Chủ
tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người,
là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch
sử”. Vì vậy, “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta
trong công việc thực tế”. Nghiên cứu lý luận là quá trình đi sâu tìm tòi, nắm bắt
cái tất yếu, bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng cùng mọi quan hệ phức tạp
ẩn giấu đằng sau các sự vật, hiện tượng đó. Lý luận mà Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt
đời nghiên cứu, phát triển là lý luận về cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi
áp bức, bất công, nghèo nàn và lạc hậu, đưa giai cấp công nhân, nhân dân và
toàn dân tộc đi tới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Những chỉ dẫn
của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghiên cứu và phát triển sáng tạo lý luận được thể
hiện rõ nét trên ba phương diện: 1- Đặc biệt đề cao, coi trọng vai trò của lý
luận đối với cách mạng, với Đảng, với mỗi con người, nhất là cán bộ, đảng viên;
2- Quan tâm, thường xuyên đề ra nội dung, phương pháp nghiên cứu lý luận và yêu
cầu phải không ngừng kiên định và phát triển sáng tạo lý luận để đáp ứng thực
tiễn cách mạng; 3- Bản thân là một nhà lý luận thực hành lỗi lạc, Người dày
công nghiên cứu, vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách triệt để,
sáng tạo, phù hợp với thực tiễn nước ta. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã giành được
nhiều thắng lợi vĩ đại, trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng cách mạng
trên toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, bản chất của nghiên cứu lý
luận là quá trình tìm tòi, phân tích kỹ lưỡng, thấu đáo những học thuyết tư tưởng
của dân tộc và nhân loại; khẳng định giá trị, tính đúng đắn của chúng trong thực
tiễn để rút ra những tri thức, hiểu biết mới và vận dụng sáng tạo những tri thức
đó vào giải quyết những vấn đề của hiện tại và tương lai. Người nhiều lần căn dặn:
“Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm
nhuần triệt để quan điểm của V.I. Lê-nin: “Chúng ta không hề coi lý luận của
Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta
tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ
nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu
đối với cuộc sống”. Bằng phương pháp tiếp cận khoa học, sáng tạo, bám sát thực
tiễn của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt, luôn trung thành với những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; mặt khác, vận dụng sáng tạo các
nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người đã bổ sung nhiều luận điểm
góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lê-nin; đồng thời, xây dựng được một
hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc phù hợp về thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nghèo nàn, lạc hậu. Những
thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đã chứng tỏ giá trị thực
tiễn của việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở
Chủ tịch Hồ Chí Minh và là bài học quý báu cho Đảng trong thời hiện đại. Trước
hết, về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải
phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển thêm một
bước nhận thức lý luận khi cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa có quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn
phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc
có thể giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng
chính quốc. Trước đó, C. Mác cho rằng, cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng
lợi ở những nước tư bản phát triển. Còn V.I. Lê-nin nhận định, cách mạng vô sản
có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí là một nước riêng lẻ của chủ
nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên
minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa.
Thứ hai, Chủ tịch
Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào việc giải
quyết vấn đề dân tộc và giai cấp tại Việt Nam. Xuất phát từ mâu thuẫn chi phối
toàn bộ cục diện cách mạng nước ta lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc
Việt Nam với thực dân xâm lược Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định con đường
cách mạng vô sản tại Việt Nam phải là cách mạng giải phóng dân tộc rồi mới đến
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính cương vắn tắt của Đảng năm 1930, do Nguyễn Ái
Quốc khởi thảo, đã nêu: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Nhận thức lý luận đó hoàn toàn phù hợp với
yêu cầu của cách mạng Việt Nam, cũng chính là nguyện vọng của quảng đại quần
chúng nhân dân.
Thứ ba, Chủ tịch
Hồ Chí Minh phát triển một cách sáng tạo lý luận Mác - Lê-nin về đảng cộng sản
vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở nước ta, một đất nước thuộc địa nửa
phong kiến, tuyệt đại đa số là nông dân làm nông nghiệp, vì vậy, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã xác định, Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại
biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Người
đã dày công xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức
và đạo đức; quan tâm giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội
ngũ cán bộ, đảng viên. Quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Ðảng
và mỗi cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật
trung thành của nhân dân”.
Thứ tư, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận Mác - Lê-nin về tập hợp, xây dựng lực lượng
cách mạng. Người khẳng định, động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước
ta là đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân -
trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển
sáng tạo tư tưởng về liên minh công - nông của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để quy tụ,
tập hợp sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của các lực lượng yêu nước với thế
trận chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập,
tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ năm, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin vào việc xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân dựa trên nguyên tắc pháp quyền ở Việt Nam. Theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết
lập nên nền chuyên chính vô sản. Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát
triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo về nhà nước kiểu mới: Tất cả mọi quyền
lực đều là của nhân dân, một nhà nước của nhân dân, chính quyền từ xã đến chính
phủ Trung ương do nhân dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do nhân dân tổ
chức nên, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật,
thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Thứ sáu, Chủ tịch
Hồ Chí Minh lấy quan điểm Mác - Lê-nin làm nền tảng để phát triển tư duy, lý luận
về văn hóa, đạo đức và quan hệ quốc tế trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Người
chủ trương xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa có tính dân tộc với ba mặt
thống nhất: Củng cố, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống; khắc phục những
thiếu hụt của văn hóa truyền thống và sáng tạo những giá trị của nền văn hóa
tương lai. Về đạo đức, Người đề cao con người với phẩm chất tốt đẹp: Trung với
nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư; tinh thần quốc tế trong sáng và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người
dân đều ra sức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, xây dựng con người mới xã
hội chủ nghĩa. Người cũng đặc biệt coi trọng vấn đề đoàn kết quốc tế để tranh
thủ nguồn lực bên ngoài; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để hoàn
thành sự nghiệp cách mạng nước nhà, đóng góp cho phong trào cách mạng thế giới.
Người khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân
thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh
về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội
trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hòa bình”. Đây là thông điệp
về hòa bình, hợp tác, hữu nghị, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản giữa các dân
tộc, thể hiện tư duy lý luận cách mạng và nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Những luận điểm
sáng tạo về mặt tư duy lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy sự nỗ lực tìm
tòi, khám phá không ngừng, bằng trí tuệ mẫn tiệp, kết hợp hài hòa giữa kinh
nghiệm thực tiễn với nghiên cứu, lý luận. Thực tiễn biến đổi không ngừng, chân
lý của ngày hôm qua không thể áp dụng cho hôm nay, vì vậy, lý luận phải không
ngừng vận động và phát triển để phù hợp với thực tiễn: “Lý luận không phải là một
cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung
bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét