Thứ Tư, 27 tháng 4, 2022

TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN GSPBXH QUA NHỮNG NHIỆM KỲ GẦN ĐÂY CỦA ĐẢNG, CÓ THỂ RÚT RA MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM SAU:

 

Thứ nhất, thực hiện GSPBXH phải đặt trong quá trình dân chủ hóa xã hội có lộ trình, với bước đi thích hợp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua sự quản lý của Nhà nước và phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân. Việc mở rộng thực hành GSPBXH phải phù hợp với trình độ dân chủ, đặt trong tổng thể trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí,… tương thích với những sự thử nghiệm, bước đi thích hợp. Từ thực tế có thể thấy rõ điều này, khi trong nhiệm kỳ Đại hội VIII của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”. Để thể chế hóa Chỉ thị số 30-CT/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, ngày 11-5-1998, về “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP, ngày 8-9-1998, về “Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”; Nghị định số 07/1999/NĐ-CP, ngày 13-2-1999, về “Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước”. Những quy định đó đã thúc đẩy việc thực hiện dân chủ trên mọi lĩnh vực, chỉ rõ quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên có liên quan. Từ những bước đi đó, mới dẫn đến sự ra đời của Quy chế 05, thực hiện thí điểm ở 5 tỉnh, thành phố; thể hiện sự thận trọng cần thiết, để có thể thực hiện được nhiệm vụ quan trọng, mới mẻ này. Đồng thời, chỉ khi thực hiện GSPBXH dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thì mới có thể tập trung hết tiềm lực, phát huy hết khả năng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân; tránh những sự xung đột, tự phát có thể làm chệch hướng hoặc giảm hiệu quả của công tác GSPBXH.

Thứ hai, kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên tất cả các mặt tỷ lệ thuận với kết quả thực hiện GSPBXH. Làm tốt GSPBXH sẽ góp phần tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không phải là công việc nội bộ của Đảng, không chỉ là việc thực hiện những nguyên tắc, quy định, hướng dẫn,… trong sinh hoạt định kỳ, trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của các tổ chức đảng các cấp; mà cũng chính là thực hiện việc giữ gìn, củng cố và phát huy mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; muốn vậy, phải huy động mọi tâm huyết, đóng góp của quần chúng nhân dân, trong đó có hoạt động GSPBXH.  Nhìn lại những nhiệm kỳ Đại hội Đảng từ khi đất nước ta tiến hành đổi mới toàn diện đến nay có thể thấy rõ điều đó. Đại hội VI của Đảng đã đề ra: “Cần đưa công khai trên báo, đài, hoặc qua các cuộc sinh hoạt của các tổ chức đảng và đoàn thể quần chúng những vụ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp, mắc sai lầm nghiêm trọng về phẩm chất. Điều đó chỉ làm tăng lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”. Đây chính là thể hiện ý tưởng về quan hệ khăng khít giữa giám sát của quần chúng nhân dân với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà sau này được hiện thực hóa qua các nhiệm kỳ kế tiếp. Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII ban hành Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), nhằm ngăn chặn, đẩy lùi những thói hư, tật xấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, cùng 4 nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng, làm giảm lòng tin với Đảng của quần chúng nhân dân; đồng thời, Bộ Chính trị khóa VIII ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW để thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Hội nghị Trung ương 4 khóa XI ban hành nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đồng thời, Bộ Chính trị khóa XI ban hành các Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW, để đẩy mạnh hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thông qua GSPBXH.

Thứ ba, sự quyết tâm của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội sẽ quyết định chất lượng, hiệu quả của hoạt động GSPBXH. Giám sát, phản biện của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân mang tính chất xã hội, nghĩa là tính bắt buộc không cao; hiệu quả của nó chỉ có thể phát huy tốt nếu có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tác động của GSPBXH cần nhìn nhận qua thời gian dài, đồng thời kết quả của nó cũng chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Nếu không có sự quyết tâm lâu dài, sự vào cuộc quyết liệt, sự nhiệt tình vì sự nghiệp chung của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp thì GSPBXH khó có thể có kết quả như mong muốn./.

THỰC HIỆN GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI: KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

 

Việc thực hiện Quy chế 05 ở 5 tỉnh, thành phố đã thu được các kết quả đáng ghi nhận. Các đơn, thư tập trung chủ yếu vào những vi phạm của đối tượng giám sát trong thực thi công vụ khi thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, về tư cách và phẩm chất đạo đức cá nhân cũng như đạo đức công vụ, thái độ tiếp xúc với nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ. Thực hiện Quy chế 05, các địa phương đã bước đầu chấn chỉnh thái độ làm việc, ý thức tuân thủ các quy định, hướng dẫn cũng như nâng cao thái độ, ý thức phục vụ người dân của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Đồng thời, một bộ phận nhân dân đã hiểu được quyền giám sát của mình nên chủ động phát hiện, tố giác những hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, đảng viên trên địa bàn. Đây là sự thay đổi quan trọng, góp phần thực hiện dân chủ ở cơ sở cũng như chấn chỉnh thái độ, trách nhiệm công vụ của công chức cấp xã. Hạn chế rút ra qua thời gian thực hiện Quy chế 05 là, đối tượng giám sát chủ yếu chỉ là cán bộ, đảng viên đang công tác ở chính quyền cấp xã và thôn; với đối tượng là cán bộ, đảng viên các cơ quan đóng trên địa bàn thì hầu như không giám sát được do nhiều nguyên nhân, cả về khách quan cũng như chủ quan. Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016) đã đánh giá: “Chưa thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, phát huy vai trò giám sát, tham gia của nhân dân vào công tác xây dựng Đảng”, đồng thời đề ra phương hướng khắc phục: “Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”(3). Đây là đánh giá chung được rút ra từ quá trình thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở trên toàn quốc, cũng như từ kết quả thực hiện thí điểm Quy chế 05 tại 5 tỉnh, thành phố trên đây. Quy định số 217-QĐ/TW và Quy định số 218-QĐ/TW đã phát huy sự tham gia của quần chúng nhân dân, MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Ủy ban MTTQVN các cấp đã làm tốt vai trò chủ trì phối hợp với các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức thành viên khác thực hiện nhiệm vụ GSPBXH... Đồng thời, phát huy vai trò của các hội đồng tư vấn, ban tư vấn, tổ tư vấn, ủy viên ủy ban MTTQVN, các chuyên gia, nhà khoa học trong các lĩnh vực để thực hiện GSPBXH, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền”, “Qua các hoạt động GSPBXH, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của MTTQVN đã giúp các cơ quan có thẩm quyền hoạch định, thực thi có hiệu quả hơn các chính sách, pháp luật, góp phần quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định tình hình nhân dân, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và cả nước”. Một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong phát huy dân chủ một cách thực chất đã được MTTQVN các cấp tích cực phối hợp với chính quyền cùng cấp là tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp. Kết quả của hoạt động này là: “Đối thoại trực tiếp đã góp phần tạo môi trường dân chủ, cởi mở, kết hợp đối thoại với nhiều bên, nhiều cấp cùng tham gia... Thông qua hoạt động tiếp xúc, đối thoại cấp ủy, chính quyền, cá nhân người có trách nhiệm, thẩm quyền đã trực tiếp trả lời, tiếp thu và giải quyết những vấn đề liên quan đến từng tổ chức, đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân”. Cụ thể hơn, MTTQVN đã đi đầu trong thực hiện việc giám sát cá nhân người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cán bộ, đảng viên về thực hiện quy định nêu gương, bước đầu đã đạt được một số kết quả, như thu hút sự quan tâm, vào cuộc của quần chúng nhân dân; qua đó, đã có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa những vi phạm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Qua triển khai bước đầu đã tạo nên sự quan tâm của người dân trong theo dõi, nhận xét, phản ánh những biểu hiện không lành mạnh trong đạo đức, lối sống, thực hiện không đúng với các quy định của Đảng và Nhà nước liên quan đến trách nhiệm của các cá nhân, nhất là người đứng đầu. Bằng nhiều hình thức, MTTQVN đã phản ánh trực tiếp với người đứng đầu hoặc thông qua các cuộc họp, hội nghị, một số vụ, việc gửi phản ánh hoặc đề nghị bằng văn bản… có tác dụng tốt cho việc phòng ngừa vi phạm. Qua thông tin, phản ánh đã giúp cho lãnh đạo, cán bộ, đảng viên tự thấy, tự sửa”. Tuy nhiên, việc thực hiện GSPBXH vẫn còn những hạn chế, cả về nhận thức cũng như thái độ trong thực hiện nhiệm vụ GSPBXH của các bên có liên quan, cũng như các quy định cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ này: “Nhận thức của một số cấp ủy đảng, lãnh đạo chính quyền về chức năng, nhiệm vụ GSPBXH, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của MTTQVN và các tổ chức thành viên còn chưa đầy đủ, chưa sâu sắc và toàn diện, dẫn đến coi nhẹ công tác GSPBXH, góp ý xây dựng Đảng của các tổ chức này, chưa quan tâm bố trí cán bộ bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ, do đó hạn chế tác dụng và hiệu quả hoạt động của MTTQVN các cấp. Trong thực hiện hoạt động giám sát, phản biện, góp ý ở một số địa phương, lãnh đạo MTTQVN chưa thể hiện được bản lĩnh dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Vẫn còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong quá trình GSPBXH và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền… Chính sách và pháp luật về công tác GSPBXH của MTTQVN hiện nay vẫn còn cần phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện rất nhiều thì mới đáp ứng được yêu cầu về cơ sở pháp luật cho hoạt động giám sát của MTTQVN. Tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân sự cũng như các điều kiện khác để bảo đảm cho hoạt động giám sát của MTTQVN còn rất hạn chế”. Khi thực hiện giám sát cá nhân người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cán bộ, đảng viên về thực hiện quy định nêu gương còn gặp phải một số hạn chế và khó khăn, do nhiều nguyên nhân, như “quy định còn có điểm không thực tế, thiếu tính khả thi?... là do căn bệnh nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, dễ người, dễ ta, bệnh hình thức, hành chính, thành tích trong tổ chức đảng và ngoài xã hội vẫn còn nặng?... do thiếu cơ chế để nhân dân tham gia ý kiến?” . Để phát huy vai trò giám sát của nhân dân về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, cần “phải thực hiện công khai, minh bạch về tài sản, thu nhập; thái độ của người lãnh đạo phải thực sự cầu thị, lắng nghe, thực hiện trách nhiệm phản hồi các phản ánh, thông tin; phải có phong cách sâu sát, gần gũi với nhân dân, nói đi đôi với làm. Người đứng đầu phải giữ vững nguyên tắc, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình, xử lý nghiêm các vi phạm, thực hiện dân chủ, kỷ cương; không tham nhũng, không xa hoa, lãng phí”. Tóm lại, để GSPBXH thực sự đạt kết quả như mong muốn, cần phải có nỗ lực của nhiều cấp, nhiều ngành, cùng với đó là tiếp tục cụ thể hóa hơn nữa nội dung các quy định, nâng cao hiệu lực thực thi, bảo đảm tính bắt buộc./.

BƯỚC TIẾN LỚN TRONG THỰC HIỆN GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI, GÓP PHẦN XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

     Sau khi được ban hành năm 2014, Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội được thực hiện theo những nội dung được quy định. Đến ngày 15-6-2017, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ký ban hành Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN, quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo Quy chế 217, việc giám sát, phản biện xã hội do MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện tác động tới các chủ thể có liên quan nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh... Điểm mới của Quy chế 217 so với Quy chế 05 chính là đối tượng của giám sát xã hội đã mở rộng hơn, không chỉ là đội ngũ cán bộ, đảng viên địa phương (cấp phường); đồng thời, nội dung GSPBXH bao gồm việc xây dựng cũng như thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở các cấp... Chính vì thế mà việc MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội giải quyết đơn, thư phản ánh cũng sẽ công phu, phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian hơn. Một điểm đáng chú ý là, MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội có thể tiến hành giám sát dựa trên đơn, thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân nhận được và qua phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng. Định kỳ 6 tháng và hằng năm, Ủy ban Trung ương MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp Trung ương báo cáo kết quả giám sát với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội các địa phương báo cáo kết quả giám sát với cấp ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cùng cấp để các cơ quan, tổ chức được báo cáo cho ý kiến về việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát; đồng thời, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan và cơ quan thông tin đại chúng phổ biến các điển hình tiên tiến, góp phần tạo phong trào thi đua học tập các điển hình tiên tiến. Việc ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW thể hiện bước tiến lớn, làm phong phú hơn hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp, khi phát huy quyền GSPBXH của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân. Điều này đã đánh dấu việc GSPBXH của quần chúng nhân dân được chính thức ghi nhận và kèm theo đó là các điều khoản cụ thể để hiện thực hóa hoạt động này dưới sự chủ trì của MTTQVN. Thực hiện GSPBXH đã góp phần phản ánh tâm tư, thái độ, nguyện vọng của quần chúng nhân dân về những chủ trương, đường lối của Đảng; về kết quả hành động, thái độ ứng xử của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị./.

THỰC HIỆN GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

               

Ngày 16-11-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Thông báo số 161-TB/TW, về “Đề án Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia giám sát cán bộ, đảng viên ở khu dân cư”. Để triển khai thực hiện Thông báo này, ngày 21-4-2006, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) đã ký Nghị quyết liên tịch số 05/2006/NQLT-CP-UBTWMTTQVN, ban hành "Quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư" (Quy chế 05). Đối tượng giám sát là đảng viên, cán bộ, công chức làm việc và cư trú ở cấp xã… Việc giám sát dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các cơ quan nhà nước; tiến hành theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước... MTTQVN cấp xã thực hiện giám sát dưới sự lãnh đạo của ban thường vụ đảng ủy cấp xã. Khi cần thiết, ban thường trực ủy ban MTTQVN cấp xã thành lập tổ giám sát. Nội dung giám sát, thành phần tổ giám sát, kế hoạch giám sát do ban thường trực ủy ban MTTQVN cấp xã quyết định sau khi thống nhất với thường trực hội đồng nhân dân cùng cấp… Quy chế 05 được thực hiện ở một số xã, phường, thị trấn của 5 tỉnh, thành phố là Tiền Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Quảng Bình, Hà Nội. Đại hội X của Đảng chỉ rõ những hạn chế khi quần chúng nhân dân bước đầu thực hiện hoạt động giám sát, cũng như những nguyên nhân của tình trạng đó. Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là “chưa có cơ chế giám sát trong Ðảng và giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Ðảng”; vì thế, một trong những phương hướng được Đại hội X đề ra để khắc phục những hạn chế nói trên là: “Xây dựng các quy chế và biện pháp thực hiện sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Ðảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, ngày 16-1-2012, về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, đề ra giải pháp: “Ban hành quy chế giám sát (trực tiếp và gián tiếp) của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và chính quyền các cấp; trong đó có cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học; cơ chế để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW, “Về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” - Quy chế 217 và Quyết định số 218-QĐ/TW, “Ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Những thành công cùng hạn chế từ việc thực hiện Quy chế 05 ở 5 địa phương nói trên là những kinh nghiệm quý, là căn cứ quan trọng để từ đó Bộ Chính trị khóa XI xây dựng và ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW; qua đó, đưa hoạt động giám sát, phản biện xã hội (GSPBXH) cũng như tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân ngày càng hiệu quả, mở rộng và thực chất./.

 

ĐẢNG TA “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”. VĂN HÓA CHÍNH TRỊ LÀ MỘT BIỂU HIỆN CỤ THỂ CỦA ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CẦN ĐƯỢC THỰC HÀNH NGÀY CÀNG RỘNG RÃI ĐỂ TRỞ THÀNH NHU CẦU NỘI SINH TRONG MỖI TỔ CHỨC ĐẢNG, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN.

  1- Qua thực tiễn 90 năm lãnh đạo, Đảng ta luôn xác định, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng nền gốc tinh thần vững chắc của Đảng. Có thể thấy, qua mỗi lần chỉnh đốn, Đảng ta thêm trong sạch, vững mạnh, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao; hệ giá trị văn hóa, đạo đức cách mạng được củng cố, bồi đắp.

Văn hóa chính trị là một biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng cần được thực hành ngày càng rộng rãi để trở thành nhu cầu nội sinh trong mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (năm 1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh 4 chuẩn mực đạo đức cách mạng: 1- “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. 2- “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”. 3- “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. 4- “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. Các chuẩn mực đạo đức cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, cho đến nay, vẫn giữ nguyên giá trị, là những tiêu chí, chuẩn mực để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa trong bối cảnh hiện nay. “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng” được thể hiện nổi bật nhất là sự trung thành với lý tưởng, với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đang nỗ lực thực hiện. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mặt trận tư tưởng. Giữ vững lý tưởng, không dao động trước các âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ, người cách mạng “là phải giữ chủ nghĩa cho vững”. Trong bối cảnh hiện nay, giữ vững lý tưởng của Đảng cần được nhấn mạnh ở cả khía cạnh đấu tranh với những biểu hiện chệch hướng, sai lầm về tư tưởng và tự đấu tranh với các biểu hiện cơ hội chính trị vốn là những mầm mống dẫn đến nguy cơ phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bản chất của những người cơ hội chính trị là sự thiếu trung thành và sự nhạt phai lý tưởng. “Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng” không chỉ là làm cho hết công việc, mà cao hơn còn là sự cống hiến tâm huyết, tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, tôn trọng kỷ luật Đảng gắn liền với tuân thủ pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực thi công vụ. Ý thức giữ gìn kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước có mối liên hệ trực tiếp và chặt chẽ với giữ gìn văn hóa, đạo đức, lối sống. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng hầu hết đều có biểu hiện thiếu trách nhiệm, vi phạm các chuẩn mực đạo đức…“Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc” là chuẩn mực quan trọng. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ, người cách mạng phải “ít lòng ham muốn về vật chất”; và khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(2). Nhìn lại thời gian qua, sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đều có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân. Khi chủ nghĩa cá nhân thắng thế, lợi ích cá nhân làm lóa mắt, lòng tham nổi lên, nhiều cán bộ, đảng viên đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, đánh mất phẩm giá của bản thân, làm hoen ố và tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức đảng. Chủ nghĩa cá nhân thực sự là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ. Tuy nhiên, “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình” không có nghĩa là đề cao thái quá chủ nghĩa tập thể, bài trừ lợi ích cá nhân chính đáng, mà cần có sự hài hòa, từ đó động viên, khuyến khích các cá nhân cống hiến tài năng, tâm huyết cho tập thể. “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” - học tập lý luận không những để giữ chủ nghĩa cho vững mà còn để vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn công tác của từng cán bộ, đảng viên, phù hợp với từng vị trí công việc cụ thể. Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức đảng và đảng viên. Tuy nhiên, hiện nay, có tình trạng ngụy tự phê bình và phê bình, khi sự độc đoán, chuyên quyền ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý được núp dưới bóng “tự phê bình và phê bình”. Các buổi sinh hoạt, góp ý tự phê bình, phê bình trở thành cơ hội để người đứng đầu đưa ra ý kiến đánh giá đề cao những người thuộc phe cánh mình, hạ thấp những người không hợp ý; trở thành nơi các cán bộ không ưa nhau “đấu tố nhau”, hạ uy tín của nhau. Rõ ràng, khi động cơ không còn trong sáng nữa thì tự phê bình và phê bình trở thành mảnh đất cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. Do đó, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình luôn luôn phải đồng thời giữ được bản chất trong sáng, tính đúng đắn của nguyên tắc này, bảo đảm tự phê bình và phê bình phải thực chất, có cơ chế để ngăn chặn tình trạng lạm dụng, lợi dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình vì mục đích cá nhân. Tự phê bình và phê bình cũng trái ngược với cách ứng xử “dĩ hòa vi quý”, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, né tránh để “giữ phiếu”. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được vai trò, trách nhiệm công vụ của mình và phải có bổn phận làm tròn trách nhiệm đó, xóa bỏ tâm lý “giữ thân” vì lợi ích cá nhân…

2- Sau khi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành, trong đó chỉ rõ 9/27 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống bên cạnh các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thì việc giáo dục đạo đức người cán bộ, đảng viên đã có căn cứ cụ thể hơn, nhiều ngành, nhiều đơn vị, tổ chức đã xây dựng tiêu chí đạo đức riêng cho cán bộ, đảng viên của ngành, đơn vị. Ý thức xây dựng văn hóa chính trị cũng đã và đang tiếp tục lan tỏa, các quy định hành vi văn hóa chuẩn mực trở thành nội dung không thể thiếu trong các quy định của nhiều cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể. Để việc thực hành đạo đức cách mạng thực sự là nền tảng “sâu rễ bền gốc”, để đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức trong cán bộ, đảng viên, thực hành văn hóa chính trị trở thành ý thức hằng ngày trong quá trình thực thi công vụ, cần quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, giáo dục đạo đức cách mạng cần tiến hành thường xuyên, trở thành nền tảng cho xây dựng văn hóa chính trị. Xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa chính trị phải được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và được cụ thể hóa trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Hai là, xây dựng môi trường văn hóa chính trị lành mạnh. Các tổ chức đảng là những hạt nhân chính trị, nơi thể hiện rõ nét, sinh động và trực tiếp nhất hoạt động lãnh đạo của Đảng, nơi mỗi cán bộ, đảng viên sinh hoạt hằng ngày phải là môi trường giàu đạo đức, văn hóa chính trị. Trong môi trường văn hóa chính trị đó, mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý không ngừng học tập và thực hành đạo đức cách mạng, “đi trước”, làm gương cho quần chúng. Xây dựng đạo đức đảng viên trong bối cảnh hiện nay cần được cụ thể hóa thành những việc làm giản dị hằng ngày, như trách nhiệm với công việc, ứng xử với nhau trong cuộc sống, có văn hóa, lối sống lành mạnh... Mỗi cá nhân thường xuyên tự tiết chế chính mình, tự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân vốn luôn thường trực trong mỗi con người; phải thực sự cầu thị, thực hiện tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, khắc phục tình trạng khắt khe với khuyết điểm của người khác, dễ dãi với mình, khi bản thân có khuyết điểm thì đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan mà không soát xét lại, tìm căn nguyên từ chính sự yếu kém, hạn chế của mình mà chỉnh đốn; khắc phục tư tưởng chỉ thiên về đòi quyền lợi, mà lảng tránh nghĩa vụ, trách nhiệm.

Ba là, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả, ứng dụng những phương tiện làm việc hiện đại, đẩy mạnh minh bạch thông tin gắn với trách nhiệm giải trình; xây dựng cơ chế, chế tài mạnh để “không dám tham nhũng”, “không thể tham nhũng”. Nâng cao thu nhập cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tương xứng với hiệu quả công việc và xây dựng văn hóa tự trọng để “không muốn tham nhũng” trong thi hành công vụ.

Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa thực hành đạo đức cách mạng với thực hành văn hóa chính trị. Xây dựng Đảng trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức được xác định có quan hệ tương hỗ, biện chứng, là cơ sở, tiền đề và hệ quả của nhau, nên cần coi trọng và tiến hành đồng thời, trong đó xây dựng Đảng về đạo đức ngày càng phải được đề cao và gắn chặt với xây dựng và thực hành văn hóa chính trị. Có thể thấy văn hóa và đạo đức đã thực sự hòa quyện, là hai yếu tố không thể tách rời, luôn được đề cao trong mọi hoạt động của Đảng, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, trong hành vi, ứng xử của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau Đại hội IX, Đảng đã phát động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh; đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII đã nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, cho thấy Đảng ta hết sức coi trọng và ngày càng đề cao việc phải bổ sung, tăng cường yếu tố văn hóa, đạo đức vào công tác xây dựng Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức chính là xây dựng gốc cho thực hành văn hóa chính trị, xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của Đảng.

Năm là, xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa văn hóa, đạo đức với pháp luật. Văn hóa, đạo đức và pháp luật là những thành tố tồn tại riêng biệt, nhưng luôn có mối liên hệ chặt chẽ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn rõ và giải quyết hài hòa mối quan hệ này, sự kết hợp “đức trị” và “pháp trị” đã trở thành một nét đặc sắc trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh. Trong tình hình hiện nay, cần gắn kết xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng văn hóa chính trị với pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Sáu là, thực hiện tốt các giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ. Đạo đức cách mạng, văn hóa chính trị thể hiện ở tư cách của từng cán bộ, đảng viên và hoạt động của từng tổ chức đảng, do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất tốt, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, gương mẫu trong sinh hoạt và công tác là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Bên cạnh đó, trên cơ sở tiêu chí chung, các cấp, các ngành cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ riêng cho ngành mình. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với tình hình hiện nay, trong đó có các nội dung, yêu cầu về văn hóa, đạo đức, lối sống đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức… Cần sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm, theo hướng định danh và cụ thể hóa từng việc làm, từng hành động phản văn hóa, phi đạo đức của cán bộ, đảng viên và có chế tài xử lý thích đáng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng nghiêm minh. Nghiên cứu hoàn chỉnh bộ tiêu chí xây dựng Đảng về đạo đức, các yêu cầu cụ thể về thực hành văn hóa chính trị làm cơ sở để các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vận dụng. Chú trọng phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, quần chúng nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu ở cả nơi công tác và nơi cư trú… Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức và văn hóa truyền thống trong hệ thống các cấp học, góp phần xây dựng một xã hội giàu văn hóa, coi trọng các giá trị đạo đức, làm nền tảng vững chắc cho thực hành đạo đức, thực hành văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên./.

 

THẤM NHUẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, ĐỂ TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG, CHÚNG TA CẦN THỐNG NHẤT NHẬN THỨC ĐỐI VỚI MỘT SỐ NỘI DUNG CỤ THỂ:

 

Thứ nhất, kiên định và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong mối quan hệ không tách rời với thực tiễn đổi mới và hội nhập của đất nước hiện nay. Kiên định nền tảng lý luận của Đảng là kiên định với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện ở lập trường cách mạng triệt để của giai cấp công nhân; ở quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật; và ở phương pháp biện chứng để giải quyết các vấn đề tự nhiên, xã hội. Cần tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và những kinh nghiệm có giá trị phù hợp; làm rõ tinh hoa văn hóa và những những luận điểm nào của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cần phải bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện mới; từ đó, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, đánh giá đầy đủ, chính xác thực tiễn, tập trung nghiên cứu lý luận, giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận do thực tiễn đặt ra.

Thứ hai, phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu đối với công tác nghiên cứu, phát triển lý luận. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 01-NQ/TW, ngày 28-3-1992, của Bộ Chính trị (khóa VII), về “Công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” và Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9-10-2014, của Bộ Chính trị (khóa XI), về “Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”, phát huy hơn nữa vai trò nền tảng của lý luận đối với công tác lãnh đạo của Đảng và vai trò của lý luận đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu lý luận và hoạch định đường lối, chính sách. Chỉ có nghiên cứu và phát triển lý luận mới tạo ra tiềm lực lâu dài, sức mạnh nội sinh của Đảng; xây dựng Đảng về lý luận là nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp nghiên cứu, phát triển lý luận trên sơ sở phát huy tối đa dân chủ trong hoạt động lý luận. Nghiên cứu phát triển lý luận phải bảo đảm thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa hiểu biết và thực hành, đó cũng là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong quá trình nghiên cứu, phát triển lý luận và thực hành phải bảo đảm tính khoa học, cách mạng và nhân văn với yêu cầu về tính khách quan, toàn diện, phát triển và lịch sử - cụ thể. Đồng thời, quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để đào tạo, bồi dưỡng những con người có đủ phẩm chất, năng lực, đạo đức và lý tưởng, phát huy dân chủ và trí tuệ tập thể để kế tục sự nghiệp nghiên cứu và phát triển lý luận cách mạng.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế, kiện toàn hệ thống các cơ quan nghiên cứu lý luận và mở rộng hợp tác quốc tế trong hoạt động nghiên cứu lý luận. Đổi mới việc tổ chức, triển khai nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ cũng như đánh giá, nghiệm thu sản phẩm nghiên cứu, bảo đảm tính khoa học, khách quan, trung thực. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan lý luận với cơ quan tư vấn, hoạch định chính sách, cơ quan tham mưu, cơ quan chỉ đạo thực tiễn. Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về lý luận theo hướng đa dạng hóa các hình thức hợp tác và các tổ chức hợp tác, nâng cao hiệu quả hợp tác, từ đó tìm ra và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn đất nước đặt ra.

Thứ năm, tăng cường các biện pháp đấu tranh trên lĩnh vực lý luận chống lại các luận điệu xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần chủ động, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nhận thức và cảnh giác trước những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, tăng cường sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, cũng cần phải nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá lại chính mình trước những biến đổi nhanh chóng của thực tiễn để bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới và bối cảnh mới của Việt Nam hiện nay./.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và định hướng để Đảng xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức lực lượng và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc cho thấy, công tác lý luận luôn đóng vai trò định hướng sự phát triển của cách mạng nước ta trong cả hiện tại lẫn tương lai. Chỉ bằng cách không ngừng nghiên cứu, phát triển lý luận mới có thể làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tiếp tục phát triển nhanh chóng, quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ. Ở trong nước, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn tiềm ẩn; tệ quan liêu, nạn tham nhũng và nguy cơ tụt hậu về kinh tế vẫn hiện hữu; các thế lực thù địch không ngừng chống phá với âm mưu “diễn biến hòa bình”... Hàng loạt vấn đề đặt ra đòi hỏi Đảng ta phải nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng cho được một nền tảng lý luận phù hợp, với ba yêu cầu cơ bản, đó là: Đáp ứng nhu cầu phát triển của quảng đại quần chúng nhân dân; tạo động lực phát triển xã hội; gắn kết với thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra. Thực tế cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng và không ngừng vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương, đường lối, tổ chức lực lượng cách mạng, chỉ đạo các hoạt động thực tiễn, thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Tại Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới, bắt đầu bằng đổi mới tư duy với quan điểm: Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trải qua gần 35 năm đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng; bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức của toàn Đảng để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng. Đảng đã vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc nghiên cứu, phát triển lý luận, thấm nhuần quan điểm thực tiễn, lịch sử - cụ thể để làm rõ hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Với quyết tâm khắc phục cách nghĩ, cách làm giản đơn, giáo điều, duy ý chí, xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, tôn trọng quy luật khách quan, Đảng cũng xác định rõ mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta với 8 đặc trưng cơ bản, trong đó nhấn mạnh nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp, nhằm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội và kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành trong thời kỳ đổi mới và được Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, phát triển, cạnh tranh bình đẳng, hợp tác cùng phát triển, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đó là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nhận thức lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phát triển đầy sáng tạo, một thành tựu lý luận có ý nghĩa to lớn làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế nước ta. Đảng cũng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng, củng cố liên minh giai cấp và đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001) chỉ rõ: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo. Trên tinh thần đó, các Đại hội sau này của Đảng đều tiếp tục khẳng định vai trò, tính tất yếu của liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức đối với việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, có bổ sung những quan điểm, định hướng và giải pháp mới phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế. Lý luận về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn. Qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Cương lĩnh chính trị của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Dân chủ phải được thực thi một cách toàn diện, đầy đủ trong thực tế cuộc sống; gắn với kỷ luật, kỷ cương xã hội và phải được thể chế hóa và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các quyền con người, cuộc sống hạnh phúc và sự phát triển tự do của mỗi người dân. Nhân dân là chủ và thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hoạt động của Nhà nước, hệ thống chính trị. Nhận thức về Đảng và công tác xây dựng Đảng ngày càng đầy đủ, khách quan và khoa học, thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ xây dựng Đảng trở thành khâu then chốt, là vấn đề sống còn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta và cũng là yêu cầu tất yếu phù hợp với thực tiễn cách mạng trong giai đoạn mới.

Về văn hóa, xã hội và con người, nhận thức lý luận của Đảng về văn hóa trong đời sống xã hội và trong xây dựng, phát triển đất nước có bước phát triển mới. Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển; con người trở thành trung tâm của chiến lược phát triển, là chủ thể và là mục tiêu quyết định sự phát triển, đồng thời cũng là động lực quan trọng nhất của phát triển. Đảng đã phát triển lý luận quản lý phát triển xã hội, chủ trương thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội toàn diện trên tất cả các lĩnh vực xã hội; Nhà nước giữ vai trò trung tâm, đồng thời động viên mọi nguồn lực xã hội cùng tham gia việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm cho mọi người dân được thụ hưởng xứng đáng, công bằng những thành tựu của đổi mới, phát triển. Đảng đã có những đổi mới, sáng tạo trong nhận thức lý luận về tính chất, đặc điểm của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, quan điểm về đối tác, đối tượng là một nhận thức mới, phù hợp với tình hình thế giới với những mối quan hệ chính trị, lợi ích phức tạp; trong đó, nhấn mạnh, những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi là đối tác. Đảng chủ trương tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh. Về lĩnh vực đối ngoại, Đảng nêu cao đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển. Trong bối cảnh thế giới biến động khôn lường, các mối quan hệ lợi ích đan xen, chồng chéo lẫn nhau, Đảng giữ vững quan điểm đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm nâng cao vị thế của đất nước; đồng thời, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội./.

NHỮNG CHỈ DẪN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN Ở VIỆT NAM

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Vì vậy, “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”. Nghiên cứu lý luận là quá trình đi sâu tìm tòi, nắm bắt cái tất yếu, bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng cùng mọi quan hệ phức tạp ẩn giấu đằng sau các sự vật, hiện tượng đó. Lý luận mà Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời nghiên cứu, phát triển là lý luận về cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, nghèo nàn và lạc hậu, đưa giai cấp công nhân, nhân dân và toàn dân tộc đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu và phát triển sáng tạo lý luận được thể hiện rõ nét trên ba phương diện: 1- Đặc biệt đề cao, coi trọng vai trò của lý luận đối với cách mạng, với Đảng, với mỗi con người, nhất là cán bộ, đảng viên; 2- Quan tâm, thường xuyên đề ra nội dung, phương pháp nghiên cứu lý luận và yêu cầu phải không ngừng kiên định và phát triển sáng tạo lý luận để đáp ứng thực tiễn cách mạng; 3- Bản thân là một nhà lý luận thực hành lỗi lạc, Người dày công nghiên cứu, vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách triệt để, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn nước ta. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi vĩ đại, trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng cách mạng trên toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, bản chất của nghiên cứu lý luận là quá trình tìm tòi, phân tích kỹ lưỡng, thấu đáo những học thuyết tư tưởng của dân tộc và nhân loại; khẳng định giá trị, tính đúng đắn của chúng trong thực tiễn để rút ra những tri thức, hiểu biết mới và vận dụng sáng tạo những tri thức đó vào giải quyết những vấn đề của hiện tại và tương lai. Người nhiều lần căn dặn: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm nhuần triệt để quan điểm của V.I. Lê-nin: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Bằng phương pháp tiếp cận khoa học, sáng tạo, bám sát thực tiễn của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt, luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; mặt khác, vận dụng sáng tạo các nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người đã bổ sung nhiều luận điểm góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lê-nin; đồng thời, xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc phù hợp về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nghèo nàn, lạc hậu. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đã chứng tỏ giá trị thực tiễn của việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở Chủ tịch Hồ Chí Minh và là bài học quý báu cho Đảng trong thời hiện đại. Trước hết, về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển thêm một bước nhận thức lý luận khi cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc. Trước đó, C. Mác cho rằng, cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển. Còn V.I. Lê-nin nhận định, cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí là một nước riêng lẻ của chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp tại Việt Nam. Xuất phát từ mâu thuẫn chi phối toàn bộ cục diện cách mạng nước ta lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân xâm lược Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định con đường cách mạng vô sản tại Việt Nam phải là cách mạng giải phóng dân tộc rồi mới đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính cương vắn tắt của Đảng năm 1930, do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, đã nêu: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Nhận thức lý luận đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam, cũng chính là nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển một cách sáng tạo lý luận Mác - Lê-nin về đảng cộng sản vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở nước ta, một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, tuyệt đại đa số là nông dân làm nông nghiệp, vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định, Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Người đã dày công xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; quan tâm giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Ðảng và mỗi cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận Mác - Lê-nin về tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng. Người khẳng định, động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta là đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng về liên minh công - nông của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để quy tụ, tập hợp sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của các lực lượng yêu nước với thế trận chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dựa trên nguyên tắc pháp quyền ở Việt Nam. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo về nhà nước kiểu mới: Tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, một nhà nước của nhân dân, chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do nhân dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do nhân dân tổ chức nên, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Thứ sáu, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy quan điểm Mác - Lê-nin làm nền tảng để phát triển tư duy, lý luận về văn hóa, đạo đức và quan hệ quốc tế trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Người chủ trương xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa có tính dân tộc với ba mặt thống nhất: Củng cố, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống; khắc phục những thiếu hụt của văn hóa truyền thống và sáng tạo những giá trị của nền văn hóa tương lai. Về đạo đức, Người đề cao con người với phẩm chất tốt đẹp: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân đều ra sức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Người cũng đặc biệt coi trọng vấn đề đoàn kết quốc tế để tranh thủ nguồn lực bên ngoài; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để hoàn thành sự nghiệp cách mạng nước nhà, đóng góp cho phong trào cách mạng thế giới. Người khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”. Đây là thông điệp về hòa bình, hợp tác, hữu nghị, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản giữa các dân tộc, thể hiện tư duy lý luận cách mạng và nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những luận điểm sáng tạo về mặt tư duy lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy sự nỗ lực tìm tòi, khám phá không ngừng, bằng trí tuệ mẫn tiệp, kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm thực tiễn với nghiên cứu, lý luận. Thực tiễn biến đổi không ngừng, chân lý của ngày hôm qua không thể áp dụng cho hôm nay, vì vậy, lý luận phải không ngừng vận động và phát triển để phù hợp với thực tiễn: “Lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”./.

THỰC HIỆN ĐOÀN KẾT VÀ DÂN CHỦ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐOÀN KẾT THỰC SỰ MỚI CÓ DÂN CHỦ THỰC SỰ

 

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đoàn kết” và “dân chủ” có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau. Người có tinh thần đoàn kết thực sự luôn biết tôn trọng lợi ích của các thành viên khác trong tập thể; biết lắng nghe, hợp tác, giúp đỡ các thành viên khác; có tinh thần cầu thị, tiếp thu ý kiến góp ý, phê bình từ các thành viên khác; biết vận động những thành viên khác lấy lợi ích của tập thể làm trung tâm; nhận thức rõ lợi ích cá nhân mình chỉ có được khi trở thành một phần hữu cơ trong lợi ích của tập thể. Như vậy, có thể thấy rõ, nếu mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo, có tinh thần đoàn kết thực sự thì mới tập hợp được quần chúng thành một tập thể gắn bó với nhau, trong đó quyền lợi của mỗi cá nhân đều được bảo đảm. Thực tiễn đã chứng minh, ở bất cứ quốc gia - dân tộc nào, nếu đảng cầm quyền biết tôn trọng và phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, hay nói cách khác dân chủ được thực thi, thì ở đó, có sự đồng thuận xã hội cao. Đây chính là biểu hiện đầy đủ nhất của sự đoàn kết. Đại đoàn kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi tới thắng lợi. Để làm được điều đó, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam phải được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi công việc của đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những người có trách nhiệm trong đảng, tất cả các ban lãnh đạo của đảng, tất cả các cơ quan của đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn”. Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở là nền tảng vững chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có đoàn kết và dân chủ thực sự, trong Đảng phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình: “Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình... Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ... Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng tiến bộ. Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình”. Mỗi cán bộ, đảng viên khi thực hiện tự phê bình cũng như được góp ý phê bình phải dũng cảm nhận khuyết điểm và đề ra biện pháp sửa chữa khuyết điểm. Để thực tâm đoàn kết và thực hành dân chủ, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực tâm tự phê bình, “phải thật thà... có khuyết điểm gì nói hết, không giấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm? Sai lầm ấy sẽ thế nào? Dùng cách gì mà sửa chữa? Và phải kiên quyết sửa chữa. Tự phê bình và sửa khuyết điểm có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác”. Một mặt, thực tâm tự phê bình là tự mình nêu lên những hạn chế, khuyết điểm của bản thân để đồng chí, đồng nghiệp giúp đỡ mình khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, đồng thời giúp cho người khác biết để tránh. Mặt khác, người có can đảm, thực tâm tự phê bình thì mới thực tâm, chân thành khi phê bình đồng chí, đồng nghiệp: “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang... Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng””. Chỉ có tinh thần đoàn kết thực sự thì mới có sự chân thành, xây dựng trong phê bình đồng chí mình và có thái độ thực sự cầu thị khi tiếp thu phê bình từ đồng chí, đồng nghiệp. Chỉ có môi trường dân chủ thực sự thì cán bộ, đảng viên mới thấy tự tin, yên tâm để góp ý, phê bình khuyết điểm của đồng chí, của cấp trên, đồng thời mới có sự tỉnh táo, bình tĩnh để nhận thức đúng đắn và chân thành đón nhận sự phê bình, góp ý để tiến bộ. Thực tế cho thấy, để tự phê bình và phê bình thực sự có hiệu quả, việc nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức có ý nghĩa quyết định. Người đứng đầu cần dũng cảm, quyết liệt tự soi xét, phê bình bản thân mình, từ công việc, đời sống cho đến trong các quan hệ gia đình, xã hội, không né tránh, không giấu giếm; cần khiêm tốn, cầu thị khi tự đánh giá bản thân; có thái độ nghiêm khắc với những thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế của bản thân mình. Chỉ khi người đứng đầu gương mẫu tự phê bình thì mới tạo ra được động lực để cả cơ quan, tổ chức tự phê bình một cách thực chất. Đồng thời, người đứng đầu cũng cần nêu gương trong khi thực hiện phê bình đồng chí, cấp dưới của mình; phải xuất phát từ thực tâm mong muốn đồng chí mình tiến bộ, hoàn thiện hơn; đặc biệt, cần có phương pháp, cách thức phê bình sao cho người được phê bình thấy rõ được sai sót, khuyết điểm và quan trọng hơn là thấy mình trưởng thành hơn về nhận thức, qua đó có động lực khắc phục, sửa chữa sai sót để tiến bộ. Muốn nêu gương về phê bình, người đứng đầu cần phải thực tâm lắng nghe ý kiến nhận xét của quần chúng, đồng nghiệp và cấp dưới; từ đó, không chỉ thấy được khuyết điểm của mình để tìm ra biện pháp khắc phục, mà còn rút ra được những phương pháp, cách thức phê bình phù hợp, hiệu quả; vận dụng phương pháp phê bình hiệu quả để thực hành cho bản thân và phổ biến trong cơ quan, tổ chức cho đồng chí, đồng nghiệp cùng tham khảo. Tập thể lãnh đạo, người đứng đầu nêu gương tự phê bình và phê bình chính là hạt nhân, là động lực để xây dựng và phát huy được tinh thần đoàn kết, không khí dân chủ thực sự trong tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị./.

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ

 

Đứng trên phương diện chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm đơn giản, dễ hiểu, đúng bản chất về dân chủ. Trong bài Dân vận đăng trên báo Sự thật, ngày 15-10-1949, Bác viết: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Định nghĩa đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của xã hội dân chủ và nêu rõ mô hình nhà nước dân chủ ở nước ta là “nhân dân bầu ra các hội đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính địa phương và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương”. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng, nhân dân là chủ thể gốc của quyền lực nhà nước, nhân dân ủy quyền cho Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, phụng sự lợi ích, nhu cầu và cả ý chí của nhân dân; Nhà nước nhận sự ủy quyền của nhân dân để bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của mọi công dân; đồng thời, Người khẳng định, “nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân, tức là: Tuân theo pháp luật Nhà nước. Tuân theo kỷ luật lao động”. Theo Bác, dân chủ không có nghĩa là vô chính phủ, ai muốn làm gì thì làm; Nhà nước nhận ủy quyền của nhân dân, xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, tổ chức thực thi và bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật, người dân phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước. Dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trong chính trị mà bao chứa trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là quan hệ giữa con người với con người, là các giá trị đạo lý làm người. Trong phát triển kinh tế - xã hội, mà Người gọi là “công cuộc đổi mới và xây dựng” hay sự nghiệp “kiến quốc”, cũng do dân, vì dân với mục tiêu trước tiên là làm cho nhân dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong phân phối, nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi được Người chỉ rõ: “Ai không làm thì không được ăn” và “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít”, trừ người già cả, trẻ em và người ốm đau. Thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cá nhân phải nhận thức mình là thành viên trong tập thể, phải đặt mình trong tập thể và lắng nghe ý kiến của các thành viên khác, có trách nhiệm phát biểu, trình bày ý kiến của mình vì lợi ích chung; đồng thời, phải phục tùng quyết định của tập thể trong khi vẫn có quyền đề nghị được bảo lưu ý kiến khác biệt của bản thân mình hoặc các thành viên khác. Mỗi thành viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu cần nhận thức rõ trách nhiệm cá nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Mọi hành vi dùng quyền lực để đe dọa, ép buộc, tạo nên sự phục tùng trong sợ hãi, hoặc dùng lợi ích vật chất, chức vụ để mua chuộc, mặc cả, tạo nên sự đồng thuận đều là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu, thậm chí là phản dân chủ, cần phải lên án và đấu tranh loại bỏ. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, trong suốt quá trình hình thành, phát triển và được nhân dân giao phó sứ mệnh là đảng cầm quyền, Đảng ta luôn xác định rõ việc phục vụ nhân dân, chấp nhận gian khổ, hy sinh đấu tranh vì lợi ích của nhân dân là tôn chỉ, mục đích, là lẽ sống của Đảng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân... Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

KẺ NÀO NÓI "LỊCH SỬ LÀ MÔN KHÔNG THIẾT YẾU CỦA DÂNTOOCJ VIỆT NAM": KẺ ĐÓ LÀ KẺ THÙ, HẮN ĐANG ĐAM NHÁT DAO CÀO TRÁI TIM DÂN TỘC ANH HÙNG!

         Cố GS Trần Văn Khê: “Ngài chơi với ai mà không biết một áng văn nào của nước Việt?”

Có một câu chuyện thể hiện niềm kiêu hãnh của người Việt đã được Giáo sư Trần Văn Khê kể lại nhiều lần cho các học trò của mình, và cũng được ông ghi lại trong cuốn hồi ký, kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964…

Tham dự buổi sinh hoạt này hầu hết là người Nhật và Pháp, duy chỉ có Giáo sư là người Việt. Diễn giả hôm ấy là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp. Ông khởi đầu buổi nói chuyện như thế này:

“Thưa quý vị, tôi là Thủy sư đề đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp. Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được.”

Lời phát biểu đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Chính vì thế, khi buổi nói chuyện bước vào phần giao lưu, Giáo sư đã đứng dậy xin phép phát biểu:
“Tôi không phải là người nghiên cứu văn học, tôi là Giáo sư nghiên cứu âm nhạc, là thành viên hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO. Trong lời mở đầu phần nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc nói rằng đã ở Việt Nam hai mươi năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Thưa ngài, chẳng biết khi ngài qua nước Việt, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của Việt Nam?

Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách… Phải chi ngài chơi với Giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập… Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác.

Tôi không biết ngài đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách, sẵn sàng nói cái hay trong văn hóa của mình cho người khác nghe. Nhưng người Việt chúng tôi cũng ‘chọn mặt gửi vàng’, với những người phách lối có khi chúng tôi không tiếp chuyện. Việc ngài không biết về áng văn nào của Việt Nam cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, ngài đối xử với người Việt ra sao. Tôi rất tiếc vì điều đó. Vậy mà ông còn dùng đại ngôn trong lời mở đầu”.

Rồi để so sánh với Tanka, Giáo sư đưa ra những câu thơ như: “Núi cao chi lắm núi ơi; Núi che mặt trời, không thấy người yêu” hay “Đêm qua mận mới hỏi đào; Vườn hồng đã có ai vào hay chưa” để đối chiếu: tức là cũng dùng núi non, hoa lá để nói thay tâm sự của mình.

Còn về số lượng âm tiết, Giáo sư kể lại câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên, gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:
“Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”
Dịch nghĩa là:
“Một đám mây giữa trời xanh
Một bông tuyết trong lò lửa
Một bông hoa giữa vườn thượng uyển
Một vầng trăng trên mặt nước ao
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!”

Tất cả chỉ 29 âm chứ không phải 31 âm để nói việc người vừa mất đẹp và cao quý như thế nào.

Khi Giáo sư Trần Văn Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Ông thủy sư đề đốc đỏ mặt:
“Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin lỗi cả dân tộc Việt Nam.”

Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói:
 “Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi”. 

Giáo sư đáp lời: 
“Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget (Tạm dịch: Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên)”.

Câu chuyện nhiều cảm hứng này cho chúng ta thấy một điều rằng, chỉ những người am hiểu văn hóa truyền thống mới có thể cứu vãn danh dự cho đất nước, chỉ những người không lãng quên những giá trị cổ xưa mới có thể gìn giữ tôn nghiêm của dân tộc./.
Yêu nước ST.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT

 

Đoàn kết, thống nhất mục tiêu, ý chí và hành động có vai trò, ý nghĩa quyết định đến sự thành công của mọi tổ chức, cộng đồng và quốc gia - dân tộc. Chân lý này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết như sau:“Muốn thắng lợi thì mỗi người phải dựa vào lực lượng của số đông người, tức là của tập thể, của xã hội. Riêng lẻ từng cá nhân thì nhất định không thắng nổi tự nhiên, không sống còn được. Để sống còn, loài người lại phải sản xuất mới có ăn, có mặc. Sản xuất cũng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội. Chỉ riêng lẻ cá nhân cũng không sản xuất được. Thời đại chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đoàn kết là một nhu cầu khách quan, xuất phát từ mỗi cá nhân trong cộng đồng, vì lợi ích tương đồng mà có xu hướng tập hợp lại, tạo thành một khối, phát huy và cộng hưởng thế mạnh của từng cá nhân, tạo nên sức mạnh cộng đồng để cùng đạt mục tiêu chung. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đoàn kết là một trong những nguyên tắc sống còn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và thực hành trên ba nội dung cơ bản sau:

Một là, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là quan điểm chiến lược, cơ bản, nhất quán, có ý nghĩa sống còn, quyết định thành công của cách mạng Việt Nam. Từ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút rằng, cách mạng là công việc khó khăn, phức tạp, nếu chỉ dựa vào ít người, vào lực lượng của một tổ chức hay một đảng phái thì không thể thành công. Vì vậy, bên cạnh ý chí quyết tâm, đường lối cách mạng đúng đắn, phải có sự đồng tâm hiệp lực của nhiều người, phải dựa vào nhân dân, phải đoàn kết được đông đảo nhân dân và phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết toàn dân là nền tảng căn bản, là quan điểm xuyên suốt của Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam. “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị”. Để xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nhân nguồn sức mạnh đó lên, Người luôn coi trọng việc giác ngộ, tập hợp nhân dân vào hàng ngũ cách mạng, biến ý chí, tư tưởng cách mạng của Đảng thành ý chí, tư tưởng, động lực để phát huy sức mạnh của nhân dân. Đặc biệt, Người chỉ rõ bước đi, cơ sở nền tảng trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây”. Đây là bài học kinh nghiệm quý báu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mọi giai đoạn của cách mạng nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.

 

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công nhân, nông dân với đội ngũ trí thức; đồng thời, cần mở rộng đoàn kết, phát triển đội ngũ doanh nhân, khuyến khích doanh nhân khởi nghiệp, sáng tạo, làm giàu chân chính, gắn với thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, Đảng quan tâm giáo dục, bồi dưỡng, phát triển thế hệ trẻ; bảo vệ bình đẳng giới và phát triển toàn diện phụ nữ; chăm sóc, phát huy kinh nghiệm, trí tuệ và sự gương mẫu của người cao tuổi cũng như bảo đảm sự bình đẳng, đoàn kết thực sự giữa các dân tộc, tôn giáo, giữa người dân trong nước với đồng bào ở nước ngoài. Đó chính là điều kiện khách quan về chính trị, làm nền tảng cho sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước.

Thứ hai, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đây là một trong những nhiệm vụ cốt yếu, thường xuyên của công tác xây dựng Đảng, là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một trong năm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo đảm sự thống nhất ý chí, hành động của toàn Đảng, là cơ sở tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng. Đảng ta lấy lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân làm mục tiêu cao nhất; đồng thời, Đảng cũng là hạt nhân tập hợp, định hướng và lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiến hành sự nghiệp cách mạng. Muốn tập hợp, xây dựng và lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì trước hết phải xây dựng và giữ vững đoàn kết trong Đảng. Tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng vừa quyết định sự tồn vong của Đảng, vừa là trung tâm, động lực của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quan điểm này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng, thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên. Người nói: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”. Theo Người, việc xây dựng, duy trì, bảo vệ cho được sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, từ chi bộ cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trước lúc đi xa, Bác căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Quan điểm này đã được toàn Đảng, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo cao nhất, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng qua các thời kỳ luôn quán triệt và thấm nhuần. Lịch sử lãnh đạo cách mạng của Đảng cho thấy, đoàn kết trong Đảng là động lực huy động sức mạnh của cả dân tộc đưa đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt là trong những thời kỳ gay go, khó khăn, thách thức nhất.

Thứ ba, đoàn kết quốc tế. Là một chiến sĩ cộng sản chân chính, thấm nhuần khẩu hiệu “vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” và từ thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, đi qua nhiều quốc gia, tiếp xúc, tìm hiểu, nắm bắt, tiếp thu được giá trị, tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ hơn ai hết vai trò quan trọng của đoàn kết quốc tế đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Người, đoàn kết quốc tế trước hết là đoàn kết với những con người cụ thể, những cộng đồng, những người có cùng thân phận, cùng hoàn cảnh; từ đó hình thành nên “tình hữu ái”, sự đoàn kết giữa người Việt Nam, dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới. Người cho rằng, đoàn kết quốc tế là nguồn lực quan trọng, tăng cường sức mạnh cho sự nghiệp cách mạng trong nước, giúp kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp của cách mạng vì độc lập dân tộc, nền hòa bình, ổn định, phát triển và sự bình đẳng giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và ở sự ủng hộ của nhân dân thế giới... Sự đoàn kết quốc tế có một ý nghĩa to lớn đối với chúng tôi”. Giống như quan điểm về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Người chỉ rõ lực lượng đoàn kết quốc tế rất phong phú, đó là tất cả các quốc gia, tổ chức, cá nhân tôn trọng lợi ích chính đáng của nhân dân và đất nước Việt Nam, nhưng nòng cốt là đoàn kết với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Người cũng xác định vai trò quan trọng của các quốc gia láng giềng và của các nước lớn đối với Việt Nam. Quan điểm của chủ tịch hồ chí minh về đoàn kết quốc tế dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau: 1- Bình đẳng về lợi ích và trách nhiệm; 2- Thực sự tôn trọng lẫn nhau; 3- Tự lực cánh sinh; 4- Có lý, có tình. Những nguyên tắc này đã được Người nêu: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”. Đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; đó là “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế... Chú trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh. Mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”./.

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN QUAN ĐIỂM CỦA C. MÁC VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

 

Ngày nay, chúng ta đang sống trong điều kiện có nhiều cái mới, rất khác so với thời kỳ của C. Mác. Khoa học - công nghệ có những bước tiến nhảy vọt, góp phần tạo ra một lực lượng sản xuất mà xưa nay nhân loại chưa từng được chứng kiến. Tri thức xã hội phổ biến đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đúng như C. Mác từng dự báo; năng suất lao động, nhờ vậy, tăng lên nhanh chóng. Nền kinh tế tri thức đã ra đời và đang được vận hành khá hiệu quả ở nhiều nước phát triển. Quá trình quốc tế hóa mà vào thế kỷ XIX C. Mác và Ph. Ăng-ghen từng nói đến trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, đã thực sự trở thành quá trình toàn cầu hóa trong thời đại ngày nay. Ở các mức độ khác nhau, tất cả các nước đều đang bị cuốn hút vào toàn cầu hóa. Hơn nữa, những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra bước phát triển nhảy vọt của đời sống xã hội nói chung và lực lượng sản xuất nói riêng. Có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là “cuộc cách mạng số hóa, thông qua các công nghệ như in-tơ-nét vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại - ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)... để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số với tốc độ rất nhanh, quy mô rất lớn, tích hợp nhiều lĩnh vực, tương tác đa chiều”. Những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại đã tác động trực tiếp đến sự phát triển của lực lượng sản xuất ở tất cả những yếu tố cấu thành của nó: trình độ của tư liệu sản xuất và trình độ của người lao động. Trong bối cảnh đó, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội nói chung và quan điểm về lực lượng sản xuất nói riêng của C. Mác mặc dù có nhiều giá trị bền vững cho đến ngày nay nhưng không phải không có những điểm cần được bổ sung, phát triển. Chính V.I. Lê-nin - người đã không ngừng bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, từng nhiều lần nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Từ sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại trong giai đoạn hiện nay, có thể đề xuất bổ sung, phát triển quan điểm của C.  Mác về lực lượng sản xuất trên một số điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, C. Mác sống ở thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản nên ông cũng bàn nhiều đến xã hội tư bản. Khi bàn đến sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thời kỳ tư bản chủ nghĩa, ông cho rằng, lực lượng lao động chủ yếu của xã hội tư bản là người công nhân, là giai cấp vô sản. Đó là “một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán lao động của mình”, là “giai cấp những người hoàn toàn không có của”, là “họ buộc phải bán lao động của mình cho nhà tư bản để đổi lấy tư liệu sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống của mình”; hầu như ông ít nói đến tầng lớp các bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học. Ngày nay, giai cấp công nhân không chỉ có những người lao động chân tay thuần túy, mà còn bao gồm cả tầng lớp những người trí thức. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, bản thân người lao động là công nhân cũng có sự thay đổi đáng kể. Ở thời đại của C. Mác, lực lượng lao động chủ yếu là công nhân cơ khí, đa số là lao động thủ công, nhưng ngày nay, những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm cho công cụ lao động ngày càng được cải tiến; sức lao động của con người được giải phóng; trình độ kiến thức, tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của người lao động không ngừng được nâng cao. Do đó, trong rất nhiều nhà máy, xí nghiệp, số lượng nhân lực khoa học  - công nghệ tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất chiếm tỷ lệ ngày càng cao, vượt trội hơn hẳn so với số lượng lao động làm việc cơ bắp thông thường. Đội ngũ công nhân trí thức xuất hiện và có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng, điều này đã và đang làm thay đổi dần tỷ trọng của lao động phổ thông và lao động có trình độ cao. Do đó, việc bổ sung nội hàm của khái niệm “người lao động” là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, vì “Điều này hết sức quan trọng đối với chúng ta khi đất nước đang từng bước tiến tới nền kinh tế tri thức, khi nhiệm vụ trí thức hóa công nhân trở thành đòi hỏi bắt buộc, nếu chúng ta muốn đưa đất nước tiến kịp thế giới, tránh tụt hậu xa hơn trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới”.

Thứ hai, trước đây, khi nói đến lực lượng sản xuất, C. Mác nhấn mạnh nhiều đến khả năng của con người trong việc chinh phục giới tự nhiên. Vì lẽ đó, để thể hiện khả năng của mình, con người đã dùng những phương tiện, kỹ thuật hiện đại để chinh phục ngày càng nhiều giới tự nhiên. Thực tế cho thấy, trong quá trình sản xuất vật chất, con người không chỉ chinh phục giới tự nhiên mà còn phải thích nghi với giới tự nhiên, nên khi đề cập đến phạm trù “lực lượng sản xuất” mà chỉ nhấn mạnh đến hoạt động chinh phục giới tự nhiên, xem nhẹ hoạt động thích nghi với giới tự nhiên là chưa đầy đủ. Theo tác giả Lý Bân, “Quan niệm như vậy không chỉ hạn chế nội hàm của khái niệm lực lượng sản xuất mà còn khó dung nạp với sự phát triển bền vững, phát triển liên tục”. Hệ quả của quan điểm này là “con người tìm mọi cách chinh phục, khai thác sao cho được nhiều nhất của cải từ thiên nhiên, bất chấp mọi hậu quả”

Trong bối cảnh hiện nay, với mục tiêu phát triển bền vững, quan niệm về lực lượng sản xuất cần được bổ sung khía cạnh “con người sống hài hòa với tự nhiên”. Trong lịch sử loài người đã và đang trải qua ba giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất. Giai đoạn 1: Lực lượng sản xuất phát triển một cách tự phát. Đây là giai đoạn mà kinh nghiệm sản xuất trực tiếp của người lao động sản sinh ra kỹ thuật. Nó xảy ra trước cách mạng công nghiệp. Giai đoạn 2: Lực lượng sản xuất phát triển bằng mọi giá. Đây là giai đoạn sau cách mạng công nghiệp. Ở giai đoạn này, con người đã tận dụng những thành quả của khoa học, kỹ thuật để khai thác ngày càng nhiều tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Giai đoạn 3: Lực lượng sản xuất phát triển một cách có chọn lọc. Do mối quan hệ giữa con người và tự nhiên ngày càng trở nên xung khắc, biểu hiện qua những thiên tai, lũ lụt, biến đổi khí hậu..., nên con người từng bước điều chỉnh hoạt động sản xuất vật chất của mình, chuyển hướng sang phát triển lực lượng sản xuất một cách có chọn lọc, tránh làm tổn hại đến tự nhiên. Vì vậy, thay vì phát triển lực lượng sản xuất như trước kia, ngày nay cần phải phát triển lực lượng sản xuất một cách chọn lọc, bởi “lực lượng sản xuất là khái niệm thể hiện không chỉ hoạt động đấu tranh mà còn thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa con người và giới tự nhiên”.

Thứ ba, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là mạng in-tơ-nét, khoa học nói riêng và tri thức nói chung được phổ biến nhanh chóng, hầu như tức thời, với nhiều sự kiện khoa học trên toàn thế giới. Dòng tri thức, dòng công nghệ cùng dòng vốn được lưu thông với tốc độ chưa từng có trên toàn thế giới. Người ta có thể sản xuất từng bộ phận cấu thành của một sản phẩm ở nhiều nơi trên thế giới, sau đó lắp ráp và lưu thông ở các nước khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Vì vậy, đầu ra của lực lượng sản xuất hiện đại không còn là sản phẩm riêng của lao động ở một quốc gia nữa, mà là sản phẩm mang tính toàn cầu. Do đó, lực lượng sản xuất hiện đại trở thành một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa. Đây là đặc điểm mới, chỉ riêng có ở lực lượng sản xuất hiện đại mà lực lượng sản xuất ở các giai đoạn trước kia chưa có hoặc mới ở trong một phạm vi hẹp. Ở thời của C. Mác, ông đã đề cập đến xu hướng phát triển tất yếu của nền sản xuất là “thiết lập mối quan hệ ở khắp mọi nơi trên thế giới”, nhưng chưa thực sự đặt ra vấn đề toàn cầu hóa của lực lượng sản xuất. Do vậy, để có thể tiếp tục vận dụng quan điểm của C.  Mác về lực lượng sản xuất, cần mở rộng nội hàm của khái niệm này không chỉ ở trong một nền sản xuất vật chất ở một quốc gia nhất định, mà còn ở trong một nền sản xuất vật chất trên phạm vi toàn thế giới. Điều đó góp phần làm cho chủ nghĩa Mác nói chung và quan điểm của C. Mác về lực lượng sản xuất nói riêng được bồi đắp bằng thực tiễn sinh động của thời đại ngày nay. Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận được vai trò to lớn của quá trình toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với sự phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển đó, một mặt, cung cấp những bằng chứng thuyết phục để chúng ta tiếp tục khẳng định những giá trị đúng đắn, bền vững của chủ nghĩa Mác; mặt khác, cũng đặt ra yêu cầu cần phải bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác nói chung và quan điểm của C. Mác về lực lượng sản xuất nói riêng. Việc bổ sung, phát triển đó không phải là “xét lại” chủ nghĩa Mác, cũng không phải là làm lu mờ chân giá trị của chủ nghĩa Mác, mà là làm cho những nội dung, quan điểm của chủ nghĩa Mác có thêm sức sống mới, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của giai đoạn hiện nay. Đó là việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi những người mác-xít phải kiên trì, có bản lĩnh và có trách nhiệm với hệ thống lý luận cách mạng và khoa học được coi là nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay./.

QUAN ĐIỂM CỦA C. MÁC VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

 

Lực lượng sản xuất là một khái niệm trung tâm của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Việc nghiên cứu rõ nội hàm của khái niệm này là cơ sở để hiểu toàn bộ sự vận động và phát triển của quá trình sản xuất vật chất trong lịch sử xã hội loài người. Vì vậy, C. Mác đã sớm nghiên cứu khái niệm lực lượng sản xuất. Trong các tác phẩm của mình, mặc dù ông không trực tiếp đưa ra khái niệm lực lượng sản xuất, nhưng nội hàm của khái niệm này đã được ông đề cập đến ngay từ những tác phẩm đầu tay. Năm 1845, khi viết tác phẩm “Về cuốn sách của Phi-đrích Li-xtơ “Học thuyết dân tộc về kinh tế chính trị học””, C. Mác đã phê phán quan điểm duy tâm của Ph. Li-xtơ về lực lượng sản xuất khi Ph. Li-xtơ cho rằng lực lượng sản xuất mang “bản chất tinh thần” và là cái vô hạn. Theo C. Mác, lực lượng sản xuất không phải là cái “bản chất tinh thần” nào đó, mà là những cái có sức mạnh vật chất. Từ quan điểm duy vật về đời sống của con người nói chung và về lực lượng sản xuất nói riêng, trong các tác phẩm tiếp theo, như “Hệ tư tưởng Đức”, “Sự khốn cùng của triết học”, “Lao động làm thuê và tư bản”, “Tiền công, giá cả và lợi nhuận”, đặc biệt là trong bộ “Tư bản”, nội hàm của khái niệm lực lượng sản xuất ngày càng được C. Mác và Ph. Ăng-ghen làm sáng tỏ và có nội dung sâu sắc hơn. Đó cũng là cơ sở khoa học cho việc nhận thức bản chất, động lực của sự phát triển lịch sử - xã hội thông qua hoạt động lao động của con người. Xuất phát điểm trong nghiên cứu của C.  Mác về lịch sử - xã hội là hoạt động sản xuất vật chất của con người hiện thực. Theo ông, bản thân con người bắt đầu được phân biệt với động vật là khi con người sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu của mình. Ông viết: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất”. Như vậy, tiền đề đầu tiên cho sự tồn tại của con người là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu. Đó là việc sản xuất ra chính đời sống vật chất của con người. Đồng thời với quá trình đó, con người cũng sáng tạo ra các mặt của đời sống xã hội. C. Mác viết: “Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta” Luận điểm này đã khẳng định tính triệt để trong quan niệm duy vật của C. Mác. Theo C. Mác, sản xuất vật chất là hoạt động đặc trưng của con người. Đó là hoạt động cơ bản nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người. Trong quá trình sản xuất vật chất, con người đồng thời có hai mặt quan hệ. Một mặt, con người quan hệ với tự nhiên, còn mặt khác, con người quan hệ với nhau. Mặt con người quan hệ với tự nhiên chính là biểu thị của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, không phải mọi quan hệ của con người với tự nhiên đều tạo ra lực lượng sản xuất (chẳng hạn như quan hệ tình cảm, quan hệ thẩm mỹ, quan hệ nhận thức...). Chỉ có những quan hệ mà trong đó sự tác động giữa con người với tự nhiên tạo thành của cải vật chất phục vụ những nhu cầu của họ, đồng thời giúp họ cải biến chính bản thân mình mới được gọi là những quan hệ tạo ra lực lượng sản xuất. C. Mác cho rằng, lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải biến giới tự nhiên. Khi tiến hành sản xuất vật chất, con người dùng những công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ những nhu cầu thiết yếu của mình. Cũng trong quá trình đó, con người nắm bắt được những quy luật của tự nhiên, biến giới tự nhiên từ chỗ hoang sơ, thuần phác trở thành “thế giới thứ hai” với sự tham gia của bàn tay và khối óc của con người. Sản xuất vật chất luôn thay đổi nên lực lượng sản xuất là một yếu tố động và là một quá trình luôn được đổi mới, phát triển không ngừng.

 

Lực lượng sản xuất tạo ra tiền đề vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nó cũng là tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tiến bộ xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Chính vì vậy, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C. Mác khẳng định: “Lịch sử chẳng qua chỉ là sự tiếp nối của những thế hệ riêng rẽ trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả những thế hệ trước để lại; do đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục cái hoạt động được truyền lại, trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặt khác, lại biến đổi những hoàn cảnh cũ bằng một hoạt động hoàn toàn thay đổi”. Như vậy, theo quan điểm của C. Mác, có thể hiểu, lực lượng sản xuất là một khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định. Khi bàn đến lực lượng sản xuất, C. Mác cũng chỉ ra những yếu tố cơ bản cấu thành nên nó, đó là người lao động và tư liệu sản xuất. Theo ông, để cải biến giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất, người lao động cần phải có một sức mạnh tổng hợp. Trước hết, đó là sức mạnh của thể chất và trí tuệ - những yếu tố tạo nên khả năng lao động của con người. Ông viết: “Để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích cho đời sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ: tay, chân, đầu và hai bàn tay”. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì quá trình sản xuất vật chất vẫn chưa thể diễn ra. Ngoài bản thân chủ thể lao động, con người còn sử dụng những yếu tố khác, như “sử dụng những thuộc tính cơ học, lý học, hóa học của các vật, để tùy theo mục đích của mình, dùng những vật đó làm công cụ tác động vào các vật khác”. Những vật đó được C. Mác gọi là “khí quan”, giúp người lao động có khả năng nối dài đôi bàn tay và làm cho quá trình tác động vào giới tự nhiên trở nên có hiệu quả hơn. Nếu tư liệu sản xuất là điều kiện cần của quá trình sản xuất vật chất thì người lao động chính là chủ thể, đóng vai trò quyết định sự phát triển của sản xuất. Như vậy, theo C. Mác, nếu không có con người biết chế tạo, sử dụng công cụ lao động, tác động vào giới tự nhiên thì sẽ không có quá trình sản xuất vật chất. Ngoài việc bàn đến hai yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất, C. Mác cũng đề cao, coi trọng vai trò của khoa học đối với sản xuất vật chất nói chung và với sự phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng. Bằng những nghiên cứu khoa học, ông đã đưa ra một phán đoán: “Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến (wissen knowledge) đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến một mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy; những lực lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy; những lực lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức, mà cả như là những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thực”. Theo luận điểm nói trên của C. Mác, tri thức khoa học đã làm cho tư bản cố định như nhà xưởng, máy móc được dùng trong sản xuất chuyển hóa đến một mức độ nhất định nào đó thì trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nói cách khác, tri thức khoa học được ứng dụng, được vật hóa thành máy móc, thành công cụ sản xuất và được người lao động sử dụng trong quá trình sản xuất, do đó, nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Điều kiện để tri thức khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đã được C. Mác khẳng định như sau: “Sự phát triển của hệ thống máy móc trên con đường ấy chỉ bắt đầu khi nền đại công nghiệp đã đạt được một trình độ phát triển cao hơn và tất cả các môn khoa học đều được phục vụ tư bản, còn bản thân hệ thống máy móc hiện có thì có những nguồn lực to lớn. Như vậy, phát minh trở thành một nghề đặc biệt, và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích”. Như vậy, đứng trên lập trường duy vật về lịch sử, C. Mác khẳng định, lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong việc tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất. Do đó, lực lượng sản xuất cũng chính là thước đo đánh dấu sự phát triển hoạt động sản xuất vật chất của con người ở mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định./.