mình: Dân là gốc nước, thuận theo lòng dân, được Nhân dân ủng hộ…

          Kinh nghiệm lịch sử từ sự tan rã của Đảng Cộng sản Liên Xô và đổ vỡ của Liên bang Xô-viết càng cho thấy rõ, việc thâu tóm được mọi quyền lực và mọi nguồn lực quốc gia không khó bằng nắm được và thuận theo lòng dân. Những ai không nắm được lòng dân, không hành động theo quy luật nhất định thất bại, ngay khi đang nắm quyền lực.

          Với tư cách là “đứa con nòi” của nhân dân lao động, hơn lúc nào hết, Đảng ta luôn thấu hiểu và hành động theo phương châm: “Ý Dân là ý trời”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn và “Việc nhân nghĩa cốt ở yên Dân”, như tiền nhân truyền lại. Vì, “Dân là Dân nước, nước là Nước dân”. Đó cơ sở là pháp lý và cũng là đạo lý phải quán xuyến toàn bộ công việc lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Lòng Dân là Quốc bảo Việt Nam.

          Trái điều đó, nhất định sẽ thất bại.

          Bài học thứ ba, từ bài học xương máu qua thất bại của Đảng Cộng sản Liên Xô, từ sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, phải chủ động vượt qua chính mình, nắm chắc pháp luật để cầm quyền, vì lợi ích tối cao của đất nước, vì hạnh phúc của Nhân dân và vì sự trường tồn của dân tộc.

          Thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta chứng thực rằng, sai lầm và khuyết điểm rất khó tránh, nhưng điều nguy hiểm nhất là không dám thừa nhận sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là không có quyết tâm chính trị để tránh sai lầm, khắc phục khuyết điểm. Do đó, hơn bao giờ hết, giữ vững vô điều kiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn bộ đời sống và hoạt động của Đảng; đồng thời kiên quyết nắm chắc pháp luật để lãnh đạo, cầm quyền. Pháp luật của Nhà nước và Điều lệ, cương lĩnh của Đảng là hai nhân tố rường cột cầm quyền. Thiếu dân chủ và dân chủ biến tương là “bà đỡ” của thói nịnh bợ, luồn lọt, dân túy, cơ hội; buông lỏng kỷ cương là điều kiện tốt cho chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa đầu hàng nảy nòi và phát tác trong Đảng, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo cấp cao. Đó là điều cấm kỵ trong toàn bộ công tác tổ chức và cán bộ.

Đồng thời, quét sạch tận gốc các chứng bệnh: độc đoán, chuyên quyền, tệ trù dập, trấn áp những ý kiến khác với mình; thói coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, nạn độc quyền chân lý; trân trọng đối thoại và nâng niu mọi sự phản biện trong khuôn khổ của Đảng và pháp luật của Nhà nước; bảo vệ vô điều kiện sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, chống mọi sự đặc quyền đặc lợi, trước hết trong đội ngũ người đứng đầu các cấp của hệ thống chính trị; đổi mới cơ chế giám sát quyền lực của Nhân dân một cách đồng bộ, thống nhất và thực tế bằng pháp luật.

          Quốc pháp, Đảng cương và lòng Dân là những nhân tố căn bản bảo đảm, kiểm soát và quyết định khuôn khổ toàn bộ hoạt động của Đảng và hệ thống chính trị.

          Toàn bộ hoạt động của Đảng tiếp tục vì lợi ích tối thượng của đất nước, quyền lợi vô giá của dân tộc và hạnh phúc thiêng liêng và bất khả xâm phạm của Nhân dân. Đó là cương lĩnh chính trị đồng thời là cương lĩnh hành động của Đảng lúc này và trong tương lai.

ĐẠI TÁ NGUYỄN HUY VIỆN, KẺ TỪNG BƯỚC SA VÀO CON ĐƯỜNG TỘI LỖI!


Hôm qua, sau khi Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (43 tuổi, trú quận Đống Đa, Hà Nội, được biết đến là blogger, từng làm việc cho nhiều tờ báo) 9 năm tù về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, quy định tại điều 88 Bộ luật hình sự 1999.  Nguyễn Huy Viện, Đại tá Quân đội đã nghỉ hưu vội đăng đàn thể hiện sự ngưỡng mộ và đòi công lý cho kẻ phản bội tổ quốc, vi phạm pháp luật Việt Nam. Ông Viện cho rằng "Sau khi Tòa tuyên án, cộng đồng mạng trong nước cũng như giới ngoại giao quốc tế bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với chị và bất bình đối với quan tòa xét xử và tuyên án chị 9 năm tù." Xin gửi Đại tá Viện đôi lời:


Cái mà ông gọi là "cộng đồng mạng trong nước cũng như giới ngoại giao quốc tế bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Phạm Đoan Trang và bất bình đối với quan tòa xét xử và tuyên án chị 9 năm tù", gồm những ai? Hành vi xuyên tạc đường lối chính sách, phỉ báng chính quyền của bị cáo Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với mục đích cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Phạm Đoan Trang nhiều lần móc nối với Việt Tân và các tổ chức phản động ở hải ngoại, mưu đồ tạo phản, ra sức kêu gọi chống phá tổ quốc, nơi cô ta sinh ra và lớn lên. Vi phạm pháp luật Việt Nam nên bị trừng trị trước pháp luật là hoàn toàn bình thường. Quốc có quốc pháp! Không chỉ Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều sử dụng pháp luật để bảo vệ sự bình yên của đất nước, điều chỉnh hành vi của con người. 


Bị cáo Phạm Đoan Trang là người có trình độ nhận thức nhất định, hiểu và biết rõ hậu quả hành vi, tuy nhiên vẫn tích cực thực hiện trong thời gian dài. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khai báo thành khẩn, phạm tội nhiều lần, cần thiết xử phạt nghiêm minh. Đó là thượng tôn pháp luật, là kỷ cương phép nước. Sau khi tòa tuyên án, đại đa số nhân dân Việt Nam vui mừng, phấn khởi vì Tòa đã công tâm xử đúng người, đúng tội. Cộng đồng mạng và các nhà ngoại giao quốc tế mà Ông Viện cho là ngưỡng mộ Trang và phản đối bản án của tòa, có chăng chỉ là nhóm nhỏ ba que xỏ lá và một số tổ chức phi chính phủ được các tổ chức phản động tài trợ. Trong số những kẻ đó chắc chắn có Nguyễn Huy Viện và đồng đảng trở cờ. Cộng đồng mạng và các nhà ngoại giao quốc tế nào ở đây?


Nguyễn Huy Viện ăn cơm dân, hưởng lộc nước nhưng nhiều năm nay đã lệch lạc về tư tưởng. Thường xuyên đăng tải các bài viết xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Đảng, nhà nước và các cơ quan tư pháp của Việt Nam. Trưởng thành và được học tập, giáo dục dưới sự che chở, đùm bọc của nhà nước, của nhân dân nhưng khi nghỉ hưu lại đứng hẳn sang "phía bên kia". Nguyễn Huy Viện, nếu ông còn có một chút liêm sỉ, một chút người còn sót lại trên cái thân xác sinh học kia thì hãy tỉnh ngộ. Cổ kim xưa nay chưa có bất kỳ kẻ phản bội tổ quốc nào có được cái kết có hậu cả. Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Cù Huy Hà Vũ, Nguyên Ngọc, Chu Hảo, Mạc Văn Trang chính là những tấm gương tày liếp, hãy nhìn vào đó mà soi. Bản án 9 năm tù giam đối với Phạm Đoan Trang là hoàn toàn thích đáng, nhân dân Việt Nam chân chính đều vui mừng, phấn khởi khi kẻ phản bội tổ quốc bị trừng trị trước ánh sáng pháp luật. Đừng có vơ nhân dân hay cộng đồng mạng vào đây./.

 

 Lộ chân tướng những kẻ chống phá Việt Nam

Trong khi Việt Nam luôn nỗ lực để thực hiện tốt nhất những quyền chính đáng của con người, đồng thời ngày càng khẳng định là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế bởi những đề xuất, sáng kiến và thành tựu về nhân quyền được cộng đồng quốc tế tôn trọng và thừa nhận thì các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên sử dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Vậy mục đích của sự chống phá này là gì?

Sự thật đằng sau những lời kêu gọi

Sử dụng nhân quyền làm công cụ để chống phá chế độ chính trị ở Việt Nam đã được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Mục tiêu của sự chống phá này không khó nhận diện, đó là xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn và kết quả về quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tôn giáo, dân tộc, thông tin, tư pháp, quốc phòng, an ninh... nhằm thúc đẩy sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và xác lập cơ chế đa nguyên, đa đảng. Có thể dẫn chứng:

Như thường lệ, năm 2021, tổ chức nhân quyền Freedom House (một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ) đã đăng tải bảng chấm điểm chỉ số tự do của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Freedom House là một trong số vài tổ chức phi chính phủ thường đưa ra cái nhìn thiếu thiện cảm về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Qua phân tích của nhiều học giả thì những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam là thông qua các tổ chức, cá nhân đang chống phá Việt Nam. Năm 2021, tổ chức này chấm điểm tự do của Việt Nam là 19/100 điểm, trong đó họ liên tục cố tình hạ thấp điểm tự do về quyền dân sự, chính trị. Freedom House luôn cho rằng Việt Nam "không có tự do internet, người dân Việt Nam gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội, không có quyền bầu cử, không có tự do tôn giáo...". Hùa theo cách nhìn nhận ấy, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch cũng liên tục đăng tin trên những trang thuộc các cơ quan truyền thông vốn thiếu thân thiện với Việt Nam, như: BBC, RFI, RFA, VOA... cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người hòng tạo dư luận quốc tế.

Cũng với mục đích và cách thức hoạt động như Freedom House, một số tổ chức được hỗ trợ bởi tiền của nhiều thế lực, như: Tổ chức ân xá quốc tế, Tổ chức theo dõi nhân quyền, Tổ chức phóng viên không biên giới... cũng thường xuyên đưa ra những đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam rất thiếu cơ sở, mang thái độ hằn học. Một số tổ chức phản động, lưu vong đội lốt dân chủ, nhân quyền như Việt Tân, Triều đại Việt, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam... cũng liên tục xuyên tạc. Điển hình là mỗi khi có công dân Việt Nam có hành động, hành vi chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bị cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật thì các thế lực chống đối lại vu khống, xuyên tạc rằng Việt Nam "ngăn cản tự do ngôn luận, không cho công dân tự do bày tỏ chính kiến...", khiến cho một số người thiếu thông tin đã có những nhận thức sai lệch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Vậy thực chất việc đưa ra các con số báo cáo, lên lớp về vấn đề nhân quyền của các tổ chức, cá nhân này có phải vì muốn Việt Nam tốt đẹp hơn không? Câu trả lời là: Không. Bản chất của những kẻ lợi dụng vấn đề nhân quyền để xuyên tạc, chống phá Việt Nam để nhằm phá rối trong nước, khiến quốc tế có cái nhìn sai lệch về Việt Nam, từ đó hạ thấp uy tín, vị thế, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu để gây dựng.

Những tiến bộ về luật pháp và thực tiễn không thể xuyên tạc

Trong khi một số tổ chức, cá nhân luôn tìm cách xuyên tạc về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì ở chiều ngược lại, Liên hợp quốc-tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về phát triển con người và thực hiện các quyền con người trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh, đánh giá của Liên hợp quốc về Việt Nam là xác đáng.

Một trong những thành tựu không thể phủ nhận là Việt Nam đã luôn quan tâm để hoàn thiện hệ thống luật pháp về lĩnh vực quyền con người. Điều này được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong Hiến pháp-đạo luật gốc, quan trọng nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương; hiến định rõ ràng địa vị pháp lý của cá nhân, của công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, chế định quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân giữ vị trí quan trọng. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được dư luận đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Cùng với Hiến pháp, Việt Nam tham gia một loạt công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật... Sau 35 năm đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó chú trọng xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân tương đối toàn diện, phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và từng bước tương thích với các quy định quốc tế về quyền con người. Một điểm sáng của Việt Nam luôn được quốc tế ghi nhận đó là, trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Quốc hội Việt Nam luôn dành ưu tiên, tập trung cho việc ban hành các đạo luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực.

Ngày 22-2-2021, tại Phiên họp cấp cao của Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh trong bài phát biểu thông báo về việc Việt Nam tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 đã nhấn mạnh: "Việt Nam tin tưởng mạnh mẽ rằng, bảo đảm cho xã hội an toàn trước các dịch bệnh như Covid-19 là cách tốt nhất để bảo đảm cho mỗi thành viên trong xã hội được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người. Chúng tôi tiếp tục ưu tiên thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản của người dân, kể cả trong thời điểm khó khăn nhất hiện nay”. Dịch bệnh đã gây ra những thiệt hại to lớn cho toàn thế giới, dù vậy, Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận hy sinh về tăng trưởng kinh tế để nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Điều này, cộng đồng quốc tế đã ghi nhận và luôn coi Việt Nam là hình mẫu. Đây chỉ là một trong rất nhiều việc làm đã chứng minh cho lời nói và hành động của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền con người. Nó cũng đủ sức nặng để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ qua và nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Khác với một số quốc gia chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị dẫn tới chênh lệch giàu nghèo rất nghiêm trọng, Việt Nam quan tâm xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Song song với phát triển kinh tế đất nước, hầu hết các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, chỉ số phát triển con người... ở Việt Nam đều có sự tiến bộ qua từng năm. Quyền của các nhóm yếu thế như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi... có những bước tiến rõ rệt. Theo Báo cáo các chỉ số phát triển con người do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện và công bố năm 2019 cho thấy: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng chỉ số HDI cao nhất thế giới.

Về bình đẳng giới, các tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, hiện xếp thứ 68/162 nước về chỉ số phát triển giới. Sự cải thiện, chăm sóc sức khỏe của người dân thể hiện ở các tiêu chí như cơ sở khám, chữa bệnh công lập và ngoài công lập, số giường bệnh, số bác sĩ/10.000 dân đều tăng. So với chuẩn quốc tế thì Việt Nam có mức độ phân hóa giàu nghèo thấp hơn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

 

Thực tiễn sinh động ở Việt Nam khác xa những báo cáo khô cứng, cũ kỹ mà các thế lực thù địch luôn xào xáo qua các năm. Ở Việt Nam, các quyền công dân về bầu cử, ứng cử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận... luôn được bảo đảm. Mặc dù các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng Việt Nam không có tự do internet nhưng thực tế đã bác bỏ hoàn toàn điều đó. Theo con số thống kê, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet và điện thoại di động. Năm 2020, số người dùng Facebook ở Việt Nam là gần 70 triệu người. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các tôn giáo hoạt động, luật pháp cũng quy định rất rõ để tôn giáo được bảo vệ. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn được coi trọng và thường xuyên được tổ chức. Trong các năm 2008, 2014, 2019, Liên hợp quốc đã chọn Việt Nam làm địa điểm và đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản. Những minh chứng này đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Trong Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên năm 2021 do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố: Năm 2021, Việt Nam tăng 4 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên 79. Báo cáo này xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên 6 tiêu chí: GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do, sự hào phóng, phúc lợi xã hội và tình trạng tham nhũng. NTC.ST

Nhận diện những “con rối” lưu vong chống phá đất nước

 Thời gian gần đây, một số đối tượng là công dân Việt nhưng vì quyền lợi vị kỷ, bị kẻ xấu, các tổ chức phản động lôi kéo dẫn đến bất chấp đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bất chấp pháp luật, sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Việt Nam, tiếp tay cho kẻ xấu gây tâm lý hoang mang, ngờ vực, chia rẽ nội bộ, làm hại đất nước.

Ban đầu, các đối tượng đều là những công dân bình thường nhưng rồi sa ngã dần, trượt dài trên con đường tội lỗi khi bị mê muội trước sự lôi kéo của kẻ xấu. Khi phát hiện có nguy cơ nhận sự trừng trị ở trong nước, các đối tượng đã tìm cách chạy ra nước ngoài để bám gót các thế lực thù địch làm hại đất nước, dân tộc. Dưới đây là một số người nằm trong những kẻ đó.

Lê Văn Thương - từ kẻ vô kỷ luật đến con đường chống phá đất nước

Lê Văn Thương, sinh năm 1988 tại vùng đất Quảng Ngãi giàu truyền thống cách mạng với biết bao tấm gương hy sinh vì đất nước. Là người từng có thời gian phục vụ trong quân ngũ, được quan tâm tạo điều kiện đào tạo thành sỹ quan nhưng do không chịu rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu trở thành người có ích cho đất nước, cho quân đội và gia đình mà sa ngã, trượt dài trên con đường tội lỗi. Sau nhiều lần vi phạm kỷ luật, mặc dù đã được động viên, giáo dục, Thương vẫn tính nào tật ấy, do đó đã bị kỷ luật và được giải quyết cho xuất ngũ.

Thiết tưởng, sau khi trở về địa phương, Thương sẽ vượt qua lầm lỗi, chí thú làm ăn chăm lo cho gia đình, trở thành công dân tốt, nhưng y lại tiếp tục trượt dài, bộc lộ bản chất của một kẻ phá hoại, bắt tay với các đối tượng xấu có nhiều hoạt động chống phá đất nước và tuyên bố “tự nguyện ra quân và rời bỏ Đảng” để thành lập lực lượng hòng thay đổi chế độ. Một kẻ ảo tưởng mới chỉ được đào tạo những kiến thức ở cấp phân đội về quân sự nhưng Thương lại lừa bịp, tuyên bố rất hùng hồn có năng lực, khả năng chỉ huy những đội quân lớn có thể làm thay đổi được tình hình đất nước.

Trước những hoạt động chống phá đất nước, có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, Lê Văn Thương đã bị khởi tố về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời đã bị truy nã sau khi bỏ trốn khỏi địa phương vào năm 2018. Các cơ quan chức năng đã nhiều lần có văn bản gửi gia đình, vận động, kêu gọi Thương ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Biết không thể có nơi dung thân ở trong nước, Lê Văn Thương đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài. Để được các thế lực ngoại bang sử dụng và có tiền sinh sống, Thương đã bất chấp sự khoan dung của đất nước và tiếp tục lún sâu hơn vào con đường tội lỗi khi sử dụng không gian mạng tạo lập các tài khoản để bịa đặt, nói xấu tình hình đất nước, chống phá Việt Nam. Trên tài khoản facebook cá nhân và tài khoản youtube “Tiếng nói Dân chủ Việt”, đối tượng đã công khai bộc lộ là một kẻ phản bội lại quê hương, đất nước khi liên tục phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt. Chính y đã tự bôi xấu bản thân, làm ảnh hưởng đến những người thân và tự chặn lại con đường trở về quê hương mà một số kẻ đã sai lầm mắc phải trước đây.

Trương Quốc Huy – “con rối” trong tay các thế lực bên ngoài

Trương Quốc Huy, sinh năm 1981 tại TP Hồ Chí Minh. Huy chỉ học hết lớp 7 rồi bỏ giữa chừng, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự đã vi phạm kỷ luật và bị loại ngũ. Do kém hiểu biết, trong giai đoạn 2004, 2005, Huy và Hàng Tấn Phát - một kẻ đồng tính, đã bị các tổ chức phản động dụ dỗ, lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động“Hội đồng Dân quân cứu quốc” do đối tượng khủng bố Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu.

Sau đó, được sự hà hơi, tiếp sức, chỉ đạo của các đối tượng phản động Bùi Quang Vinh, Nguyễn Hoàng Huy Đức và Lisa Phạm, Trương Quốc Huy đã thu thập, phát tán các tài liệu trên các trang web phản động có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và phát tán tờ rơi có nội dung xuyên tạc chính quyền “đàn áp tôn giáo”, do đó đã được tổ chức khủng bố của Nguyễn Hữu Chánh chuyển cho 600 USD.

Do có hoạt động vi phạm pháp luật, năm 2005, Trương Quốc Huy và Lisa Phạm đã bị cơ quan chức năng của Việt Nam bắt để điều tra làm rõ. Trong thời gian bị tạm giam, hai đối tượng đều tỏ ra ăn năn hối lỗi, viết nhiều lá đơn xin khoan hồng, nội dung rất thống thiết như “Đơn xin cam kết từ bỏ hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam; tôi nhận thấy hành vi của mình vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đi ngược lại mục tiêu chung của dân tộc…

Tôi xin cam kết từ bỏ tất cả để trở thành công dân lương thiện…”. Với mục đích nhân đạo, mở cho kẻ lầm đường lạc lối trở lại thành công dân lương thiện, Trương Quốc Huy được trả tự do sau 9 tháng giam giữ mà không bị truy tố và Lisa Phạm bị trục xuất về Mỹ.

Tuy nhiên, với bản chất phá hoại khó thay đổi, sau khi được trả tự do, Trương Quốc Huy đã tiếp tục có hoạt động vi phạm pháp luật, gia nhập các tổ chức phản động. Năm 2006, Trương Quốc Huy và anh trai là Trương Quốc Tuấn bị bắt về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Năm 2008, Trương Quốc Huy bị tòa án xét xử, tuyên phạt 6 năm tù giam và 3 năm quản chế. Năm 2012, sau khi mãn hạn tù, Trương Quốc Huy cùng Trương Quốc Tuấn trốn sang Thái Lan và bị bắt giữ vì hành vi nhập cảnh trái phép; sau đó đã được tỵ nạn tại Mỹ dưới sự bảo trợ, bảo lãnh của tổ chức, cá nhân phản động đã từng hà hơi, tiếp sức cho đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam.

Sau khi được tỵ nạn tại Mỹ, Trương Quốc Huy tiếp tục “ngựa quen đường cũ” và để có tiền trang trải cho cuộc sống, y đã tuyên bố gia nhập các tổ chức phản động và tạo lập các tài khoản mạng xã hội, trang mạng phản động, trong đó có N10Tv để phát tán tài liệu sằng bậy, bịa đặt chống phá Việt Nam.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt Nam yêu chuộng hòa bình đã đăng trên các tài khoản mạng xã hội gọi Trương Quốc Huy là loại “tâm thần chính trị”; những quân nhân có thời gian nhập ngũ cùng đã tẩy chay, bóc mẽ, chỉ ra những việc làm vi phạm đạo đức, vi phạm kỷ luật quân đội của Trương Quốc Huy.

Trần Minh Nhật - kẻ bôi nhọ Thiên Chúa, tay sai của tổ chức khủng bố Việt Tân

Trần Minh Nhật sinh năm 1988, trong một gia đình Thiên Chúa giáo quê Nghệ An. Là một sinh viên được đào tạo cơ bản ở TP Hồ Chí Minh, có tri thức, cứ tưởng Trần Minh Nhật sẽ trở thành người có ích. Tuy nhiên, Nhật đã bị các đối tượng xấu móc nối, lôi kéo tham gia tổ chức khủng bố Việt Tân, có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, do đó đã bị bắt, bị xử lý về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Trần Minh Nhật đã quan hệ với một số đối tượng phản động cùng quê Nghệ An, như Nguyễn Xuân Kim, Đặng Xuân Diệu và đặc biệt là các đối tượng trong nhóm Hồ Đức Hòa, thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân.

Năm 2011, Trần Minh Nhật xuất cảnh đi Thái Lan tham gia khóa huấn luyện cách thức chống phá Việt Nam do tổ chức khủng bố Việt Tân tổ chức, sau đó được chúng cung cấp tài chính, tung trở lại Việt Nam để phá hoại.

Tuy nhiên, hoạt động phạm tội của chúng đã bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ và điều tra làm rõ. Năm 2013, Hồ Đức Hòa cùng đồng bọn đã bị tòa án xét xử về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; trong đó, Trần Minh Nhật bị tuyên phạt 4 năm tù giam, 3 năm quản chế.

Tháng 8/2015, ra tù, Trần Minh Nhật chuyển vào cư trú tại tỉnh Lâm Đồng. Trong thời gian chấp hành hình phạt quản chế, y vẫn tiếp tục “ngựa quen đường cũ” có nhiều hoạt động chống phá đất nước. Năm 2016, Trần Minh Nhật trốn ra Nghệ An và đã có nhiều hoạt động gây rối an ninh trật tự, lôi kéo tụ tập đông người chặn Quốc lộ 1, đập phá trụ sở chính quyền địa phương. Trần Minh Nhật đã bị khởi tố, rồi bị truy nã về hành vi không chấp hành án theo quy định tại Điều 304 BLHS. Biết sẽ bị bắt nếu còn ẩn trốn ở trong nước, y đã cùng vợ chạy trốn ra nước ngoài.

Để hoạt động chống phá đất nước và mong nhận được sự bố thí của các thế lực ngoại bang, Trần Minh Nhật đã tạo lập, sử dụng nhiều tài khoản trên mạng xã hội, trong đó có tài khoản youtube VoteTV để phát tán thông tin bịa đặt, sai sự thật về tình hình đất nước, đi ngược lại những điều tốt đẹp của người Công giáo và những điều răn của Chúa.

Phạm Minh Vũ – từ một sinh viên vô kỷ luật đến trượt dài trên hành trình phạm tội

Phạm Minh Vũ sinh năm 1992 tại Quảng Trị, từng là sinh viên Trường Cao đẳng Phát thanh và Truyền hình 1 tại tỉnh Hà Nam. Không như những sinh viên khác luôn nỗ lực học tập để thành tài, Phạm Minh Vũ lại dành thời gian quý báu để truy cập vào những trang phản động và bị tiêm nhiễm những tư tưởng chống đối, rồi tham gia vào những hoạt động tội lỗi, đi ngược lại những quy định của nhà trường và bị đuổi học.

Được sự lôi kéo của các đối tượng thuộc tổ chức phản động “Hội anh em dân chủ của Nguyễn Văn Đài, Phạm Minh Vũ đã tham gia điều hành trang phản động của tổ chức này và liên kết với các đối tượng Đỗ Nam Trung, Lê Thị Phương Anh tham gia vào các hoạt động tụ tập đông người, tuần hành gây rối an ninh trật tự.

Thông qua đối tượng Nguyễn Thái Học, thành viên tổ chức khủng bố Việt Tân, chúng đã chuyển cho Phạm Minh Vũ tiền để thu thập tài liệu, biên soạn bịa đặt, kích động và kêu gọi công nhân trong các khu công nghiệp nghỉ việc, tụ tập biểu tình phá rối an ninh trật tự tại các tỉnh phía Nam.

Tối ngày 14/5/2014, trong khi Phạm Minh Vũ cùng đồng bọn đến Bình Dương quay phim, chụp ảnh các hoạt động gây rối của những kẻ quá khích trà trộn vào giới công nhân thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ. Phạm Minh Vũ, Đỗ Nam Trung và Lê Thị Phương Anh đã bị khởi tố, điều tra theo Điều 258, Bộ luật Hình sự. Sau đó, Phạm Minh Vũ đã bị tòa tuyên phạt 18 tháng tù giam về hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích Nhà nước.

Trong quá trình chống phá đất nước, Phạm Minh Vũ đã được các tổ chức phản động nhiều lần chuyển tiền, điện thoại và máy ảnh làm phương tiện phục vụ cho việc thu thập, phát tán tin tức, tài liệu xuyên tạc tình hình đất nước, thông qua các đối tượng chống đối như Nguyễn Thái Học, Trần Bửu Thọ, Ngô Duy Quyền.

Đáp lại, Phạm Minh Vũ đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Sep Pham” và địa chỉ hộp thư điện tử “vuemail” để phát tán 174 trang tài liệu có nội dung đả kích chế độ, kích động biểu tình, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Sau khi ra tù, không chịu hoàn lương trở thành người có ích, Phạm Minh Vũ tiếp tục có nhiều hoạt động chống phá Việt Nam thông qua việc sử dụng tài khoản trên mạng xã hội để phát tán nhiều thông tin xuyên tạc, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ chủ chốt các cấp và lực lượng vũ trang; xuyên tạc tình hình chính trị, các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, tự do báo chí và tự do ngôn luận, công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam. Lo sợ bị bắt, bị xử lý, Phạm Minh Vũ đã chạy trốn ra nước ngoài và tiếp tục hành trình xuyên tạc, bịa đặt nói xấu quê hương, đất nước trên các trang mạng xã hội.

Đường Văn Thái - không đỗ công chức, tự huyễn hoặc bản thân, bất mãn tự đề cao bản thân rồi thành kẻ chống phá đất nước

Đường Văn Thái, còn gọi là Thái Văn Đường, sinh năm 1982 tại Đông Anh, Hà Nội. Đường Văn Thái được đào tạo cơ bản ở trong nước, có thời gian tham gia hoạt động đoàn và làm hợp đồng tại Phòng Quản lý đất đai & Giải phóng mặt bằng huyện Đông Anh. Năm 2013, thi công chức nhưng không đỗ và nảy sinh bất mãn, Thái xin nghỉ việc.

Sau đó đi học về chuyên ngành quản lý đất đai tại Hàn Quốc theo dạng tự túc. Từ khi có tư tưởng tiêu cực, bất mãn và nhất là sau khi sang Hàn Quốc du học, Đường Văn Thái đã giao du với nhiều đối tượng xấu, có hoạt động chống Việt Nam, tham gia kích động tụ tập đông người gây rối an ninh trật tự trên địa bàn Hà Nội. Y đã móc nối tham gia vào các hội, nhóm chống đối như Hội Nhà báo độc lập, Hội Anh em dân chủ….

Đường Văn Thái đã tạo lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội để phát tán những bài viết, hình ảnh chứa đựng những thông tin không đúng sự thật trên nhiều lĩnh vực của Việt Nam, tập trung bóp méo, thổi phồng, bôi đen hiện tình đất nước và kích động người dân tham gia vào các hoạt động gây rối.

Năm 2017, sau khi về nước, Đường Văn Thái đã chuyển vào sống tại TP Hồ Chí Minh và tiếp tục có các hoạt động chống phá Việt Nam ngày một manh động. Khi một số đồng bọn bị bắt, biết rất khó tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật, năm 2019, y đã tìm cách trốn ra nước ngoài với mục đích xin tỵ nạn chính trị.

Cuộc sống tỵ nạn của Đường Văn Thái ở Thái Lan cùng với một số trường hợp khác đang rất khó khăn, khổ sở. Để được các thế lực thù địch chú ý, quan tâm và có tiền sinh sống, y thường xuyên tạo lập và phát tán trên youtube nhiều tin tức bịa đặt, thông tin giả xuyên tạc tình hình ở trong nước. Rất nhiều ý kiến trên cộng đồng mạng đã phản đối hành vi sai trái của Đường Văn Thái và gọi y là kẻ “tiểu nhân, kẻ bán nước cầu vinh”.

Từ Đường Văn Thái cho đến Lê Văn Thương, Phạm Minh Vũ, Trương Quốc Huy và Trần Minh Nhật cùng một số kẻ khác đều có quá trình sa ngã, dần trượt dài từ một công dân thành những kẻ phá hoại đất nước.

Lo sợ trước sự phản ứng của người dân trong nước và sợ bị pháp luật trừng trị, các đối tượng đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài, bám gót các thế lực chống đối và lợi dụng không gian mạng để phát tán tin giả, thông tin bịa đặt chống phá, bôi nhọ hình ảnh đất nước trên trường quốc tế.

Đánh giá nền dân chủ không thể dựa vào một… hội nghị

 Những ngày qua, trên nhiều báo chí nước ngoài, diễn đàn mạng xã hội, các trang truyền thông của các tổ chức phản động lưu vong người Việt liên tục có các bài viết nhắc đến Hội nghị thượng định về dân chủ, tổ chức tại Hoa Kỳ. Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ (Summit for Democracy) theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Joe Biden diễn ra trong hai ngày 9 và 10/12/2021, theo hình thức trực tuyến. Tham gia hội nghị này có đại diện của hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong hai ngày họp, hội nghị tập trung vào những thách thức và cơ hội mà các nền dân chủ đang phải đối mặt, cung cấp một diễn đàn để các nhà lãnh đạo công bố những cam kết, cải cách và sáng kiến nhằm bảo vệ nền dân chủ và nhân quyền ở trong nước và ngoài nước.

Đáng chú ý, trước, trong và sau khi hội nghị diễn ra, báo chí quốc tế và nhiều diễn đàn bàn về danh sách khách mời. Với chỉ hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ được mời, bản danh sách còn thiếu nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, bao gồm cả những nước lớn như Nga, Trung Quốc… Từ việc suy diễn Việt Nam không có tên trong danh sách mời, các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong hào hứng “mở cờ trong bụng”, coi đây là lý do để đẩy mạnh thực hiện các hoạt động công kích, chống phá Việt Nam. Đồng thời, nó cũng trở thành cái cớ để các đối tượng tấn công, quy chụp rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền.

Thực tế, Hội nghị này do Mỹ đứng ra tổ chức nên việc mời quốc gia nào, mời bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích của người tổ chức. Ngược lại, việc quốc gia được mời có tham gia hay không tham gia cũng không phải là tiêu chí để đánh giá nền dân chủ của một quốc gia.

Theo trang tin Theepochtimes, mục đích của việc tổ chức hội nghị trên nhằm giúp cho chính quyền Mỹ đánh giá những tiến bộ về dân chủ của các quốc gia hướng đến việc đưa lãnh đạo các quốc gia, các tổ chức xã hội dân sự các khối tư nhân vào làm việc cùng nhau. Hội nghị thượng đỉnh các nền dân chủ là kế hoạch hành động mới nhất mà chính quyền Tổng thống Biden đã, đang thực hiện nhằm giải quyết vấn đề “thách thức của thời đại chúng ta”.

Theo Tổng thống Biden, đây là sự cần thiết phải thể hiện rằng “các nền dân chủ có thể thành công thông qua việc cải thiện đời sống của người dân nước mình và bằng việc giải quyết những vấn đề lớn nhất mà toàn thế giới rộng lớn đang phải đối mặt”. So với các hội nghị khu vực, hội nghị toàn cầu khác như Hội nghị thượng đỉnh G7, Hội nghị thượng đỉnh G20, Hội nghị cao cấp Á Âu… thì hội nghị do một quốc gia đơn phương đứng ra tổ chức chưa thể hiện được vai trò và tác động đối với quốc tế.

Trong khi đó, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, việc Mỹ lần đầu tiên đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ cũng không phải là căn cứ hay thước đo gì về dân chủ với các nước. Những hành động can thiệp vào công việc của các nước có chủ quyền, áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế, tạo bất ổn, gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược với danh nghĩa bảo vệ dân chủ đã giúp cho Mỹ lật đổ chính quyền hoặc can thiệp vào một số quốc gia nhưng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhân dân tại các nước đó và ảnh hưởng tới cộng đồng quốc tế. Để rồi khi những khẩu hiệu dân chủ rời đi thì chỉ còn lại một đất nước hoang tàn, loạn lạc, bất ổn như Iraq, Afghanistan, Lybia… Với các tổ chức thù địch, phản động thì coi hội nghị này như cái cớ để thúc đẩy chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, tìm kiếm sự tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần.

Xét từ phương diện nào thì nhân quyền trong một xã hội vẫn luôn phải thể hiện qua thực tiễn cuộc sống. Nhân quyền không phải khái niệm trừu tượng, không phải là những khẩu hiệu chung chung, mà có thể quan sát, khảo sát, đánh giá một cách toàn diện đến từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của xã hội, con người. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn phấn đấu để vấn đề dân chủ, nhân quyền ngày càng hoàn thiện, phát triển, cuộc sống mọi mặt của toàn dân ngày càng được nâng cao.

Nhìn từ lịch sử cách mạng, phải khẳng định rằng ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng chăm lo cuộc sống mọi mặt của người dân. Bởi đó là bản chất, là mục tiêu nhất quán của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đó cũng là nỗ lực để hiện thực hóa điều Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Đến nay, Việt Nam là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015; được Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới trao giải thưởng thành tích xuất sắc trong xóa đói, giảm nghèo. Những đóng góp tích cực và hiệu quả của Việt Nam vào mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt như: Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục...

Trên trường quốc tế, Việt Nam được tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao khi gia nhập Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2014-2016 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến diễn ra cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 là đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, Việt Nam không chỉ quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác trong AICHR. Đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, quốc tế, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Không phủ nhận rằng trong quá trình quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam còn có những tồn tại, khiếm khuyết, trong đó có việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống. Trong xã hội Việt Nam, bảo đảm quyền dân chủ, nhưng phải bảo đảm đúng pháp luật và giữ vững sự ổn định xã hội. Bảo đảm dân chủ vừa là quyền, vừa là mục tiêu hướng đến của chế độ, vì vậy mỗi người dân cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền dân chủ theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. 

Quan hệ Việt - Mỹ đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, tiếp tục phát triển ổn định, đi vào chiều sâu trên cơ sở, nguyên tắc “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau và cùng có lợi”. Đặc biệt, hai bên đã phối hợp để tìm hiểu, đối thoại về vấn đề dân chủ, nhân quyền, thu hẹp những quan điểm khác biệt. Mới đây, Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam lần thứ 25 được tổ chức ngày 9/11 tại Thủ đô Washington.

Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn đời sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng thành tựu cụ thể, bằng đời sống người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện rõ ở vị thế và tín nhiệm. Việc một hội nghị diễn ra ở nơi nào đó, do quốc gia nào đó tổ chức như Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ của một quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay những quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”, do quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm bảo cho nhân dân.