Thứ Tư, 26 tháng 1, 2022

Những đặc điểm nổi bật của thời đại ngày nay

 


Với tư duy mới, Đảng ta đã vận dụng tổng hợp, sáng tạo các phương pháp tiếp cận thời đại trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật để phân tích, nhận diện, rút ra những đặc điểm của thời đại trong giai đoạn hiện nay, gồm những đặc điểm sau đây:

 Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ:

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã đưa loài người bước vào nền kinh tế tri thức, đồng thời tạo ra quá trình toàn cầu hóa, tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến sự phát triển của nhiều quốc gia. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), Đảng ta nhận định: Cuộc cách mang khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ, tác động đến sự phát triển của nhiều nước[1]. Do sự tác động của các quá trình này đã tạo nên xu thế hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; song bên cạnh đó, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, chạy đua vũ trang, bạo loạn lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra rất phức tạp. Thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay đã chứng tỏ cho sự nhận định trên của Đảng, đó là sự liên kết khu vực, liên kết toàn cầu như ASEAN, APEC, ASEM...; chiến tranh ở Apganixtan, Irac...; bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi...; tình hình phức tạp ở biển Đông...

Về chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng trên thế giới

Đảng ta đánh giá: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới[2]. Chính tổn thất này mà phong trào cách mạng thế giới ở thập kỷ 90 của thế kỷ XX  và một số năm đầu thế kỷ XXI đã lâm vào thoái trào.

Tuy nhiên, một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển. Đặc biệt hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã có những bước hồi phục[3], song Đảng ta cũng thấy rõ sự gian nan, thử thách đối với những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và cánh tả sẽ còn gặp nhiều khó khăn, vì các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá, tìm mọi cách để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

Về chủ nghĩa tư bản:  Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn  tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công.

Đi sâu phân tích những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản, Đảng đã khẳng định: Nhưng mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc, khủng hoảng kinh tế tiếp tục diễn ra. Từ đó Đảng ta kết luận: Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân lao động các nướcsẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.

 Về độc lập dân tộc và phát triển

Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, ưu thế về kinh tế, khoa học và công nghệ lại nằm trong tay các nước tư bản, cho nên Các nước đang phát triển, kém phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ đọc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc.

 Về những vấn đề toàn cầu

Giai đoạn hiện nay của thời đại đã và đang nổi lên những vấn đề cấp bách, liên quan đến vận mệnh sống còn của cả nhân loại như: “ gìn giữ hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo.... Giải quyết được những vấn đề này đòi hỏi sự nỗ lực hợp tác với tinh thần, ý thức trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc.

Từ những đặc điểm trên, Đảng ta khái quát nêu lên đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là: (Đại hội XIII của Đảng dự báo tình hình thế giới những năm sắp tới: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biẾn rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó kăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục, diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đới với môi trường kinh tế, chính trị, anh ninh quốc tế. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế, Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thcáh thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của CN dân tộc cực đoan. Luật pháp quốc tế và các theé chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn.

Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh kiềm chế lẫn nhau, gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.

Kinmh tế thế giới đang lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kép dài do tác động của dịch COVID- 19. Các quốc gia nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

Cuộc cáh mạng công nghiệp lần thứ 4, nhát là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc

Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, anh ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường…tiếp tục diễn biến phức tạp.

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam á có vị trí chiến lược ngỳa càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, Hòa bình, ổn định, tự do, anh ninh, an toàn hàng hải, ghàng không trên biển Đôngh đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Ásean có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn.”

Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Căn cứ vào lôgic, quy luật vận động, phát triển của tiến trình lịch sử nhân loại, Đảng ta rút ra kết luận: Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XI, Nxb CTQG, Hà nội, 2011, tr. 67.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Sdd, tr. 68.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Sdd, tr. 68.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào tôn giáo.

 


Nhà nước cần quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn; có chính sách ưu tiên về vốn để xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế, nâng cao kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; hướng dẫn đồng báo tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa phát triển sản xuất hàng hóa… để đồng bào nâng cao dần mức sống, tạo cơ sở kinh tế để nâng cao sức mạnh nội sinh từ cơ sở, địa bàn. Đồng thời làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện tốt chính sách định canh, định cư, có giải pháp phù hợp trong nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội như chương trình 135, các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, giao thông miền núi…, hạn chế và dần chấm dứt di dân tự do, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể ở từng cơ sở, địa bàn.

Đi đôi với đẩy mạnh phát triển kinh tế, phải tích cực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là ở các làng bản…đồng bào dân tộc thiểu số có tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa và bảo đảm an sinh xã hội. Do vậy cần quan tâm đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế như trường học, trạm xá, nhà văn hóa thôn bản…để nâng cao dân trí, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Đổi mới hoàn thiện chính sách về định canh, định cư, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm, chính sách chăm lo cho những người có công, người có hoàn cảnh éo le, cơ nhỡ là tín đồ các tôn giáo. Mặt khác, để đồng bào tôn giáo phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo mình trong xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tích cực phát động các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa phù hợp với đức tin, tâm lý, tập quán của đồng bào theo từng tôn giáo cụ thể phù hợp với đặc điểm vùng, miền khác nhau; qua đó, hạn chế đẩy lùi các tiêu cực, lạc hậu như mê tín dị đoan, cả tin đi theo các tà dạo, theo những kẻ xấu xúi giục thực hiện những hành vi phá rối an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội…

Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay

 


Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước vè công tác dan tộc (nhất là cán bộ người DTTS) có vai trò vô cùng quan trọng trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Hiện nay mới chỉ có Học viện Dân tộc mở các khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ đã làm công tác quản lý nhag nước về công tác dân tộc, vì vậy số lượng cán bộ được đào tạo chuyên sâu còn ít.

Bên cạnh đó ở một số địa phương, việc bố trí sử dụng cán bộ làm công tác QLNN về CTDT còn nhiều vấn đề đề cần quan tâm. Mức độ bố trí, sử dụng đạt hiệu quả thấp, nhiều người trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu công việc nhưng chưa được bố trí công việc phù hợp, song nhiều người không có trình độ chuyên môn về dân tộc lại được bố trí làm quản lý nhà nước về CTDT. Ở nhiều địa phương, vùng DTTS và miền núi có địa bàn rất rộng, đi lại khó khăn, có nhiều tộc người sinh sống nhung chỉ tiêu biên chế cho QLNN về CTDT cũng chỉ như các địa bàn khác (lại chưa bao giờ có chỉ tiêu cụ thể cho từng tộc người), nên cán bộ nhiều nơi chưa đi sâu, đi sát cơ sở. Một số địa phương chưa coi trọng đúng mức việc quản lý, theo dõi, kiểm tra cán bộ sau khi đã bố trí công việc, dó đó, thieus thông tin về chất lượng công tác của cán bộ, thiếu căn cứ để đề bạt hoặc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, sắp xếp lại cán bộ

 

Tính chất mới của thời đại ngày nay

 


Luôn nhất quán với quan điểm mác - xít về tính chất của thời đại mới, thời đại ngày nay, Đảng ta khẳng định: Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là thắng lợi mở đầu của chủ nghĩa xã hội và cũng là mở đầu thời đại mới mà nội dung cơ bản và tính chất của nó đã được xác định là quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tính chất ấy của thời đại đến nay vẫn không hề thay đổi.

Trước tổn thất lớn của phong trào cách mạng thế giới: sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, dẫn đến thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã phân tích cụ thể, đánh giá đúng tình hình và đưa ra nhận định: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội[1].

Cùng với sự khẳng định tính chất không thay đổi của thời đại ngày nay, Đảng ta chỉ rõ: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử[2].

 Để có thêm cơ sở đưa ra nhận định về tính chất của thời đại ngày nay, Đảng ta đã xuất phát từ thực tiễn lịch sử: Thời đại phong kiến ở châu Âu hình thành, phát triển sau gần 200 năm mới thay đổi được hoàn toàn chế độ nô lệ; thời đại quá độ từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản chủ nghĩa, nếu tính từ cách mạng tư sản Anh đến cách mạng tư sản Pháp và cả châu Âu cũng diễn ra khoảng 200 năm. Từ đó, Đảng ta rút ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, là thời đại mà chế độ xã hội khác hoàn toàn về chất so với các chế độ xã hội trước đó trong lịch sử, thì đương nhiên sẽ rất lâu dài và hết sức quanh co, phức tạp.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H. 1996, tr.76.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb CTQG, Hà Nội, 1991, tr.8.

Tiếp tục tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh

 


Ngày này, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nửa sau của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bộ mặt của giai cấp công nhân hiện đại có nhiều thay đổi khác trước. Sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại nay đã vượt xa trình độ văn minh công nghiệp trước đây. Sự xã hội hóa và phân công lao động xã hội mới, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại, các hình thức bóc lột giá trị thặng dư… đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại không còn giống hoàn toàn với những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Thế nhưng nếu từ những biến đổi đó mà đi đến dao động, phủ nhận khái niệm giai cấp công nhân thì hoàn toàn sai lầm. Giai cấp công nhân hiện đại vẫn tồn tại, vẫn có sứ mệnh lịch sử của mình trong xã hội tư bản hiện đại. Do đó cần phải tiếp tục tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, những thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân mà C.Mác đã phát hiện ra đến nay vẫn còn nguyên giá trị phương pháp luận trong việc nhận thức giai cấp công nhân hiện đại. Lý luận về SMLS của giai cấp công nhân đến nay vẫn có giá trị khoa học và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn to lớn.

 

Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo pháp luật và “sống tốt đời, đẹp đạo”

 


 Bảo đảm các tổ chức tôn giáo và các tín đồ nhận thức sâu sắc về chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, để từ đó chấp hành nghiêm túc mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó thực hiện tốt phương châm sống “tốt dời, đẹp đạo”

 Tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật có liên quan đến tôn giáo như: Đất đai, văn hóa, giáo dục, y tế…bảo đảm đồng bộ với pháp luật về tôn giáo và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

 Tổ chức tuyên truyền và thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, kịp thời xây dựng mới cũng như bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật. Triển khai thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo, siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

 Trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật tôn giáo, tín ngưỡng cần tiếp thu nghiêm túc những ý kiến phản ánh, những kết quả giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và của cán bộ, nhân dân về những bất cập, hạn chế của công tác tôn giáo nói chung và của chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.

Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào DTTS trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

 


Hiện nay, cần phân bổ các định mức chính sách phù hợp với từng vùng, từng DTTS. Thực tế cho thấy đa số đồng bào DTTS cư trú tại các vùng còn kém phat triển; nhiều vùng chủ yếu nhận trợ cấp tại ngân sách trung ương nên cân đối ngân sách rất khó khăn. Tại các vùng này, tỷ lệ hộ nghèo da chiều còn nhiều nên việc đóng góp theo xu hướng xã hội hóa khi xây dựng các công trình dân sinh là rất khó khăn. Vì vậy cần có các định mức chính sách phù hợp, đủ để đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa, giáo dục, bảo đảm môi trường…Đồng thời cần điều chỉnh chính sách bằng việc cấp đủ kinh phí từ trung ương cho phù hợp với số đối tượng chính sách hoặc quy định một tỷ lệ phù hợp, tùy thuộc vào mỗi chính sách để tăng tính khả thi. Đối với những địa phương mang nhiều nét đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh té- xã họi cần có quy định cụ thể theo phương châm: Quản lý các chương trình đầu tư chính là quản lý nguồn quỹ phát triển. Theo đó, nên có cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư tài chính theo các kế hoạch nhắn hạn, trung hạn hay dài hạn.

Đại hội XIII của Đảng xác định: Tập trung hoàn thiện và trienr khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc tren tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giả quyết những khó khăn của đồng bào DTTS. Tạo sinh kế, việc làm, định anh, định cư vững chắc cho đồng bào DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030. Bảo vệ vf phát triển dân số các dan tộc thiểu số có dưới 10 nghìn người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi

Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau trong thời đại ngày nay

 


Quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau là quan hệ liên minh giữa các thế lực, các tập đoàn tư bản để cùng tìm kiếm và giành giật nhau về lợi ích. Thực chất quan hệ liên minh giữa các nước tư bản là liên minh trong cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau. Song chúng luôn có sự thống nhất về mục đích chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới.

Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau thường xuyên diễn ra, lúc gay gắt, lúc thầm kín. Biểu hiện mới của mâu thuẫn này trong giai đoạn hiện nay thể hiện:

+ Xu hướng “đa cực” chống “đơn cực” của Mỹ

Mỹ là trung tâm phát triển cao nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, ra sức mưu toan khống chế các nước tư bản khác và làm bá chủ thế giới. Các trung tâm khác như Tây Âu (chủ yếu là Cộng hòa liên bang Đức, Pháp) và Nhật Bản cũng ra sức trở thành siêu cường kinh tế; vừa là đồng minh vừa là đối thủ của Mỹ.

+ Cạnh tranh kinh tế, tranh chấp thị trường, chiến tranh thương mại cả trong và ngoài khuôn khổ WTO, thể hiện tập trung ở trục: Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản và ở các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia. Ngoài ra, giữa các tập đoàn tư bản khác nhau trong từng nước tư bản chủ nghĩa cũng có những mâu thuẫn gay gắt trong việc giành giật ưu thế về quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị.

Với tư duy mới, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc mâu thuẫn của thời đại trong giai đoạn hiện nay và khẳng định: các mâu thuẫn của thời đại ngày nay vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển sâu sắc hơn với những hình thức, mức độ biểu hiện mới so với trước đây. Những biểu hiện mới đó của mâu thuẫn cơ bản nói lên đặc điểm, tính chất thời đại, phản ánh tính chất phức tạp, quanh co của sự vận động lịch sử trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội.

 

 

Phương hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam

 


Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, vừa tạo ra điều kiện phát triển mới, vừa tạo nhiều áp lực cạnh tranh và tác động trực tiếp đến việc làm và đời sống của công nhân. Theo đó, cần phải xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; đảm bảo hài hòa các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động, của doanh nghiệp và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của người lao động...

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, bản lĩnh chính trị vững vàng, được trí tuệ hóa và thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế. Đảng, Nhà nước cần phải có chủ trương, chính sách đồng bộ, cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng “trí thức hoá” giai cấp công nhân là nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt, quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp công nhân và bản lĩnh chính trị vững vàng, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và tham gia hội nhập quốc tế.

Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong chăm lo xây dựng giai cấp công nhân. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân; tăng cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức để làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc… chính là những biện pháp để tạo ra cơ sở chính tri - xã hội cho quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam.

Phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, kế thừa những giá trị nhân loại làm cho hệ giá trị, lối sống và tác phong của giai cấp công nhân trở thành hệ giá trị chủ đạo của xã hội Việt Nam.... Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Giữ vững, tăng cường tính chất giai cấp công nhân của Đảng, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao tính chiến đấu của Đảng; không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, phẩm chất cộng sản... để Đảng đảm bảo quyền lãnh đạo và uy tín chính trị trong quá trình lãnh đạo thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị

 


 Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo. Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện, bảo đảm tôn trọng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc.Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.. Các các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận, Đoàn thanh niên, Tổng LĐLĐ, Hội CCB, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo. LLVT là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và tham gia giả quyết, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển

 


 Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

 Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư). Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu. Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ. Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới. Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước. Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Thứ Ba, 25 tháng 1, 2022

NGHĨ CHO KỸ, ĐÁNH GIÁ CHO ĐÚNG

 

Hỏi, Việt Nam đã giàu chưa? Đã mạnh chưa? Đã giỏi chưa? Câu trả lời của tôi là chưa. Theo tôi thì còn phải lao động cật lực hơn nữa, nếu thiên thời, địa lợi nhân hòa thì có chăng cũng hơn mấy anh trong cùng khối ASEAN, chứ sao hơn được Mỹ, Nhật, Trung? 


Nước ta còn nghèo, thu nhập bình quân đầu người năm 2020 mới chỉ ở mức chưa tới 3.000 USD (ấy, nhưng mấy định chế tài chính quốc tế bảo phải tính “sức mua tương đương” cơ, tính theo cách đó thì GDP sức mua tương đương của Việt Nam là 10.000 USD. Họ bảo các ông chỉ giả nghèo!). So với Thái Lan, Indonesia, Singapore, Malaysia thì còn thua kém. Song vì đâu thì những kẻ chống phá không bao giờ nói đến điểm khởi đầu của ta thế nào, ai làm cho đất nước ta bị kiệt quệ, họ cũng không nói.


Nước Mỹ rất giàu, rất mạnh. Thu nhập hàng năm của Mỹ phải tính hàng ngàn tỷ USD (năm vừa qua nghe đâu đạt tới 22 ngàn tỷ), trong khi dân số chỉ nhiều gấp ba Việt Nam (300 triệu/100 triệu) nhưng tổng thu nhập của Việt Nam cũng chỉ đạt 400 tỷ USD. Nói thể đủ biết nước Mỹ giàu thế nào rồi.


Nước Mỹ mạnh vì có một nền khoa học kỹ thuật phát triển và có vũ khí nguyên tử - con ngáo ộp đem ra dọa ai cũng sợ.


Luật pháp của nước Mỹ có hoàn chỉnh không? Rất hoàn chỉnh, vì tính từ ngày lập quốc đến nay (1776) thì đã trải qua trện 300 năm.


Nào, bây giờ chúng ta thử so sánh nước Mỹ với nước Việt ta, coi thử định mệnh của mỗi nước ra sao nhé?


Nước Mỹ được khai sinh vào ngày 4/7/1776, ngày đó Hoa Kỳ tách ra khỏi đế quốc Anh để lập ra Hợp chủng quốc Hoa Kỷ, ban đầu gồm có 13 bang. Mãi đến năm 1861 cuộc nội chiến mới nổ ra giữa Liên bang miền Bắc với Liên minh miền Nam. Cuộc nội chiến diễn ra trong 4 năm, chỉ chấm dứt khi Liên minh miền Nam đầu hàng (1865). Như vậy, ta có thể thấy Hợp chủng quốc Hoa kỳ đã qua 147 năm có nền chính trị ổn định (1865-2022).


Còn Việt Nam ta, quá trình lịch sử, cho ta thấy các thế lực bên ngoài chưa khi nào muốn cho nước ta được ổn định ngõ hầu được xây dựng và phát triển.


Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, ta đã có 9 năm chống Pháp (1945-1954), tiếp theo 20 năm chống Mỹ (1954-1975), tiếp theo 12 năm chống Khmer đỏ diệt chủng và thế lực bành trướng Trung quốc (1976-1988), xen kẽ vào đó là 20 năm chúng ta bị Mỹ và các nước chư hầu bao vây cấm vận toàn diện (1975-1995). 


Hai mươi năm qua, chúng ta mới thực hiện việc xóa đói giảm nghèo (tỷ lệ hộ nghèo từ 60% năm 1980 xuống còn dưới 3% năm 2020); về nông nghiệp, trước 1975 cả hai miền đều phải nhập lương thực thì nay chúng ta đã xuất khẩu nào lúa, nào thủy sản; về công nghiệp, tuy vẫn gia công là chính nhưng cũng đã xuất đi các thiết bị điện tử, và chúng ta đang thực hiện “make in Việt Nam”, điển hình là xe điện của Vinfast. Hy vọng đến năm 2045 nước ta sẽ là một nước phát triển, dân ta có thu nhập cao.


Như vậy trên thực tế, đất nước ta tính từ ngày lập quốc chỉ có 27 năm (1995-2022) tạm yên ổn để xây dựng và phát triển.Tôi dùng chứ “tạm” vì ngoài biền Đông chưa có được một ngày yên ổn. Nếu như tình hình Biển Đông mà yên thì lời sấm của Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ trở thành hiện thực: 


“Biển Đông vạn dặm giang tay giữ, 

Nước Việt muôn năm vững trị bình”.


Nhiều người cứ đem những thành tựu mà nước Mỹ đạt được rồi so sánh với nước ta thì đó là một sự thiếu hiểu biết, một sự so sánh khập khiễng. Không thể lấy một nước có 147 năm ổn định xã hội (Mỹ) để so với một nước mới chỉ được gọi là tạm ổn định trong 27 năm (Việt Nam). Ấy là chưa kể, nước Mỹ là một kẻ mạnh thường “lấy thịt đè người” đem quân đi xâm chiếm nhiều nơi để làm giàu cho mình. Còn Việt Nam ta muốn được yên ổn mà phát triển thì phải chìa bàn tay ra để làm bạn với tất cả các nước.

CẢNH GIÁC TRƯỚC ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG CHỐNG PHÁ TRÊN MẶT TRẬN VĂN HÓA TƯ TƯỞNG

 


Đối với người Việt, Tết cổ truyền không chỉ thiêng liêng, mà còn là những ngày trọng đại nhất trong một năm. Từ khắp mọi miền Tổ quốc cứ xuân về Tết đến là mỗi người lại nhớ về quê hương nguồn cội. Tết cổ truyền đã trở thành một nét đẹp văn hóa, một lẽ sống bản ngã tự nhiên in sâu vào tâm thức người Việt.

Văn hóa của người Việt bắt nguồn từ văn minh nông nghiệp lúa nước. Do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã phân chia thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc giao thời, trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán sau này được biết đến là Tết Nguyên đán. Tết Nguyên đán được khởi đầu từ ngày 23 tháng Chạp (23 Tết), kéo dài đến mùng bảy Tết, trong đó 3 ngày đầu tiên của tháng đầu tiên thuộc về năm mới được coi là Nguyên đán - Tết đầu năm mới.

Chuẩn bị bước sang năm mới, tuần cuối cùng của năm cũ. Nhà cửa được trang trí đẹp đẽ không gian để đón Tết, thú vui sắm sửa tranh Tết, câu đối và các loại hoa tươi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa không thể nào thiếu trong những ngày Tết. Cùng với đó là tục gói bánh chưng ngày Tết cũng đã trở thành nét văn hóa truyền thống của người Việt được lưu truyền từ xa xưa. Tất niên là bữa cơm cuối cùng khép lại một năm cũ. Sau một năm làm lụng vất vả, mưu sinh, những người con xa quê lại trở về quây quần quanh mâm cơm tất niên, kể cho nhau nghe chuyện đời, chuyện nghề, chuyện mưu sinh khó nhọc. Sau bữa cơm tất niên, giao thừa là thời khắc thiêng liêng nhất giữa năm cũ và năm mới, là sự giao hòa của đất trời vạn vật. Mặc dù mỗi miền quê có văn hóa nghi lễ cúng giao thừa khác nhau, song đều có cái chung là sắm mâm cơm thịnh soạn, đặt lên bàn thờ tổ tiên, con cháu quây quần bên nhau, hướng lên bàn thờ thành tâm nguyện cầu cho một năm mới sức khỏe, an lành, hạnh phúc.

Vậy mà, như một căn bệnh mãn tính, các thế lực thù địch luôn nhằm những ngày

trọng đại của đất nước, ngày lễ lớn của quốc gia và những gì thiêng liêng của dân tộc để không ngừng bôi xấu. Bằng những luận điệu như: Bỏ tết ta để chỉ ăn một tế tây; nghỉ tết là làm cho đất nước nghèo đi; là không lạc hậu với xu thế phát triển của thế giới và nhiều hơn nữa. Nhưng thử hỏi rằng nếu một đất nước không giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, tất cả đều bị lai căng thì tất cả xẽ đi về đâu.

Mặc dù ngày nay, cuộc sống bận rộn, Tết với phần lớn các gia đình cũng thay đổi, mang một dư vị khác. Các gia đình bận rộn. Khoa học công nghệ phát triển, dẫn đến một số phong tục xưa bị giảm bớt như: gói bánh chưng ngày tết; đốt pháo hoa giao thừa...vv

Nhưng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng đất nước đổi mới, những nghi lễ tập tục cũng được cắt giảm để phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, song những giá trị cốt lõi vẫn là nét đẹp trường tồn mãi mãi trong Tết cổ truyền của người Việt. Và nó là giá trị bất biến vĩnh hằng in đậm trong mỗi trái tim người dân Việt Nam, cần giữ vững và phát triển để làm phong phú hơn.

 

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRONG THỜI ĐẠI MỚI

 


Vấn đề tôn giáo nhằm kích động tín đồ tham gia các hoạt động gây rối, biểu tình là chiêu trò cũ rích, chúng coi đó như “ngòi nổ” để mở đường thúc đẩy hoạt động phá hoại trên các lĩnh vực khác. Tuy nhiên vẫn luôn tiểm ẩn nhiều nguy cơ và là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Bởi Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Trong những năm gần đây, trước những thành tựu đổi mới của đất nước trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự, góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch vẫn cố tình dựng lên rằng, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, “đàn áp dân tộc”… Họ đưa ra chiêu bài đòi “tự do tôn giáo”, đòi “quyền tự trị cho từng dân tộc”; kích động thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị” ở Tây Bắc; “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên với “Tin lành Đề ga” làm quốc đạo… hòng kích động, chia rẽ các tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của ta. Cụ thể là:

Để đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù; giữ vững môi trường an ninh trật tự, đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước trong tình hình hiện nay, của Đảng, Nhà nước và mọi người dân cần tập trung làm tốt những giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo để thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Kết hợp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, xem xét, giải quyết việc cấp đăng ký hoạt động tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Hướng dẫn các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức lành mạnh, hướng thiện của các tôn giáo phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc. Kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc, nảy sinh trong công tác tôn giáo như: vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự, tự do tín ngưỡng.

Thứ hai, Cần tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt, cần phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng vũ trang (Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) trong tuyên truyền, vận động và làm nòng cốt cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là đồng bào tín đồ các tôn giáo nhận diện và tố giác âm mưu cùng các hành vi, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng đất nước.

 

LỢI DỤNG DỊCH BỆNH ĐỂ MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ "ĐẢNG", MỘT THỦ ĐOẠN CẦN NGĂN CHẶN KỊP THỜI

 


Đại dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát tại Việt Nam thì trên một số trang mạng xã hội cũng bùng phát một loại “virus” nguy hiểm không kém biến thể Delta, cũng là lúc việc xuyên tạc công tác phòng, chống dịch (PCD) tại Việt Nam. Đằng sau sự xuyên tạc này là những mưu đồ chính trị, “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Tung tin giả để phá hoại thật là một trong những chiêu trò của các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn thường áp dụng để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong đại dịch Covid-19, ngay từ đầu năm 2020, khi dịch mới xuất hiện, tin giả đã “ăn theo” virus khiến cho dư luận hoang mang. Gần đây, khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát với biến thể Delta vô cùng nguy hiểm, khiến nhiều địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì tin giả cũng “tái bùng phát” trên mạng xã hội, thậm chí chúng còn đăng tải trên một số phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài xuyên tạc công tác PCD ở Việt Nam.

Khi một số địa phương triển khai giãn cách xã hội, chúng vu cáo Việt Nam vi phạm về quyền tự do đi lại, cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam thực hiện “ngăn sông cấm chợ” gây khó khăn cho cuộc sống của người dân”. Nguy hiểm hơn khi chúng phỏng vấn một số trường hợp người lao động tự do, cắt ghép, rồi “củng cố” cho những luận điệu xuyên tạc của mình.

Khi Chính phủ Việt Nam quyết định lập ra “Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19” với mục đích vô cùng tốt đẹp là tiêm vaccine miễn phí cho người dân thì chúng lại bóp méo sự thật rằng chính quyền không chủ động trong ứng phó dịch bệnh. Sử dụng video, clip bị cắt xén, lồng ghép những hình ảnh, âm thanh xuyên tạc về dịch Covid-19 gây hoang mang dư luận; đăng bài viết có tiêu đề giật tít, nhưng nội dung thì “không có gì” chỉ để tăng tỷ lệ tương tác, lượt like nhằm mục đích câu “view”, “đánh bóng tên tuổi” và sâu xa hơn là lợi dụng điều đó để nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ của chúng ta.

Theo Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an), lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các đối tượng chống phá đã soạn thảo, tán phát hàng chục nghìn bài viết, bình luận sai sự thật chống Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh trật tự trên hàng trăm website và hàng nghìn nhóm, tài khoản mạng xã hội. Nội dung tập trung vào các nhóm vấn đề: Xuyên tạc về diễn biến dịch, nguồn lây nhiễm, số người nhiễm bệnh, số ca tử vong, công dụng của thuốc và vật tư y tế PCD, kêu gọi tự điều trị, chẩn đoán tại nhà, không theo chỉ dẫn của Bộ Y tế; kích động, gây chia rẽ quan hệ ngoại giao Việt Nam với một số quốc gia; công kích, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền các địa phương trong PCD, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhân viên y tế, người mắc bệnh và người có nguy cơ lây nhiễm. Chúng còn kêu gọi biểu tình, tẩy chay, phản đối việc cài đặt phần mềm Bluezone, kích động công nhân đình công tập thể tại các công ty, khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài; kêu gọi tích trữ lương thực, thực phẩm, gây hoảng loạn trong quần chúng nhân dân; trục lợi kinh tế thông qua buôn bán, làm giả vật tư, thiết bị PCD...

Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, số người nhiễm bệnh và tử vong ở Việt Nam tăng cao, một số phần tử phản động người Việt bèn nêu ra quan điểm thoạt đầu nghe rất êm tai rằng “phản biện giải pháp phòng, chống Covid-19 tại Việt Nam”. Thế nhưng bản chất của chúng lại là phản bội lại Tổ quốc, phản bội lại nhân dân. Chúng “phán” rằng: “Dịch bệnh lan rộng ở Việt Nam có nguyên nhân sâu xa là do thể chế, do một đảng lãnh đạo, là vì chống dịch theo mô hình xã hội chủ nghĩa"... Đó là những cái nhìn phiến diện, đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc sự thật nhằm chia rẽ nội bộ nhân dân, chia rẽ giữa Đảng, chính quyền Nhà nước với nhân dân. Thủ đoạn nham hiểm của chúng là biến không thành có, biến ít thành nhiều, biến hiện tượng cá biệt thành bản chất.

Lợi dụng dịch bệnh, các đối tượng chống đối còn tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, lôi kéo người vào tổ chức, phát triển lực lượng chống đối trong nước. Đáng chú ý, tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã tài trợ in hơn 1 triệu khẩu trang có hình lưỡi bò tán phát trong nước nhằm khuếch trương thanh thế; tán phát “Thư kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam thả tù nhân trong đại dịch Covid-19”...

Dịch bệnh Covid – 19 gây ảnh hưởng nặng nề tới mọi mặt của đời sống của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam là nước nằm trong khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao và là nước có tiềm lực kinh tế còn hạn hẹp, thế nhưng với phương châm: “Tất cả vì sức khỏe của nhân dân”, ngay sau khi phát hiện những trường hợp dương tính đầu tiên ở trong nước,

Đảng và Nhà nước ta đã xác định, có thể hy sinh một số lợi ích kinh tế nhưng quyết tâm phải bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19; phát động toàn dân, toàn quân “chống dịch như chống giặc”. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội chỉ đạo thường xuyên, kiên quyết và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ “ngoại giao vaccine”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, chúng ta đã tổ chức khoanh vùng, dập dịch thành công ba đợt lớn và đang khống chế thành công đợt dịch thứ tư.

Đi ngược lại với những cố gắng đó, các thế lực phản động không ngừng kích bác, xuyên tạc, bóp méo sự thật; chúng không ngừng lu loa rằng, quan tham thờ ơ lãnh đạm với nỗi khổ của Nhân dân... mục đích nhằm kích động những người nhẹ dạ cả tin, lôi kéo tạo dư luận tiêu cực, thậm chí kích động những việc làm trái với quy định của pháp luật, làm khó khăn trong công tác phòng chống Dịch, gây nên những hậu quả hết sức nghiêm trọng cần phải sớm phát hiện và loại bỏ.

Nhìn lại kết quả công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua ở Việt Nam có thể thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh để đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn dân. Điều này không chỉ được chúng ta khẳng định mà bạn bè quốc tế cũng đã ghi nhận.

Thực tế, sau thời gian nỗ lực phòng, chống, đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư đã từng bước được kiểm soát.Trên cơ sở phân tích công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua, người đứng đầu Chính phủ đã chỉ ra một số bài học kinh nghiệm cần thấm nhuần như: Không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, nhất là khi dịch chưa đến hoặc đã kiểm soát được tình hình, đồng thời tránh hoảng hốt, mất bình tĩnh khi dịch bùng phát, lây lan. Phải nhất quán, kiên trì trong lãnh đạo, chỉ đạo, song áp dụng linh hoạt vừa tập trung, vừa phân tán căn cứ đặc thù của từng địa phương, thời điểm. Việc phân cấp thực hiện phòng, chống dịch phải xuống tận cơ sở, lấy xã, phường, thị trấn là “pháo đài”, người dân là “chiến sĩ”, người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong phòng, chống dịch. Như vậy, thực tế đã trả lời về hiệu quả công tác PCD Covid-19 của chúng ta.Trên cơ sở hiệu quả PCD, Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19 đã thống nhất chuyển chủ trương từ: “Không Covid” sang: “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19”; vừa PCD hiệu quả, vừa khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội.

Trước tiên các cơ quan chức năng, đặc biệt là y sỹ, bác sỹ, những người làm nhiệm vụ ở tuyến đầu chống dịch cần tích cực, cố gắng, nỗ lực hơn nữa vì cuộc sống ấm no của Nhân dân, bên cạnh đó cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức đến toàn thể Nhân dân, đặc biệt chăm lo đến người dân vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời tích cực đấu tranh bằng các hành động cụ thể, thậm chí dựa trên bộ quy tắc ứng xử để tố cáo, yêu cầu cơ quan chức năng vào cuộc, trường hợp cần thiết có thể truy cứu trách nhiệm hình sự, việc xử lí nghiêm minh mới đủ sức răn đe giúp ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi tiêu cực.

 

TẤM HUÂN CHƯƠNG THỜI BÌNH


Năm 2021 khép lại, nhưng trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam hẳn vẫn nhớ mãi hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, luôn sát cánh cùng các lực lượng trên tuyến đầu chống đại dịch Covid-19. Những việc làm của họ trên tuyến đầu chống dịch để lại tình cảm đặc biệt, dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân khắp mọi miền Tổ quốc.


Trước thềm xuân mới Nhâm Dần, tôi có dịp gặp lại hai chị em ruột: Thượng sĩ Nguyễn Hà Anh, học viên lớp đại học K50B, Hệ 4 và Thượng sĩ Nguyễn Hà My, lớp đại học K51, Hệ 2, Học viện Quân y, khi hai bạn trẻ vừa trở về từ cuộc chiến đấu dài ngày phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh. Gương mặt thanh tú, nước da trắng ngần của Hà Anh vẫn còn hằn sâu vết dây khẩu trang, mái tóc xác xơ. Thế rồi những sẻ chia chân thật của cô học viên năm cuối Học viện Quân y về những ngày cùng đồng đội tham gia PCD Covid-19 suốt 3 tháng không ngơi nghỉ tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam khiến người nghe không khỏi ám ảnh, xót xa. Nhưng qua đó càng thêm trân trọng, cảm phục ý chí, nghị lực phi thường và đức hy sinh cao cả của lực lượng tuyến đầu.


Tháng 8-2021, tạm rời giảng đường ngay trước lễ khai giảng năm học mới, hai chị em Nguyễn Hà Anh, Nguyễn Hà My xung phong vào tâm dịch. Sự thay đổi môi trường đột ngột và những căng thẳng khi ngày ngày phải đối mặt với dịch bệnh, cùng cường độ làm việc căng như dây đàn, khiến hai chị em Hà Anh, Hà My và các đồng đội nữ bị rụng tóc rất nhiều. Để thuận lợi cho công việc, các chị buộc phải tự cắt ngắn mái tóc của mình. Bởi khi ấy, toàn thành phố bị phong tỏa, không có hiệu làm tóc nào hoạt động. Nhiều bạn nữ đã bật khóc vì nuối tiếc mái tóc dài óng ả mà mình đã nâng niu, chăm sóc. Nhưng ám ảnh nhất là việc phải đeo khẩu trang, găng tay, đồ bảo hộ cả ngày, có khi cả đêm, rồi thường xuyên rửa bằng cồn sát khuẩn, làm da tay ai cũng nhăn nheo, bong tróc... “Suốt thời gian dài không có điều kiện chăm sóc, làm đẹp, nên sau khi kết thúc chiến dịch PCD, bạn nữ nào cũng nổi mụn đầy mặt, da đen sạm lại, không dám soi gương!”-Hà My chia sẻ.


Được biết, động lực để hai chị em Hà Anh, Hà My đăng ký tham gia chống dịch, đồng thời vượt lên khó khăn, thử thách ấy, ngoài lương tâm, trách nhiệm của một người lính quân y, còn xuất phát từ lời động viên, khích lệ của bố-Thượng tá, bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Danh Long, Khoa Răng miệng, Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân y). Hiểu rõ những khó khăn, gian khổ hai cô con gái phải đối mặt, nhưng anh kiên quyết: “Các con hãy lên đường chống dịch. Đây là dịp để thử thách ý chí, nghị lực, trui rèn y đức, nâng cao y thuật, cần cho bước đường tương lai sau này của các con”.


Việc anh chị em ruột, vợ chồng cùng đăng ký tham gia PCD Covid-19 vừa qua ở Học viện Quân y thực ra không hiếm. Trong lễ tuyên dương các lực lượng tuyến đầu PCD Covid-19 do Bộ Quốc phòng, các đơn vị, địa phương tổ chức, tôi đã ghi lại được rất nhiều tấm gương tiêu biểu, cùng những câu chuyện xúc động. Đó là trường hợp Đại úy, bác sĩ Phan Thị Huyền Linh và chồng là Đại úy QNCN Nguyễn Văn Công, cùng thực hiện nhiệm vụ tại Bệnh viện dã chiến truyền nhiễm số 6, đặt tại Tiểu đoàn 261A, Trung đoàn 2, Sư đoàn 8 (Quân khu 9).


Vợ chồng anh được tuyên dương bởi thành tích điều trị khỏi cho hơn 200 bệnh nhân Covid-19. Là bác sĩ điều trị, mỗi ngày chị Linh trực tiếp thăm khám, lấy hàng trăm mẫu bệnh phẩm trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao, nhưng chị không nề hà vất vả, mà luôn hết lòng chăm sóc, cứu chữa cho các bệnh nhân, luôn coi họ như người thân trong gia đình. Chồng chị là nhân viên Khoa Dược-Trang bị của bệnh viện dã chiến, luôn nỗ lực làm việc cả ngày lẫn đêm, vừa thiết kế, vừa lắp đặt các trang thiết bị, vật tư phục vụ điều trị bệnh nhân Covid-19, vừa hoàn chỉnh hệ thống kế hoạch, xây dựng danh mục thuốc, vật tư, trang bị, cũng như cấp phát, cung ứng kịp thời thuốc hằng ngày cho bệnh viện.


Đó còn là câu chuyện của Thiếu tá, Thạc sĩ Bùi Thanh Thuyết, Khoa Vi sinh vật, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Suốt thời gian từ khi xuất hiện dịch Covid-19 ở nước ta, cho đến đợt bùng phát dịch lần thứ tư tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, chị luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ, nơi dịch Covid-19 bùng phát dữ dội nhất.


Ông bà nội, ngoại ở xa, vợ chồng đều công tác trong quân đội, chị phải gửi hai con vào đơn vị của chồng để cùng đồng đội lên đường chống dịch. Thời điểm chồng chị là phi công chiến đấu Su-30MK2, công tác tại Thọ Xuân (Thanh Hóa) thường xuyên đi công tác xa, chị phải gửi hai con trai 10 tuổi và 6 tuổi khi thì quê nội, lúc lại quê ngoại, để yên tâm làm nhiệm vụ.


Có thể nói, trong cuộc chiến đấu diệt “giặc” Covid-19 hết sức khốc liệt vừa qua, sự hy sinh thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng như các lực lượng tuyến đầu được thể hiện trong mọi lúc, mọi nơi; là minh chứng sinh động về truyền thống đồng sức, đồng lòng, đồng cam cộng khổ của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, càng trong gian khó, càng xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, chấp nhận hy sinh, để lại ấn tượng và tình cảm đặc biệt trong lòng nhân dân.

Trong đó phải kể đến cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 7, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 4, nơi tâm đỏ của đại dịch Covid-19, đã được huy động tham gia PCD, hỗ trợ nhân dân, sẵn sàng chấp nhận rủi ro, nguy cơ lây nhiễm. Nhiều tấm gương tiêu biểu về đức hy sinh, sức chịu đựng khi có người thân mất nhưng không thể về chịu tang, cha mẹ ốm đau không thể về phụng dưỡng, chăm sóc, vợ sinh con không thể ở bên.


Đại úy QNCN Lê Minh Sáng, lái xe Tiểu đoàn Thiết giáp, Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh, không may có tới 3 người thân, gồm: Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ đều mất vì Covid-19; anh chị em ruột đều dương tính với Covid-19, nhưng đã nén đau thương, xung phong ở lại chống dịch. Thượng tá Bùi Văn Tân, Phó chính ủy Lữ đoàn 71, Quân đoàn 4 khi đang thực hiện nhiệm vụ trong tâm dịch TP Thuận An (Bình Phước), nhận được tin bố đẻ qua đời do nhiễm Covid-19. Mặc dù công tác gần nhà, nhưng do nhiệm vụ anh cũng không thể về chịu tang. Vài ngày sau, vợ anh cũng nhập viện vì nhiễm Covid-19. Gác lại tình riêng, anh dốc sức cho công việc.


Đó còn là trường hợp của Thượng úy QNCN Nguyễn Thanh Binh, nhân viên hàng hải, Hải đội 2, Bộ đội Biên phòng TP Đà Nẵng, xung phong cõng cụ già nhiễm Covid-19 đưa lên xe đi cấp cứu. Hạ sĩ Đào Văn Long, học viên Tiểu đoàn 2, Trường Sĩ quan Lục quân 2, trong thời gian trực PCD Covid-19, hai lần tham gia truy bắt thành công tội phạm; Trung tá, bác sĩ chuyên khoa II Lê Thị Nga, Hệ 1, Học viện Quân y làm đơn tình nguyện vào TP Hồ Chí Minh chống dịch. Trong thời gian hơn hai tháng, chị cùng đồng nghiệp điều trị khỏi cho hơn 700 ca F0...

Cảm kích trước những đóng góp, hy sinh thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ quân đội, đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, bày tỏ xúc động: “Chúng ta từng tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, nay lại chứng kiến quân đội xung kích trên tuyến đầu chống dịch. Lịch sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ viết tiếp những trang sử sống động, nhân văn và bi hùng trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19”.


Thật tự hào rằng, trong suốt hành trình gần hai năm chiến đấu với đại dịch Covid-19, đất nước ta đã thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự chia sẻ, tình yêu thương và nhân ái. Từ cuộc chiến đầy cam go, thử thách này, chúng ta cũng có dịp chứng kiến biết bao nghĩa cử cao cả, đẹp đẽ, đức hy sinh của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang; hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, nhân viên y tế, thầy thuốc trong cả nước...


Họ chính là những bông hoa đẹp góp phần truyền cảm hứng về đức hy sinh, trách nhiệm với đồng bào, truyền niềm tin để vượt lên nghịch cảnh, truyền năng lượng để đi qua những ngày tháng khó khăn, từ đó không ngừng bồi đắp giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, của tình đồng chí, nghĩa đồng bào... Những chiến công to lớn ấy cùng sự ghi nhận, biết ơn của nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các lực lượng tuyến đầu PCD Covid-19 chính là tấm huân chương trong thời bình dành cho họ.


 Theo báo cáo của Ban chỉ đạo PCD Covid-19 Bộ Quốc phòng, thời điểm cao nhất trên toàn quốc, hơn 230.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang được huy động tham gia PCD (riêng TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam có gần 140.000 người). Quân đội cũng triển khai 13 bệnh viện dã chiến điều trị bệnh nhân Covid-19 với 6.550 giường bệnh; thành lập 660 tổ quân y cơ động, 510 tổ tiêm vaccine; 1.125 tổ lấy mẫu xét nghiệm...


Đến hết ngày 14-10-2021, các bệnh viện dã chiến, cơ sở điều trị do quân đội đảm nhiệm đã tiếp nhận, điều trị 24.302 bệnh nhân; điều trị khỏi 19.834 bệnh nhân. Các bệnh xá, tổ quân y cơ động điều trị khỏi 321.608 ca F0 cộng đồng; cấp thuốc điều trị cho 492.051 người; cấp cứu 41.969 ca; thực hiện lấy mẫu xét nghiệm 2.289.544 người; tiêm vaccine 1.996.852 người. Quân đội còn phối hợp với các lực lượng vận chuyển 25.457 tấn hàng hóa; tích cực ủng hộ, giúp đỡ người lao động, gia đình nghèo trong tâm dịch giảm bớt khó khăn. Đến ngày 14-10-2021, toàn quân đã ủng hộ đồng bào vùng dịch với tổng trị giá hơn 1.003 tỷ đồng.

Quan điểm của Đảng về phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”


Để cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay được đúng hướng và có hiệu quả, cần nhận thức đúng đắn và quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Cụ thể bao gồm:

Một là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở Việt Nam hiện nay, thực chất là cuộc đấu tranh trong nội bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hai là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Ba là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành đồng bộ trên tất cả lĩnh vực với những nội dung, hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt, hiệu quả.

Bốn là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các tổ chức và lực lượng.

Năm là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “phòng” và “chống”, giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “phòng”, “xây” là chính.NTM./.