Lực
lượng sản xuất là một khái niệm trung tâm của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Việc
nghiên cứu rõ nội hàm của khái niệm này là cơ sở để hiểu toàn bộ sự vận động và
phát triển của quá trình sản xuất vật chất trong lịch sử xã hội loài người. Vì
vậy, C. Mác đã sớm nghiên cứu khái niệm lực lượng sản xuất. Trong các tác phẩm
của mình, mặc dù ông không trực tiếp đưa ra khái niệm lực lượng sản xuất, nhưng
nội hàm của khái niệm này đã được ông đề cập đến ngay từ những tác phẩm đầu
tay. Năm 1845, khi viết tác phẩm “Về cuốn sách của Phi-đrích Li-xtơ “Học thuyết
dân tộc về kinh tế chính trị học””, C. Mác đã phê phán quan điểm duy tâm của
Ph. Li-xtơ về lực lượng sản xuất khi Ph. Li-xtơ cho rằng lực lượng sản xuất
mang “bản chất tinh thần” và là cái vô hạn. Theo C. Mác, lực lượng sản xuất
không phải là cái “bản chất tinh thần” nào đó, mà là những cái có sức mạnh vật
chất. Từ quan điểm duy vật về đời sống của con người nói chung và về lực lượng
sản xuất nói riêng, trong các tác phẩm tiếp theo, như “Hệ tư tưởng Đức”, “Sự khốn
cùng của triết học”, “Lao động làm thuê và tư bản”, “Tiền công, giá cả và lợi
nhuận”, đặc biệt là trong bộ “Tư bản”, nội hàm của khái niệm lực lượng sản xuất
ngày càng được C. Mác và Ph. Ăng-ghen làm sáng tỏ và có nội dung sâu sắc hơn.
Đó cũng là cơ sở khoa học cho việc nhận thức bản chất, động lực của sự phát triển
lịch sử - xã hội thông qua hoạt động lao động của con người. Xuất phát điểm
trong nghiên cứu của C. Mác về lịch sử - xã hội là hoạt động sản xuất vật chất
của con người hiện thực. Theo ông, bản thân con người bắt đầu được phân biệt với
động vật là khi con người sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt phục vụ cho những
nhu cầu thiết yếu của mình. Ông viết: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới
có thể “làm ra lịch sử”. Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức
ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy, hành vi lịch sử
đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn nhu cầu ấy, việc sản xuất
ra bản thân đời sống vật chất”. Như vậy, tiền đề đầu tiên cho sự tồn tại của
con người là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu.
Đó là việc sản xuất ra chính đời sống vật chất của con người. Đồng thời với quá
trình đó, con người cũng sáng tạo ra các mặt của đời sống xã hội. C. Mác viết:
“Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính mỗi một
giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra
một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm
pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người
ta” Luận điểm này đã khẳng định tính triệt để trong quan niệm duy vật của C.
Mác. Theo C. Mác, sản xuất vật chất là hoạt động đặc trưng của con người. Đó là
hoạt động cơ bản nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và xã
hội loài người. Trong quá trình sản xuất vật chất, con người đồng thời có hai mặt
quan hệ. Một mặt, con người quan hệ với tự nhiên, còn mặt khác, con người quan
hệ với nhau. Mặt con người quan hệ với tự nhiên chính là biểu thị của lực lượng
sản xuất. Tuy nhiên, không phải mọi quan hệ của con người với tự nhiên đều tạo
ra lực lượng sản xuất (chẳng hạn như quan hệ tình cảm, quan hệ thẩm mỹ, quan hệ
nhận thức...). Chỉ có những quan hệ mà trong đó sự tác động giữa con người với
tự nhiên tạo thành của cải vật chất phục vụ những nhu cầu của họ, đồng thời
giúp họ cải biến chính bản thân mình mới được gọi là những quan hệ tạo ra lực
lượng sản xuất. C. Mác cho rằng, lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn
của con người trong quá trình cải biến giới tự nhiên. Khi tiến hành sản xuất vật
chất, con người dùng những công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên nhằm
tạo ra của cải vật chất phục vụ những nhu cầu thiết yếu của mình. Cũng trong
quá trình đó, con người nắm bắt được những quy luật của tự nhiên, biến giới tự
nhiên từ chỗ hoang sơ, thuần phác trở thành “thế giới thứ hai” với sự tham gia
của bàn tay và khối óc của con người. Sản xuất vật chất luôn thay đổi nên lực
lượng sản xuất là một yếu tố động và là một quá trình luôn được đổi mới, phát
triển không ngừng.
Lực lượng sản
xuất tạo ra tiền đề vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Nó cũng là tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tiến bộ xã hội trong mỗi giai đoạn lịch
sử nhất định. Chính vì vậy, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C. Mác khẳng định:
“Lịch sử chẳng qua chỉ là sự tiếp nối của những thế hệ riêng rẽ trong đó mỗi thế
hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất
cả những thế hệ trước để lại; do đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục cái hoạt động
được truyền lại, trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặt khác, lại
biến đổi những hoàn cảnh cũ bằng một hoạt động hoàn toàn thay đổi”. Như vậy,
theo quan điểm của C. Mác, có thể hiểu, lực lượng sản xuất là một khái niệm
dùng để chỉ sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra một
sức sản xuất vật chất nhất định. Khi bàn đến lực lượng sản xuất, C. Mác cũng chỉ
ra những yếu tố cơ bản cấu thành nên nó, đó là người lao động và tư liệu sản xuất.
Theo ông, để cải biến giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất, người lao động
cần phải có một sức mạnh tổng hợp. Trước hết, đó là sức mạnh của thể chất và
trí tuệ - những yếu tố tạo nên khả năng lao động của con người. Ông viết: “Để
chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích cho đời sống của
bản thân mình, con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ:
tay, chân, đầu và hai bàn tay”. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì quá trình
sản xuất vật chất vẫn chưa thể diễn ra. Ngoài bản thân chủ thể lao động, con
người còn sử dụng những yếu tố khác, như “sử dụng những thuộc tính cơ học, lý học,
hóa học của các vật, để tùy theo mục đích của mình, dùng những vật đó làm công
cụ tác động vào các vật khác”. Những vật đó được C. Mác gọi là “khí quan”, giúp
người lao động có khả năng nối dài đôi bàn tay và làm cho quá trình tác động
vào giới tự nhiên trở nên có hiệu quả hơn. Nếu tư liệu sản xuất là điều kiện cần
của quá trình sản xuất vật chất thì người lao động chính là chủ thể, đóng vai
trò quyết định sự phát triển của sản xuất. Như vậy, theo C. Mác, nếu không có
con người biết chế tạo, sử dụng công cụ lao động, tác động vào giới tự nhiên
thì sẽ không có quá trình sản xuất vật chất. Ngoài việc bàn đến hai yếu tố cơ bản
cấu thành lực lượng sản xuất, C. Mác cũng đề cao, coi trọng vai trò của khoa học
đối với sản xuất vật chất nói chung và với sự phát triển của lực lượng sản xuất
nói riêng. Bằng những nghiên cứu khoa học, ông đã đưa ra một phán đoán: “Sự
phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến
(wissen knowledge) đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình sống
của xã hội đã phục tùng đến một mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và
đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy; những lực lượng sản
xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy; những lực
lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức
tri thức, mà cả như là những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những cơ quan
trực tiếp của quá trình sống hiện thực”. Theo luận điểm nói trên của C. Mác,
tri thức khoa học đã làm cho tư bản cố định như nhà xưởng, máy móc được dùng
trong sản xuất chuyển hóa đến một mức độ nhất định nào đó thì trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp. Nói cách khác, tri thức khoa học được ứng dụng, được vật
hóa thành máy móc, thành công cụ sản xuất và được người lao động sử dụng trong
quá trình sản xuất, do đó, nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Điều kiện
để tri thức khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đã được C. Mác khẳng
định như sau: “Sự phát triển của hệ thống máy móc trên con đường ấy chỉ bắt đầu
khi nền đại công nghiệp đã đạt được một trình độ phát triển cao hơn và tất cả
các môn khoa học đều được phục vụ tư bản, còn bản thân hệ thống máy móc hiện có
thì có những nguồn lực to lớn. Như vậy, phát minh trở thành một nghề đặc biệt,
và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó
trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích”. Như vậy,
đứng trên lập trường duy vật về lịch sử, C. Mác khẳng định, lực lượng sản xuất
thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong việc tác động vào giới tự nhiên
để tạo ra của cải vật chất. Do đó, lực lượng sản xuất cũng chính là thước đo
đánh dấu sự phát triển hoạt động sản xuất vật chất của con người ở mỗi hình
thái kinh tế - xã hội nhất định./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét