Theo
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đoàn kết” và “dân chủ” có mối quan hệ biện
chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau. Người có tinh thần đoàn kết thực sự luôn biết
tôn trọng lợi ích của các thành viên khác trong tập thể; biết lắng nghe, hợp
tác, giúp đỡ các thành viên khác; có tinh thần cầu thị, tiếp thu ý kiến góp ý,
phê bình từ các thành viên khác; biết vận động những thành viên khác lấy lợi
ích của tập thể làm trung tâm; nhận thức rõ lợi ích cá nhân mình chỉ có được
khi trở thành một phần hữu cơ trong lợi ích của tập thể. Như vậy, có thể thấy
rõ, nếu mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo, có tinh thần đoàn kết
thực sự thì mới tập hợp được quần chúng thành một tập thể gắn bó với nhau,
trong đó quyền lợi của mỗi cá nhân đều được bảo đảm. Thực tiễn đã chứng minh, ở
bất cứ quốc gia - dân tộc nào, nếu đảng cầm quyền biết tôn trọng và phát huy tốt
quyền làm chủ của nhân dân, hay nói cách khác dân chủ được thực thi, thì ở đó,
có sự đồng thuận xã hội cao. Đây chính là biểu hiện đầy đủ nhất của sự đoàn kết.
Đại đoàn kết toàn dân tộc tạo thành sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta đi tới thắng lợi. Để làm được điều đó, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam phải được “tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi công việc
của đảng đều được toàn thể các đảng viên, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại
lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời tất cả những
người có trách nhiệm trong đảng, tất cả các ban lãnh đạo của đảng, tất cả các
cơ quan của đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị
bãi miễn”. Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở là nền tảng vững
chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có đoàn
kết và dân chủ thực sự, trong Đảng phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê
bình: “Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết
càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sửa chữa khuyết điểm,
phát triển ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự
phê bình và phê bình... Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực
hành dân chủ... Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng tiến bộ. Không phê
bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình”. Mỗi cán bộ, đảng viên khi thực
hiện tự phê bình cũng như được góp ý phê bình phải dũng cảm nhận khuyết điểm và
đề ra biện pháp sửa chữa khuyết điểm. Để thực tâm đoàn kết và thực hành dân chủ,
mỗi cán bộ, đảng viên phải thực tâm tự phê bình, “phải thật thà... có khuyết điểm
gì nói hết, không giấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm? Sai lầm
ấy sẽ thế nào? Dùng cách gì mà sửa chữa? Và phải kiên quyết sửa chữa. Tự phê
bình và sửa khuyết điểm có khi dễ, nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn, vì tự
ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác”. Một mặt, thực tâm tự phê bình là tự
mình nêu lên những hạn chế, khuyết điểm của bản thân để đồng chí, đồng nghiệp
giúp đỡ mình khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, đồng thời giúp cho người khác biết
để tránh. Mặt khác, người có can đảm, thực tâm tự phê bình thì mới thực tâm,
chân thành khi phê bình đồng chí, đồng nghiệp: “Phê bình là cốt giúp nhau sửa
chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm
trang... Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình
lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng””. Chỉ có tinh thần
đoàn kết thực sự thì mới có sự chân thành, xây dựng trong phê bình đồng chí
mình và có thái độ thực sự cầu thị khi tiếp thu phê bình từ đồng chí, đồng nghiệp.
Chỉ có môi trường dân chủ thực sự thì cán bộ, đảng viên mới thấy tự tin, yên
tâm để góp ý, phê bình khuyết điểm của đồng chí, của cấp trên, đồng thời mới có
sự tỉnh táo, bình tĩnh để nhận thức đúng đắn và chân thành đón nhận sự phê
bình, góp ý để tiến bộ. Thực tế cho thấy, để tự phê bình và phê bình thực sự có
hiệu quả, việc nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức có ý nghĩa quyết định.
Người đứng đầu cần dũng cảm, quyết liệt tự soi xét, phê bình bản thân mình, từ
công việc, đời sống cho đến trong các quan hệ gia đình, xã hội, không né tránh,
không giấu giếm; cần khiêm tốn, cầu thị khi tự đánh giá bản thân; có thái độ
nghiêm khắc với những thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế của bản thân mình. Chỉ
khi người đứng đầu gương mẫu tự phê bình thì mới tạo ra được động lực để cả cơ
quan, tổ chức tự phê bình một cách thực chất. Đồng thời, người đứng đầu cũng cần
nêu gương trong khi thực hiện phê bình đồng chí, cấp dưới của mình; phải xuất
phát từ thực tâm mong muốn đồng chí mình tiến bộ, hoàn thiện hơn; đặc biệt, cần
có phương pháp, cách thức phê bình sao cho người được phê bình thấy rõ được sai
sót, khuyết điểm và quan trọng hơn là thấy mình trưởng thành hơn về nhận thức,
qua đó có động lực khắc phục, sửa chữa sai sót để tiến bộ. Muốn nêu gương về
phê bình, người đứng đầu cần phải thực tâm lắng nghe ý kiến nhận xét của quần
chúng, đồng nghiệp và cấp dưới; từ đó, không chỉ thấy được khuyết điểm của mình
để tìm ra biện pháp khắc phục, mà còn rút ra được những phương pháp, cách thức
phê bình phù hợp, hiệu quả; vận dụng phương pháp phê bình hiệu quả để thực hành
cho bản thân và phổ biến trong cơ quan, tổ chức cho đồng chí, đồng nghiệp cùng
tham khảo. Tập thể lãnh đạo, người đứng đầu nêu gương tự phê bình và phê bình
chính là hạt nhân, là động lực để xây dựng và phát huy được tinh thần đoàn kết,
không khí dân chủ thực sự trong tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét